Người hiện đại phần lớn khó chấp nhận quan điểm “nam tôn nữ ti”, thực tế, “nam tôn nữ ti” không có nghĩa là đàn ông cao quý, phụ nữ thấp hèn. “Tôn” “ti” bắt nguồn từ sự cân bằng âm dương trong Kinh Dịch. Ý nghĩa của nam tôn nữ ti là đàn ông và phụ nữ mỗi bên có đặc tính riêng, trong gia đình phân công khác nhau, nam nữ giữ đúng vị trí của mình, gia đạo tự nhiên hưng thịnh. ............................................................ Giọng đọc: Lưu Thu https://www.epochweekly.com/b5/412/14619.htm Chu Tuệ Tâm
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Nam nữ hữu điệt, gia đạo hưng thịnh, ý nghĩa nam tôn nữ ti bị hiểu sai.
Người hiện đại phần lớn khó chấp nhận quan điểm nam tôn hữu ti.
Thực tế nam tôn hữu ti không có nghĩa là đàn ông cao quý, phụ nữ thấp hèn.
Tôn ti bắt nguồn từ sự cân bằng âm dương trong kinh dịch.
Ý nghĩa của nam tôn nữ ti là đàn ông và phụ nữ.
Mỗi bên có đặc tính riêng, trong gia đình phân công khác nhau.
Nam nữ giữ đúng vị trí của mình, gia đạo tự nhiên hưng thịnh.
Ý nghĩa thực sự của nam tôn nữ ti.
Nam tôn nữ ti xuất phát từ kinh dịch.
Trong kinh dịch, hệ từ có viết,
Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ.
Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ, càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ.
Trong đó, tôn là cao, ti là thấp, là hai từ chỉ vị trí.
Thiên tôn địa ti có nghĩa là trời cao đất thấp.
Là một mô tả về trạng thái tự nhiên.
Trong thiết văn giải tự có viết,
Tôn, cao xưng giã, quảng nhã giải thích.
Ti, bỉ giã, ti cũng là thấp.
Quảng vận nói, bỉ, hạ giã, bỉ cũng là dưới.
Kinh dịch mô tả quy luật vận hành của vũ trụ thiên thể.
Từ tư tưởng, cốt lõi, cuối cùng quy về sự cân bằng âm dương.
Mọi sự vật không cân bằng, không hài hòa,
cuối cùng nhất định sẽ đi chạch khỏi quỹ đạo bình thường.
Và vũ trụ vạn sự, vạn vật cuối cùng phải quay về hài hòa và cân bằng.
Một tư tưởng cốt lõi khác của kinh dịch là âm dương đều phải giữ đúng vị trí của mình.
Trời ở vị trí trời, đất ở vị trí đất, âm ở vị trí âm, dương ở vị trí dương.
Trời đất, âm dương, nam nữ là một phương pháp phân loại của người xưa.
Con người bắt trước trời đất, nam tôn nữ ti, chính là bắt nguồn từ thiên tôn địa ti.
Ý nghĩa gốc của nó là nói, nam nữ hiểu biệt.
Đây là một sự phân biệt tự nhiên, một trạng thái tự nhiên.
Nam tôn là chỉ đàn ông muốn phù hợp với đạo,
phải giống như trời, cao thượng công chính, tự cường bất tức,
không ngừng vươn lên như trong câu thiên hành kiện,
quân tử dĩ tự cường bất tức, trời vận hành mạnh mẽ, bậc quân tử không ngừng vươn lên.
Nữ ti là chỉ phụ nữ muốn phù hợp với đạo,
phải giống như đất, khiêm tốn, bao dung, hậu đức tài vật, vô tư vô oán,
tức là cái gọi là địa thế khôn, quân tử dĩ hậu, đức tài vật.
Địa là khỏe khôn, tự chưng cho đất và phụ nữ, bậc quân tử lấy đức dày, tài vật.
Nam tôn nữ ti là để sướng tự nhiên hài hòa, âm dương đôi bên đều ở đúng vị trí của mình.
Vì vậy, nam tôn nữ ti là nói về đạo lý
nam nữ nên sống hài hòa như thế nào trong cuộc đời và hôn nhân,
chứ không có hàm ý nam nữ bất bình đẳng.
Một người đàn ông phòng cách cao thượng, phụ nữ tự nhiên sẽ tôn trọng anh ta,
thuật theo anh ta.
Gia đình mà người đàn ông chính trực cao thượng,
người phụ nữ khiêm hòa, khoan dung, không có đạo lý nào không hài hòa.
Trong gia đình và xã hội như vậy,
phụ nữ cũng tự nhiên có địa vị tương ứng mà không bị phân biệt nối xử.
Nam nữ hiểu biệt mỗi người quản việc của mình.
Mạnh từ nói, phụ tử hiểu thân, quân thần hiểu nghĩa,
phu phụ hiểu biệt, trưởng ấu hiểu tự, bằng hiểu hiểu tín,
thử nhân chi đại luân xã.
Cha con có thân, vua tôi có nghĩa,
chồng vợ có biệt, già trẻ có tự, thứ tự, bằng hiểu có tín,
cũng là đại luân của con người, đó chính là ngũ luân.
