Chuyện Nhân Quả Hay: Kiêu Ngạo Một Đời, Phúc Phần Cạn Lúc Nào Không Hay

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Có những người cả đời chưa từng làm việc đại ác,
chưa từng giết người cướp của hay mưu hại ai.
Nhưng chỉ vì một niệm kinh khi khởi lên trong thoáng chốc
mà tự tay hất đổ toàn bộ chén phúc phần của chính mình.
Người đời thường nghĩ họa lớn phải đến từ những tướng tội trời tru đất diệt.
Nhưng thực ra, vết nứt làm sụp đổ một cây cầu lớn
lại bắt đầu từ một kẽ hở mắt thường khó thấy.
Con đường công danh, phúc lộc của một đời người cũng vậy.
Trời đất có thể mở ra thanh thàng,
nhưng chỉ cần tâm tính lệch đi nửa tấc,
cánh cửa ấy sẽ tự động khép lại trong im lặng.
Câu chuyện của Nho sinh Lục Đình Chi ở Trấn Thanh Khê
chính là một vết xe đổ như thế.
Nơi ranh giới giữa một bậc hiền tài cứu đời
và một kẻ trắng tay chỉ cách nhau đúng một ngụm nước đổ xuống chân đồi.
Vào thời đại tuyên, tại Trấn Thanh Khê thuộc phủ Lăng Châu,
cái tên Lục Đình Chi từ lâu đã là niềm tự hào của cả một vùng sông nước.
Chàng mồ côi cha từ năm lên bảy,
lớn lên trong căn nhà tranh ba gian vách đất siêu vẹo nếp mình bên rạng tre giả.
Một tay lục mẫu thức khuya dậy sớm bên khung cửi,
đôi bàn tay gầy guộc chàng trịt vết nước nẻ vì ngâm nước nhuộm,
chắc chiêu từng đồng tiền lẻ để mua giấy bút cho con ăn học.
Đình Chi không phụ lòng mẹ.
Chàng thông minh đĩnh ngộ từ thủa nhỏ,
đọc sách một lần là nhớ,
làm văn tứ chữ tuôn trào như nước chảy mây trôi.
Mới 18 tuổi,
những bài văn sách của chàng đã khiến các bậc túc nho,
cử nhân trong phủ phải trầm trổ khen ngợi.
Văn của Đình Chi không chỉ bóng bẩy về câu từ,
mà còn có khí cốt thanh tao,
ẩn chứa hoài bão kinh bang tế thế.
Người trong trấn Thanh Khê,
mỗi khi đi ngang qua ngõ nhà họ lục,
nghe tiếng đọc sách trầm bổng hòa
cùng tiếng lách cách của Thôi Đưa,
ai nấy đều tấm tắc bảo nhau rằng,
mảnh đất nghèo này sắp đón một vị trạng nguyên.
Ẩn sâu dưới vẻ ngoài lễ độ,
khiêm nhường của chàng nho sinh nghèo
là một khát khao đổi đời cháy bỏng.
Đình Chi thương mẹ cả đời cuối đầu
trước những cái nhìn thương hại của xóm giềng,
thương manh áo vá chẳng vá đục
mà bà mặc suốt bao mùa đông giá zét.
Chàng tự nhủ,
mình phải đỗ đạt thật cao,
phải bước lên đài cao danh vọng
để dạng dỡ tông môn,
để không một ai còn có thể coi thường
nguồn gốc bần hàn của mẹ con chàng.
Thế nhưng,
lời khen tụng của thế gian
giống như thứ rượu ngọt ngấm dần qua năm tháng.
Mỗi lần được các bậc trưởng bối vỗ vai tán thưởng,
mỗi lần nhìn thấy ánh mắt kính nề
của chúng bạn đồng môn,
trong lòng Đình Chi lại nhe nhó một ý niệm rất mỏng.
Mình sinh ra vốn đã khác biệt
với những kẻ tầm thường xung quanh.
Ánh mắt chàng khi nhìn những người bạn chậm hiểu,
trong các buổi đàm đạo văn trương
đã dần mất đi sự đồng cảm thừa ban đầu,
thay vào đó là một nét
nhìn hơi chách lên trên,
lạnh nhạt và xa cách.
Một sự thay đổi quá đỗi tình vị
mà ngay cả chính bản thân chàng
cũng không hề hay biết.
Mùa xuân năm ấy,
trước kỳ thi hương chừng 3 tháng,
theo lệ thường của các sĩ tử Đất Lăng Châu,
Lục Đình Chi sắm sửa một gói trà mập
cùng vài nén nhang thơm
tìm đến miếu Bích Vân ở Dìa Trấn.
Ngôi miếu cổ nép mình dưới dặng thông giả,
tường vôi đã chóc lở
để lộ lớp gạch đỏ sẫm nhuốm rêu phòng.
Nơi đây, thờ Bích Vân Nương Tử
tương truyền là một nữ tú tài đức hạnh
vẹn toàn từ chiều trước.
Từng liều mình can giáng quan trên
để giữ lại đê điều cho dân nghèo rồi thác oan,
hồn thiêng thường hiển linh
nâng đỡ những kẻ có trí ngay thẳng.
Trước sân miếu,
một cây mai già gầy gục đã qua mùa rộ,
chỉ còn lác đác vài cánh hoa đỏ
thẫm vương lại trên cảnh khô.