Chồng như trời, vợ như đất, trời, mặt trời chiếu mặt trăng soi,
mây đi mưa đến thấm nhuần đại địa.
Đất trở núi sông, nuôi dưỡng vạn vật con người,
đời đời sinh sôi, sinh sinh bất tức.
Chồng bảo vệ gia đình, không để bị bất kỳ tổn hại nào.
Vợ mang thai nuôi dưỡng, đồng hành giáo dục con cái,
chính là phù hợp với đạo lý âm dương.
Nam nữ phân công khác nhau, nếu hai bên đều làm tròn chức trách của mình,
thì gia đình hòa thuận, xã hội yên bình.
Ngược lại, nếu trời không mưa, đất sẽ khô cằn, vạn vật sinh linh khó tồn tại.
Tương tự, chồng không kiếm tiền, vợ mất chỗ dựa,
cuộc sống gia đình có thể sẽ dối loạn.
Lại xem hiện tự tự nhiên, hoa cỏ cây cối không thể rời khỏi đất,
giống như trẻ sơ sinh, cũng hầu như không thể rời xa mẹ.
Đạo lý trong đó thật vi diệu,
có thể thấy vợ chồng hai bên đối với gia đình
có những nhiệm vụ khác nhau và không thể thay thế lẫn nhau.
Lịch sử ghi chép, Chu Chiều Tam Thái, Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự,
ba đời mẹ chồng nàng dâu,
lần lượt là vợ của ba vị vua Chiều Chu, Thái Vương, Quý Lịch, Văn Vương.
Ba vị vua đều hiền đức, ba vị vợ đều chân thành, trang nghiêm cung kính.
Tam Thái là mẫu mực cho thiên hạ, giáo hóa quốc gia,
phụ tá ba vị vua xây dựng thời thịnh trị 800 năm của nhà Chu,
cũng nuôi dưỡng nền văn hóa nho ra rực rỡ huy hoàng của Trung Quốc.
Liệt Nữ Chuyện, Mẫu Nghi Chuyện, Chu Thất Tam Mẫu,
ghi chép rằng sau khi Thái Tự trở thành vợ của Văn Vương càng thêm hiền thục,
bà rất ngưỡng mộ ông đức của bà nội Thái Khương và mẹ chồng Thái Nhậm.
Và kế thừa đức hạnh hoàn mỹ của họ,
bà cần kiệp quản gia phụ giúp chồng dạy con hết lòng hết sức hỗ trợ Văn Vương,
quản lý nội cung ngăn nắp có trật tự khiến Văn Vương không có bất kỳ hậu hoạ nào.
Có thể chuyên tâm trị lý quốc gia,
vì vậy chính sách đức trị lan tòa, giáo hóa hương thịnh Thái Tự được người đời tôn xưng là Văn Mẫu,
nói Văn Vương quản lý việc bên ngoài và Văn Mẫu quản lý việc trong cung.
Hiền nội trợ nhân đức Trường Tôn Hoàng Hậu.
Gia chi lương thê do quốc chi lương tướng,
người vợ hiền của gia đình như tể tướng giỏi của quốc gia.
Trong số các hoàng hậu hiền đức trong lịch sử,
Trường Tôn Hoàng Hậu của Đường Thái Tông Lý Thế Dân xứng đáng đứng vị trí số một.
Trường Tôn Vô Kỵ là anh trai của Trường Tôn Hoàng Hậu,
là bạn thân của Lý Thế Dân, phụ tá Lý Thế Dân dành thiên hạ.
Đường Thái Tông muốn cho Trường Tôn Vô Kỵ làm tể tướng,
nhưng Trường Tôn Hoàng Hậu câu rằng,
Thiếp đã được lập làm hoàng hậu, tôn quý đến cực điểm,
Thiếp thật sự không muốn để anh em con cháu được bố trí trong triều đình.
Nhà lữ hậu, nhà hót quang thời Hán có thể làm hương,
vì vậy Thiếp xin Ngài đừng bao giờ bổ nhiệm anh trai Thiếp làm tể tướng.
Dưới sự từ chối nhiều lần của Trường Tôn Hoàng Hậu,
Đường Thái Tông chỉ trao cho Trường Tôn Vô Kỵ hư chức là khai phủ nghi đầm tan ti.
Khi Trường Lạc Công Chúa, con gái của Trường Tôn Hoàng Hậu thiết hôn,
đồ cưới mà Đường Thái Tông ban thưởng,
nhiều hơn gấp đôi so với đồ cưới của Trường Công Chúa.
Con gái của Đường Cao Tổ,
vì vậy Nguyễn Trung đã trực tiếp đưa ra ý kiến phản đối với Đường Thái Tông.
Khi Trường Tôn Hoàng Hậu biết được,
không những không trách phạt Nguyễn Trung mà còn khen ngời ông hết lời.
Dưới sự điều hành của Trường Tôn Hoàng Hậu,
Trường Lạc Công Chúa đã kết hôn với cổ hồi môn không quá hậu hĩnh.