Một cơn gió núi thoảng qua
cuốn theo mùi hương trầm diệu diệu,
một cánh mai đỏ trầm trầm rơi xuống,
khẽ chạm vào tà áo thô của chàng.
Đình chi bước vào tránh điện mờ mịt khói xương,
thành kính dân hương rồi quỳ dạp xuống chiếu cói.
Chàng chắp tay,
khấn nguyện bằng tất cả lòng giả
trong sạch nhất của tuổi đôi mươi.
Không xin giàu sang phú quý,
chỉ xin cho tâm trí sáng suốt,
ngồi bút vững vàng.
Nếu mai này có bước lên trốn quan trường,
thì có thể dùng chút tài mọn ấy
để phụng dưỡng mẹ già
và che trở cho kẻ nghèo hèn.
Khói hương cuộn tròn trong tĩnh lặng.
Giữa không gian bảng lạng không một tiếng động,
hai mí mắt đình chi bỗng chiếu nặng.
Chàng không ngủ,
nhưng tâm thức như bị hút vào một khoảng xương mù mông lung.
Dưới góc mai rực rỡ ngập tràn sắc hoa đỏ thấm trong mộng cảnh,
một bóng nữ tử khoác trường bào màu lam nhạt,
nét mặt thanh tú mà uy nghiêm khôn tả,
từ từ xuất hiện.
Nàng nhìn thẳng vào mắt chàng,
giọng nói như tiếng ngọc khánh
vang vọng giữa thùng lũ sâu.
Lục đình chi,
người mang căn lành nhiều đời,
lại có trí hiếu thảo với mẹ già.
Kỳ thi này,
bảng vàng ắt sẽ đề tên cử nhân.
Đình chi nghe thấy tim mình đập rồn một nhịp,
niềm vui sướng nghẹn ứ nơi cổ họng.
Nhưng chưa kịp cuối đầu tả ơn,
bóng áo lam đã bước thêm một bước,
giọng trầm xuống như tiếng sấm sa.
Sau này giữ trọn được bản tâm,
người còn có duyên nhận ấn quang lệnh tại đất Ninh Lạc.
Nhưng hãy nhớ kỹ,
phúc của con người đến từ Đức,
không đến từ Tài.
Trời đất mở đường cho kẻ có lòng chắc ẩn,
nhưng chỉ cần một niệm lệch lạc khởi sinh,
con đường bằng phẳng ấy
sẽ tự hóa thành vực sâu.
Một cơn gió thốc mạnh
làm tàn mai bay tán loạn.
Đình chi giật mình bừng tỉnh,
mồ hôi ướt đẫm sau lưng.
Trong điện vắng tanh,
nén nhang trên bàn thờ vừa tàn tới chân,
để lại một đốm than đỏ le lói.
Ngoài hiên,
giáng chiều đã nhuộm vàng sườn núi.
Chàng đứng dậy,
tay chân vẫn còn run dẩy
vì kinh sợ sen lẫn một cảm giác ngây ngất khó tả.
Hai chữ,
làm quan như một hạt mầm rực rỡ,
rơi thẳng vào mảnh đất tâm tư của chàng thư sinh nghèo.
Trở về từ miếu Bích Vân,
đình chi mang theo một tâm thế hoàn toàn khác
bước vào trường thi.
Chàng không còn cảm giác lo lắng,
bồn trồn như bao sĩ tử khác
đang vò đầu bứt tai bên ngọn đèn dầu.
Mỗi trang sách lật qua,
mỗi bài luận viết dở,
trong đầu chàng luôn luôn văng vẳng
lời phán định của vị nữ thần.
Sự điềm tĩnh ấy,
biến thành những nét bút sắc xảo,
rứt khoát trên tờ giấy thi trắng muốt.
Ngày sướng danh tại phụ đường,
tiếng chiêng đồng vang lên từng hồi xé toang
bầu không khí ngột ngạt.
Giữa biển, người chen trúc nghẹt thở,
tên của lục đình chi được sướng lên
ở tốc đầu bảng cử nhân.
Tin mừng,
theo chân người cưỡi ngựa chạy về trấn thanh khê,
nhanh như gió thoảng.
Cả con ngõ nhỏ,
vốn quanh năm im ắng,
bỗng chốc rộn ràng tiếng trống,
tiếng pháo tép lẹt đẹp.
Những người hàng xóm trước đây
từng ngoảnh mặt làm ngơ,
nay lũ lượt mang giỏ trứng gà,
bầu rượu sang trúc tụng.
Lục mẫu đứng bên bậu cửa,
đôi tay dun dậy gạt nước mắt
lăn dài trên gò má nhanh nheo.
Nhìn con trai trong bộ áo dài xanh mới may,
mạng ngỡ như một giấc chiêm bao.
Đêm hôm ấy,
khi dân làng đã ra về hết,
chỉ còn lại ánh đèn dầu leo lét
trên chiếc bàn gỗ mọc mạc.
Đình Chi ngồi nhìn chén trà nguội ngắt trong tay,
lắng nghe tiếng dế dỉ dạ ngoài bờ rậu.
Niềm vui đỗ đạt dân lắng xuống,
nhường chỗ cho một sự sắc tín vững chắc như bàn thạch.
Lời báo mộng đã đúng nửa phần đầu,
vậy thì nửa phần sau.
Chiếc ghế quan chi huyện Ninh Lạc oai về,
chẳng qua chỉ là chuyện sớm muộn.
Chàng khẽ mỉm cười một mình trong bóng tối,
ngón tay gõ nhẹ lên mặt bàn,
theo nhịp điệu của sự đắc ý.
Trong lịch sử của chàng cử nhân trẻ,
bắt đầu có những sợi tơ biến đổi vô hình.
Trong những buổi đàm đạo văn trương với nhóm đồng môn
ở quán trà đầu trấn,
Đình Chi không còn ngồi lắng nghe như trước.
Chàng nói nhiều hơn, thích giảng giải,
thích dùng những từ ngữ sắc nhọn
để bẻ gáy lượn điểm của người khác.
Khi một người bạn học thuở hàn vi ngập ngừng
đưa ra một bài văn tầm đắc,
Đình Chi chỉ liếc mắt, nhìn qua vài dòng đầu
rồi đặt nhẹ chiếc chén xuống bàn,
buông một câu hờ ứng.
Văn khí nông cạn thế này,
đem đi thi chỉ tổ,
làm trò cười cho quang giám khảo.
Người bạn đỏ mặt tía tai thu bài lại,
rồi lặng lẽ lui ra.
Đình Chi vẫn thả nhiên
nâng chén trà nhấp một ngũm,
không hề nhận ra những người xung quanh
đã bắt đầu nhìn chàng
bằng những ánh mắt e rẻ, ái ngại
và dần dần giữ một khoảng cách xa xôi.
Tin báo ngày hội thi
tại Kinh thành Thịnh An được niêm yết
khắp các huyện phủ.
Mùa thu năm ấy,
Trấn Thanh Khê lại một fan rộn giá
khi chuẩn bị tiễn tân cử nhân
Lục Đình Chi lên đường ứng thí kỳ thi hội.
Đây mới chính là cánh cửa
thực sự để bước chân vào triều đình,
quyết định phẩm hàm
và quan lộ cả đời.
Tối trước ngày lên đường,
trong giang nhà tranh vách đất,
ngọn đèn dầu hạt lạc tù mù tỏa ra
làn khói mỏng cây nồng.
Lục mẫu ngồi cặm cụi bên chiếc trọng tre,
đôi bàn tay gầy gục, trăng chịt
những vết chai sần cẩn thận
gấp từng manh áo vải thô,
nhét thêm vài đồng bạc vụn gói trong mảnh rẻ rách
vào đáy tay nải của con trai.
Bà ngẳng lên,
nhìn Đình Chi đang đứng trước gương
đồng chỉnh lại vành khăn the.
Dưới ánh dầu leo lét,
gương mặt chàng thư sinh trẻ tuổi
dạng ngời vẻ kiêu hãnh, cầm khẽ nâng cao,
khắc hẳn cậu thiếu niên ngày ngày
cúi đầu, gánh nước, giúp mẹ năm nào.
Lục mẫu khẽ thở dài
một tiếng rất nhẹ, đặt manh áo xuống gối.
Đình Chi à,
con đỗ cử nhân, cả họ mừng,
mẹ cũng mừng rơi nước mắt.
Nhưng đường dài vạn rậm vào kinh,
cái cần mang theo không chỉ có sách vở,
mà là cái tâm biết cúi đầu.
Đình Chi quay lại,
khóe môi khẽ nhách lên nụ cười tự tin.
Mẫu thân đa nghi quá rồi,
con rùi mải kinh sử mười mấy năm,
văn tài của con khắp phủ Lăng Châu ai cũng nể phục.
Chuyến này vào kinh,
chẳng qua chỉ là đi nhận lấy những gì
vốn thuộc về mình mà thôi.
Bà Láo nhìn thẳng vào mắt con,
ánh mắt đùng đục chất chứa
nỗi âu lo khó tả.
Cái chung nước dù có làm bằng gốm quý đến đâu,
nhưng nếu đã nứt một đường ở đáy,
thì sớm muộn nước cũng chảy cạn.
Con người ta cũng vậy,
tài giỏi đến mấy mà lòng bắt đầu
thấy mình cao hơn thiên hạ,
thì chính cái sự cao hơn ấy,
sẽ kéo con ngã xuống bùn sâu.
Đình Chi bước lại gần,
vỗ nhẹ lên vai mẹ,
giọng điệu mang theo vẻ dỗ danh,
chiếu lệ.
Mẹ cứ yên tâm ở nhà tịnh dưỡng,
lời báo mộng ở Miếu Bích Vân
mẹ cũng biết rồi đấy,
con đường phía trước của con đã được định sẵn,
trời cao ắt có mắt.
Bà Láo không nói thêm lời nào nữa,
đôi môi khô nứt của bà mím chặt lại,
ngón tay run dày mân mê vạt áo vá.
Giang nhà chìm vào một khoảng lặng nặng nề,
chỉ còn tiếng bắc đèn trái lách
tách trong đêm muộn.
Đoàn Sĩ Tử Đất Lăng Châu
cùng nhau dòng ruổi ngựa xe tiến về
Kinh Đô Thịnh An.
Càng đi xa khỏi vùng sông nước, trù phú,
cảnh vật hai bên đường càng biến đổi
đến giợn người.
Khi đoàn người tiến vào địa phận huyện Ninh Lạc,
cái nắng gây gắt, như thiêu,
như đốt chụp xuống mặt đất.