Trong sinh hoạt hàng ngày, Trường Tôn Hoàng Hậu cẩn thận giữ gìn lễ chế,
không bao giờ can thiệp vào chính sự chiều chính.
Nhưng vì Trường Tôn Hoàng Hậu chính trực có đạo,
Đường Thái Tông rất xem trọng bà,
thường nói với bà về một số đại sự quốc gia và chi tiết thưởng phạt.
Trường Tôn Hoàng Hậu không muốn can thiệp vào đại sự quốc gia bằng thân phận đặc biệt của mình.
Bà cho rằng nam nữ hữu biệt nên mỗi người quản việc của mình.
Trường Tôn Hoàng Hậu không can thiệp vào chính sự,
nhưng có thể thường xuyên đưa ra những lời khuyên hữu ích cho Lý Thế Dân,
giúp chồng xử lý tốt mối quan hệ vua tôi,
sử dụng bề tôi chính trực và tránh xa bề tôi nịnh hợp.
Tể tướng Nguyễn Trưng thẳng thắn can rán,
khi gặp Lý Thế Dân làm việc không đúng, dám can rán ngay lập tức,
đôi khi khiến Lý Thế Dân không biết phải làm sao.
Một lần, Đường Thái Tông định đi săn ở ngoại ô,
đang chuẩn bị ra khỏi cửa cung,
thì chạm mặt Nguyễn Trưng,
Nguyễn Trưng hỏi rõ tình hình, lập tức can rán Đường Thái Tông.
Hiện đang là giữa mùa xuân, vạn vật đang sinh sôi,
thú vật đang nuôi con,
không nên đi săn bắn, xin bệ hạ hồi cung.
Đường Thái Tông kiên quyết muốn đi,
nhưng Nguyễn Trưng không chịu nhượng bộ,
đứng giữa đường kiên quyết chặn đường đi của Đường Thái Tông.
Đường Thái Tông tức vẫn không thể kìm nén,
xuống ngựa, giận dữ quay về cung.
Đường Thái Tông trở về cung,
gặp Trường Tôn Hoàng Hậu,
vẫn còn tức giận nói,
nhất định phải giết lão Nguyễn Trưng,
ngoan cố này mới có thể xảy hận trong lòng ta.
Trường Tôn Hoàng Hậu hỏi rõ nguyên do,
rồi lặng lẽ quay về phòng mặc lễ phục,
sau đó với vẻ mặt tra nghiêm,
đến trước mặt Đường Thái Tông,
cúi đầu lại và nói,
chúc mừng bệ hạ.
Hành động này của bà,
khiến Đường Thái Tông ngạc nhiên hỏi,
có chuyện gì mà phải thận trọng như vậy?
Trường Tôn Hoàng Hậu nghiêm túc trả lời,
thiếp từng nghe nói,
nếu vua sáng suốt,
thì bầy tôi sẽ rất trung thành.
Hiện nay bệ hạ thánh minh,
nên Nguyễn Trưng mới sáng nói thẳng như vậy.
Thiếp là Hoàng Hậu,
thấy vua sáng tôi trung,
việc tốt như vậy,
làm sang sáng không mặc triều phục chúc mừng.
Đường Thái Tông nghe lời vợ nói,
có sự tỉnh ngộ,
cơn giận dần dần tan biến.
Năm chinh quán thứ tám,
khi Trường Tôn Hoàng Hậu
cùng Đường Thái Tông đến cung,
kiểu thành tránh nắng, bà mất,
và càng ngày càng nặng,
dù đã dùng nhiều thuốc,
nhưng bệnh tình vẫn không thiên giang.
Lúc này, Thái tử Lý Thường Cán,
đang hầu hạ bên cạnh,
đề nghị với mẹ sử dụng phương pháp
nhưng bị Hoàng Hậu kiên quyết từ chối.
Bà nói,
đại xá là việc lớn của quốc gia,
Phật giáo và Đạo giáo
cũng có quy định riêng,
nếu có thể tùy tiện ân xá tù nhân
và đổ người vào đạo,
chắc chắn sẽ làm tổn hại
đến thể chế quốc gia,
và cũng là điều cha ngươi không muốn.
Ta làm sao có thể
là một phụ nữ
mà làm dối loạn phép luật thiên hạ.
Thái tử nghe xong
không dám tâu lên Thái Tông.
Sau khi Thái Tông biết được,
cảm động đến rơi nước mắt,
khóc không thành tiếng.
Trường Tôn Hoàng Hậu băng hà
tại Điện Lập Chính vào năm chinh quán thứ 10,
chỉ thọ ba sáu tuổi.
Khi Trường Tôn Hoàng Hậu mất,
đường Thái Tông rất đau buồn,
cảm thấy từ đây,
đã mất đi một người phụ tá tốt.
Trong thời gian đường Thái Tông trị vì,
chính trị được tu trình,
kinh tế phồn thịnh,
lịch sử gọi là chinh quán chi trị.
Điều này có liên quan không nhỏ
đến việc ông có Trường Tôn Hoàng Hậu,
một vị hiền nội trợ giúp.