Cây trỏ chết rũ rưỡi,
những cánh đồng khô nẻ toác ra
từng dãnh sâu hóm như những vết chém
chẳng chịt trên da thịt trần gian.
Gió thốc qua rát bỏng,
chỉ cuốn theo lớp bụi đất đỏ mù mịt.
Suốt chặng đường dài,
giếng làng nào cũng trơ đái,
những con mương cạn khô trờ trọi đá cuội.
Người dân Ninh Lạc
đói rách, mặt mày xám wet,
ai nấy ôm khư khư bên mình
một chiếc bình gốm hay vỏ bầu rỗng,
bước đi lão đảo như những bóng ma
giữa trưa hè nung lửa.
Đến giữa ngõ, đoàn rừng chân nghỉ
bên một gò đất trơ trụi dưới bóng dâm
còi cọc của một gốc cây khô.
Cổ họng, đình chi bỏng rát
như có than hồng thiêu đốt,
túi ra đựng nước của chàng đã cạn kiệt từ lúc nào.
Giữa lúc đang bực dọc,
chàng bỗng thấy một lão nông
từ triền dốc chậm dãi bước tới.
Ông láo lưng còng dạp xuống,
chiếc áo vải nâu bạc phích
ướt đẫm mồ hôi muối bám trắng lưng,
trên tay nâng niu một chiếc bầu gỗ
tiện cũ kĩ mòn vẹt các góc.
Đình chi liền rào bước tới gần,
chắp tay giữ vẻ lễ độ ngoài mặt.
Lão trượng,
vãn sinh đi đường xa quá khát,
liệu có thể xin một ngụm nước làm phúc được chắn?
Láo nông họ khương dừng bước,
đưa mắt nhìn chàng thư sinh áo dài phẳng phiếu.
Thoáng chút ngập ngừng,
hiện lên trong đôi mắt trúng sâu mệt mỏi,
nhưng rồi nhìn thấy
đôi môi khô rộp của đình chi,
ông láo khẽ thở dài,
hai tay chạy trân trọng nâng bầu nước đưa sang.
Công tử uống đi.
Nước này, láo phải đội nắng đi bộ hơn 15 dặm,
sang làng bên chắc từng giọt dị
từ kẽ đá mang về.
Không có nhiều,
nhưng đủ để giải cơn khát lúc này.
Đình chi đón lấy chiếc bầu gỗ,
ngửa cổ, uống một hơi dài.
Dòng nước mát lạnh chảy qua cuống họng khô cháy
như mang lại nguồn sinh khí mới.
Chàng thở hắt ra một hơi sảng khoái.
Thế nhưng, khi hạ chiếc bầu gỗ xuống,
đình chi liếc thấy
đôi giày vải lụa xanh của mình bị phủ
một lớp bụi đất đỏ, dày cộp dơ bẩn.
Trong bầu vẫn còn lại
chừng nửa bát nước trong.
Chàng mãi mãi suy nghĩ,
đình chi nghiêng tay thản nhiên
dốc ngược chiếc bầu gỗ xuống.
Tách, tổ tổ.
Dòng nước trong vắt quý giá
không chảy vào miệng người đói khát,
mà tuôn xối xả xuống nền đất nẻ,
cuốn trôi lớp bụi bẩn
bám trên mũi dày của chàng thư sinh.
Đình chi còn nhắc chân lên,
vẩy thêm vài giọt cuối cùng lên cổ chân
cho mát mẻ, xem như một việc
làm hết sức bình thường của kẻ phong lưu.
Không gian xung quanh bỗng chốc đông cứng lại.
Láo nông họ khương
đứng chết chân tại chỗ.
Đôi mắt già nua trợn trừng nhìn dòng nước
quý thấm nhanh vào lòng đất cát khô khốc
rồi biến mất không còn dấu vết.
Toàn thân ông
run lên bần bật, rọng nghẹn lại.
Công tử!
Người! Người có biết mình vừa làm gì không?
Thứ nước đó,
cả nhà lão trong cậy,
cháu lão ba ngày nay sốt ly bì chỉ dám nhấp từng giọt
trên đầu ngón tay.
Người lại đem đi rửa bụi dày ư?
Bị trách cứ trước mặt bao nhiêu sĩ tử đồng hành
lòng tự ái của tân cử nhân
bùng cháy dữ dội.
Đình chi câu mày, gạt phát tay áo,
cất giọng lành tanh đầy trịch thưởng.
Nước ông đã cho ta thì thuộc về ta.
Ta dùng thế nào là quyền của ta?
Ông chỉ là một láo làm ruộng rốt nát
dựa vào đâu mà dám đứng đây dạy đời
một kẻ sĩ.
Ta là cử nhân Phủ Lăng Châu,
vào kinh át đỗ tiến sĩ mai sau còn có mệnh
làm quan chi huyện ở chính cái đất Ninh Lạc này
để cai quản các người.
Hôm nay ông vô lễ, hãy nhớ kỹ lấy mặt ta.
Lão nông nhìn sâu vào đôi mắt hành học của đình chi
nỗi giận dữ ban đầu bỗng chuyển thành
một sự bi thương tột củng.
Ông chậm chậm cúi người nhặt lại
chiếc bầu gỗ rỗng không,
cất giọng run dẩy mà đánh thép.
Người có học như công tử mà về đây làm quan
thì dân Ninh Lạc chúng tôi
thả chết khát còn hơn.
Nói xong, lão nông quay lưng bước đi
bóng lưng còng đổ dài
trên mặt đất nứt nẻ,
siêu vẹo như sắp ngã.
Những người bạn đồng môn đứng nhìn từ xa
đều cúi đầu im lặng,
không một ai nói đỡ cho chàng một lời.
Không khí oi ả bỗng chốc
trở nên lạnh léo lạ thường.
Đoàn người rốt cuộc cũng đặt chân
tới kinh thành thịnh an sau nhiều ngày dòng giã.
Kinh đô đón tiếp sĩ tử bốn phương
bằng vẻ hoa lệ, phồn hoa rực rỡ,
hàng quán san sát, cờ hoa dập bóng.
Trước cổng trường thi dựng
bằng gỗ lim bề thế,
từng tốp nho sinh khắp các chấn phủ tụ hội,
ai nấy đều mang vẻ mặt căng thẳng,
bồn trồn, tay ôm chặt tay nải sách vỡ
như ôm lấy sinh mệnh cả một đời.
Giữa biển người chen trúc ấy,
lục đình chi dạo bước
với một phong thái hoàn toàn cách biệt.
Chàng không thức trắng đêm
bên đèn dầu ôn lại từng điển tích
như những người cùng trò.
Chàng chỉ lật qua loa vài trang sách
rồi chắp tay sau lưng
ngắm trăng ngoài hiên quán.
Trong thâm tâm chàng,
trường thi này không phải là nơi khảo thí
thử thách sống còn,
mà chỉ là một thủ tục bắt buộc
để bước lên chiếc ghế quan chi huyện Ninh Lạc
đã được định sẵn từ trước.
Ngày vào trường,
hàng ngàn gian lều nhỏ ngăn nắp trải dài
trong không gian im mắng đến ngột ngạt.
Khi đề thi luận về đạo trị quốc an dân
được phát xuống,
đình chi khẽ mỉm cười đắc ý.
Ngoài bút lông thỏ lướt trên giấy,
tuyên thoan thoát, mực đen ống ả tuôn trào.
Nhưng càng viết,
câu chữ của chàng càng rẽ sang một hướng khác.
Từng đoạn văn biến thành nơi phô trương
từ ngữ cầu kỳ,
xáo rỗng,
dùng những điển tích xa xưa
để gián tiếp khẳng định tầm vóc vượt trội
của kẻ sĩ bề trên đối với thứ dân ngu mội.
Chàng viết với sự tự tin mù quáng rằng
đây là áng thiên cổ hùng văn
chấn động triều đình.
Ba ngày thi trôi qua như một cái chớp mắt.
Những ngày chờ bảng
là chuỗi ngày dài đăng đắng
của bao kẻ mất ăn mất ngủ.
Riêng đình chi vẫn ung dung
dạo phố thường trả.
Đôi khi còn cùng vài người quen
bàn chuyện bổ nhiệm chức vị sau ngày Vinh Quy bái tổ.
Ngày xứng danh
tấm bảng vàng khổng lồ được niêm yết
trước cổng ngõ môn.
Tiếng pháo nổ vang trời, tiếng hò reo sen lẫn,
tiếng khóc nấc của kẻ đỗ người trượt
tạo nên một cảnh tượng hỗn loạn.
Đình chi mỉm cười tự tin
thong thả bước đến trước bảng vàng,
ánh mắt lướt nhanh qua hàng ngũ giáp bảng,
rồi xuống ất bảng,
rồi đến tận những cái tên cuối cùng
của hàng tam giáp.
Không có.
Chàng bảng hoàng dò lại từng nét chữ một lần nữa,
hai mắt hoa lên.
Hàng chữ đen trên nền giấy vàng
nhảy múa treo ngươi, nhưng tuyệt nhiên
ba chữ lục đình chi không hề xuất hiện
ở bất kỳ góc nào.
Lục huynh? Huynh cũng không có tên sao?
Một người đồng hương khẽ
thì thầm bên tai.
Đình chi đứng chết lặng giữa dòng người
chen lấn sô đẩy, cảm giác như có
một bàn tay vô hình bóp nghẹt lấy lồng ngực.
Mọi âm thanh
rộn rã xung quanh, bỗng chốc lùi xa.
Chỉ còn lại sự trống rỗng bút giá
đến tận xương tủy.
Chàng không phải đỗ thấp,
mà là trượt trắng một cách nhục nhã.
Bầu trời kinh đô rực rỡ nắng vàng
bỗng chốc tối sầm lại trước mắt,
chặn đường từ kinh thành, trở về
phủ lăng trâu dài đằng đẳng
và câm lặng như một đám tăng.
Đình chi không đi cùng đoàn người
năm trước, chàng lầm lũi,
đi một mình, chiếc tay nải trên vai
chĩu nặng như đeo đá tảng.
Những ánh mắt giò xét, tiếng
xì xào to nhỏ của người đời sau lưng
như những mũi kim đâm nát lòng tự tôn.
Từ nỗi bàng hoàng
ban đầu, trong lòng chàng
dâng lên một sự ốt ức ngút trời
rồi dần biến thành ngọn lửa oán hận
thần linh lửa dối.
Đêm về tới trấn Thanh Khê, trời đã
khuya khoắt. Đình chi không
về căn nhà tranh nơi người mẹ già đang
mòn mỏi ngóng trông, mà cắm đầu chạy
thẳng lên ngọn đồi phía sau thị trấn
lao vào miếu bích vần.
Gió đêm giít qua từng khe cửa gỗ
cũ kĩ, dách nát.
Điện thờ tối ôm, chỉ có một ngọn nến
tàn le, lói tỏa ra ánh sáng
đỏ quạch ma mỉ.
Đình chi đứng xững trước tượng thần,
không thắp nhang, không cúi đầu, bàn tay
dun dày chỉ thẳng lên hương án,
cất giọng khàn đặc gào thét.
Người đã hứa cho ta đỗ đạt, hứa cho ta
làm quan đất ninh lạc. Vì sao
Nếu trời đất không định dùng ta,
cỡ sao năm xưa lại để ta đỗ cử nhân
để giờ đây chịu nỗi nhục nhã này?
Thần linh mà cũng tráo trở, thất tín
với người đời hay sao?
Một cơn gió lốc từ hư không thổi thốc
vào chính điện, làm cánh cửa gỗ
va đập chan chát vào vách tượng.
Bụi trò trên lư hương bay cuộn lên
thành từng vòng xoáy mở ảo.
Ngọn nến lung lay rồi bùng lên
ngọn lửa xanh lét, soi gió
một bóng nữ tử mặc trường bào màu lam nhạt
đang đứng sừng sững trên bậc thềm đá
dung nhan thanh tú nhưng đôi mắt
lạnh tựa băng tuyết ngàn năm.
Ngươi dám nói trời đất lừa dối ngươi?
Giọng nói của bích vân
nương tử vang lên không lớn
nhưng nặng nề như tiếng chuông
đồng rộng thẳng vào tâm can.
Đình chi cắn chặt môi
lồng ngực phập phòng nhưng không thốt nên lời.
Bóng nữ tử bước xuống một bước
tà áo lướt đi không một tiếng động.
Trời chưa từng thất tín
là chính ngươi đã tự tay
hắt đồ chén phúc của mình.
Ta đã từng dặn phúc đến từ Đức
không đến từ Tài.
Ngươi đi qua mảnh đất hạn háng ninh lạc
uống ngụm nước cứu mạng từ tay
một lão nông nhịn khát đi bộ 15 dặm
mới chắc chịu được.
Vậy mà ngươi lại đem phần nước còn lại
dốc xuống đất để rửa bụi
trên đôi giày vải dơ bẩn.
Đình chi toàn thân run giày kịch liệt
hình ảnh gò đất nứt nẻ
và dòng nước trong veo tuôn
xối xả bên mũi giày bỗng ùa về gió mồn một.
Kẻ chưa có nửa tấc quyền hành
trong tay mà đã mang giã tâm
ý thế hiếp dân, coi rẻ
giọt mồ hôi và mạng sống của người khác
thì trời đất nào dám trao cho ngươi
ấn tín phụ mẫu chi dân.
Ngươi trượt khoa cử không phải vì văn chương kém cõi
mà vì cái tâm của ngươi đã
thối dữa từ đáy chung rồi.
Lời phán vừa dứt, không gian bỗng tối
sầm lại. Đình chi
thấy đất dưới chân sụp đổ tan tành
kéo chàng rơi thẳng vào một khoảng không vô tận.
Khi mở mắt ra
chàng thấy mình đang đứng cô độc
giữa cánh đồng ninh lạc cằn cỗi
dưới bầu trời đỏ quạch như bị nung
trong lò lửa. Cổ họng chàng
khô cháy, nứt nẻ đến ưa máu
cảm giác khát đến cào xé
ruột gan. Chàng lào đảo bước đi
vấp ngá liên tục trên những vết nứt
sâu hấm. Bỗng phía trước
hiện ra căn nhà tranh vách đất ở thanh khề.
Chàng đẩy cửa bước vào
thấy lục mẫu đang quỳ gối ôm chiếc chùm
nước rỗng không, đôi môi bà khô
nước toát từng mảng máu khô cất tiếng
thèo thảo yếu ớt. Đình chi
mẹ khát quá con ơi
có còn giọt nước nào không con
Bên cạnh, đứa cháu nhỏ
của lão nông nằm co quắp
đôi mắt đởn lịm dần đi vì kiệt sức
Đúng lúc ấy, lão nông họ
Khương xuất hiện sau lưng, lặng lẽ
chia ra chiếc bầu gỗ đựng đầy nước trong vắt
Đình chi như kẻ chết đuối
vỡ được cọc, lao tới chộp lấy
chiếc bầu gỗ, run dẩy đưa lên miệng
Nhưng khi mép bầu vừa chạm vào
môi chàng, từ khắp mặt đất
nứt nẻ, bỗng vang lên hàng
ngàn tiếng than khóc ai oán
Đừng đổ xuống đất, đừng dẫm lên
mạng sống của chúng tôi, đừng
Đình chi kinh hoàng nhìn xuống
chân mình, dòng nước trong veo từ bầu gỗ
bỗng chốc khóa thành dòng máu đỏ
tươi tuôn sối xả xuống đôi dây vải lụa
nhuộm đỏ cả vặt áo chàng
Không! Đình chi hét lên
một tiếng, xé ruột xé gan rồi ngã
ngựa ra sau, ánh nắng sớm
mỏng manh như tơ len lõi qua ô cửa gỗ
mục nát của miếu Bích Vân
dọi nghiêng một vệt sáng mờ lên
nền gạch lạnh bút
Đình chi nằm co quắp dưới chân bệ thở
chiếc áo the xanh lấm lem cho bụi
và ướt đẫm mồ hôi lạnh
lồng ngực chàng vẫn phập phòng gấp gáp
sau cơn ác mộng kinh hoàng
hai bàn tay run dậy bấu chặt lấy gạch đá
rêu phong đến bật máu móng tay
chàng chống tay ngồi dậy, đầu óc
quay cuồng, gian miếu vắng lặng
đến giợn người, chỉ có mùi
gỗ mục ấm ướt và tàn nhang
đã ngội ngắt từ lâu
không có tiếng gào thét
không có dòng sông máu
nhưng cảm giác nghẹn ứ nơi lồng ngực
thì chân thật đến xé ruột
lần này không còn nỗi hậm hực
của kẻ bị tức đoạt công danh
không còn sự oán trách trời đất bất công
trong lòng chàng chỉ còn lại một cảm giác
trần trụi và nhức nhối
hổ thẹn
chàng nhớ lại nét mặt đau đớn đến câm lặng
của lão nông họ Khương
khi nhìn dòng nước quý thấm vào đất cát
nhớ lại ánh mắt thẫn thờ của đứa trẻ
khát lịm bên bờ giếng cản
chàng đã ngạo mạng nghĩ rằng
văn chương của mình cao hơn muôn người
nghĩ rằng danh phận tương lai
cho phép chàng dẫm đạp lên mồ hôi
và nước mắt của kẻ bần hàn
Thì ra, cái thứ kéo chàng
ngã xuống đáy vực không phải là sự
chớ treo của số phận
mà chính là sự vô cảm tàn nhẫn
được bọc trong chiếc áo sĩ diện
của kẻ có học
Đình Chi lào đào bước về nhà khi sương sớm
còn đọng trên bờ dậu
đầy cánh liếp tre bước vào
chàng thấy lục mẫu đang ngồi bên khung cửi
nhưng con thoi đã dừng lại từ lâu
đôi mắt bà trũng sâu, xưng đỏ
vì bao đêm thức trắng ngóng tin con
Nhìn thấy Đình Chi thất hần
áo quần sốc xách đứng trôn chân
ở bậu cửa, bà không hỏi một lời
về chuyện đố hay trượt
bà chỉ chậm dãi đứng dậy, bước đến gần
đưa bàn tay khô giáp chẳng chịt vết chai
chạm nhẹ vào vạt áo lấm lem
bụi đất của chàng
con về rồi
giọng bà khàn đặc
khẽ thở dài một tiếng dồn nén
bao nỗi âu lo
Đình Chi không kìm được nữa, chàng quỳ sụp xuống
lên đất ẩm, ôm lấy chân mẹ
tiếng khóc nghẹn ngào, vỡ hòa sau bao
ngày dồn nén
mẹ ơi, con sai rồi
con đã tự tay hủy hoại tất cả rồi
lục mẫu lặng lẽ nhìn con trai
đang run dậy dưới chân mình
bà không trách mắng, không khóc than
chỉ cúi xuống đặt bàn tay gầy guộc lên mái đầu chàng
giọng nói trầm tĩnh mà xót xa
biết mình sai là
cái phút cuối cùng còn xót lại
nhưng con à, xám hối không phải là quỳ
ở đây mà khóc
muốn tạ tội với trời đất, trước hết
phải đi tạ lỗi với người mà con đã làm tổn thương
hai ngày sau
Đình Chi gói ghé manh áo thô
từ biệt mẹ già, một mình quay trở lại
vùng đất khô hạn ninh lạc
không còn ngựa xe đưa đón
không còn tâm thế của một tân khoa cử nhân
ngẩn cao đầu ngạo nghẽ
chàng đi bộ dòng dã suốt nhiều ngày
đôi chân rột máu
vạt áo bạc phết vì nắng gió
cảnh xác ninh lạc vẫn cành cỗi như cũ
đất đai vẫn nứt toát từng rãnh sâu
dưới cái nắng trói trang
sau nhiều lần hỏi thăm
từng gốc đa, quá nước
cuối cùng Đình Chi cũng tìm thấy
lão nông họ Khương đang còng lưng dùng chiếc quốc
cùn đào bới một hố đất sâu hóm
giữa lòng mương cạn
hy vọng tìm thấy chút hơi ẩm còn xót lại
dưới tầng đất sâu
Đình Chi đứng lặng ở mép mương
nhìn tấm lưng còng gầy trơ sương sườn
ướt đẫm mồ hôi muối của ông láo
chàng không cất tiếng gọi
không biện minh chậm dãi bước xuống
lòng mương nứt nẻ rồi quỳ sụp gối
xuống lớp đất đá sắc nhọn
cộp chàng dập đầu thật sâu
sát mặt đất chán chạm vào lớp
bụi cát nóng bỏng
lão bá, kẻ bất tài lục Đình Chi
xin dập đầu tạ tội với lão trưởng
năm xưa là ta mù quáng coi rẻ
giọt nước cứu mạng của dân
lại buông lời ngông cuồng xị nhục người
hôm nay ta trở lại, không mong được thứ tha
chỉ xin được dùng chút sức mọn
để chuộc lại một phần tội lỗi
lão nông dừng quốc, ngầng đầu lên
nhìn chàng thư sinh áo vải
lấm lem đang quỳ dạp dưới chân mình
đôi mắt trũng sâu của ông láo
thoáng qua một nét kinh ngạc
gió nóng thốc qua lòng mương
cuốn theo từng cơn bụi mịt mù
lão Khương đứng lặng rất lâu
nhìn vệt máu dị ra nơi chán chàng thanh niên
rồi khẽ buông cán quốc xuống đất
lão không giận công tử
vì một bầu nước
lão chỉ đau lòng vì kẻ có học
lại không biết thương dân
người ta có thể tha thứ cho công tử
nhưng cái đói, cái khát của đất này
thì không tha cho ai cả
đình chi không rời đi, chàng ở lại
ninh lạc suốt 6 tháng dòng giã
chàng cởi bỏ chiếc áo dài the
sắn cao ống quần cùng người dân
trong vùng rầm mình dưới cái nắng thiêu đốt
đôi bàn tay vốn chỉ quen cầm bút
nâng chén trả, nay phồng rộp
dứa máu vì cầm sẹn
vác đá nạo vét lòng canh cũ
chàng cùng đám trai tráng đào
sâu hàng chục trượng đất đá
để tìm mạch nước ngầm
gánh từng thùng bùn nhão nhuét từ đáy giếng cạn lên bờ
có những đêm mệt lạ
nằm co ro trên đống rơm khô ngoài đồng
uống ngụm nước đục ngầu
còn vương mùi bùn đất
đình chi mới thấu hiểu đến tận cùng thế nào
là nỗi khát của muôn dân
sự ngạo mạn, phù phiếm
chén tích tụ bao năm trong lòng chàng
từng chút, từng chút một tan biến
theo những giọt mồ hôi rơi xuống lòng đất
nứt nẻ
khi mạch nước ngầm đầu tiên phun lên mắt lạnh
giữa sự gieo hò rơi nước mắt
của dân làng ninh lạc
đình chi chỉ lặng lẽ đứng phía xa
mìm cười cúi đầu nhận lấy
chiếc chén sứt đựng nước trong từ tay
láo nông họ khương mà uống cạn
bằng tất cả sự tôn kính của một đời người
ba năm sau khoa thi hội
lại mờ giữa tiết trời thu xe lạnh
đình chi một lần nữa
khăn gói lên đường
nhưng lần này không ai thấy chàng ngồi trong tử quán
đàm đạo cao siêu
hay vung tay bình phẩm thiên hạ
chàng bước vào trường thi
với tâm thế phẳng lặng như mặt nước giếng sâu
từng nét chữ đặt xuống trang giấy
tuyên không còn những điển tích
hoa mỹ phô trương
mà thấm đượm hơi thở của đông ruộng nứt nẻ
của những bàn tay dưới máu đào giếng
và nỗi khát cháy bỏng
của muôn dân
Ngày bảng vàng sướng danh
tên chàng nằm trang trọng
ở hàng đầu giáp bảng
Khi nhận tờ sắc phong bổ nhiệm
làm tân quan chi huyện Ninh Lạc
đình chi chỉ lặng lẽ gấp phân thư lại
hướng về phương Nam
cúi đầu thật sâu
Ngày nhậm chức tân quan huyện
không ngồi kiệu hoa gõ trống
mà cùng thuộc hạ sắn quần lội ngược thượng
nguồn khảo sát thủy lợi
Dưới sự đốc thúc và trực tiếp
cùng làm của chàng
Chỉ sau hai mùa khô
những con canh đào đã dẫn nước ngọt
từ sông lớn đổ về từng chân ruộng cằn cối
Một buổi chiều muộn cuối xuân
khi gió núi thổi sạc sào qua
rạng tre xanh ngắt
đình chi một mình thả bộ về lại bờ mương năm cũ
Đất khô cằn năm xưa nay
đã phủ một màu mạ non mơn mởn
Phía xa bên miệng
giếng làng mới khơi
lão nông họ Khương đang ngồi nghỉ
trên tảng đá quen thuộc
Thấy bóng chàng từ đê bước xuống
Ông lão chậm dãi đứng dậy
Trên tay vẫn là chiếc bầu gỗ tiện cũ kỹ năm nào
Hai người nhìn nhau giữa khoảng lặng mênh mông
của buổi hoàng hôn
Không có lời tạ ơn khách giáo
Không có sự cách biệt giữa quang và dân
Chỉ có một cái gật đầu thật khẽ
Đủ để bao nhiêu dông bão
của quá khứ tan vào lòng đất mẹ bao dung
Có những lựa chọn tưởng chừng rất nhỏ
Nhưng lại mang sức nặng
của cả một đời người
Cuộc đời có thể cho ta cơ hội bước tiếp
Nhưng chỉ khi biết cuối đầu
trước nỗi đau của người khác
Bước chân ấy mới thực sự vững vàng
Nếu câu chuyện hôm nay
để lại trong lòng bạn một khoảng lặng
Hãy đăng ký kênh Chuyện Xưa
để cùng lắng nghe và chiêm nghiệm
thêm những phận đời
những bài học nhân quả sâu sắc tiếp theo
