Quan Niệm Về Hôn Nhân Của Người Xưa - Vợ Chồng Chung Sống ‘Ân Nghĩa Tại Tiên’ | Uyên Nhân Kiệt
#htu, #HonNhanAnNghiaTruocTinhSau, #revievungtau #HonNhan, #AnNghiaVoChong, #TinhNghiaVoChong #DuyenPhanVoChong #GiaDinhHanhPhuc #HonNhanBenVung #HanhPhucGiaDinh #SongCoDaoLy #GiaTriHonNhan Trong câu chuyện về Nho sinh Lưu Đình Thức thời Bắc Tống, chúng ta đã tìm hiểu qua vấn đề chữ tín của người xưa trong hôn nhân, tại sao họ lại như thế? Là vì họ tin duyên phu thê là do số mệnh đã định, quá trình Vi Cố thời nhà Đường tìm nàng dâu cũng minh chứng cho quan điểm này. Thế nhưng, với nhiều người tiếp thu giáo dục theo chủ nghĩa vô thần, thật khó để có thể tin vào hai chữ “duyên phận” vô bằng chứng, nhìn không thấy sờ không chạm này, mọi người thường chỉ tin vào những gì cơ quan cảm giác cảm nhận được.
Đoạn video phân tích sự khác biệt giữa quan niệm hôn nhân xưa và nay, nhấn mạnh rằng sự suy đồi của đạo đức xã hội hiện đại bắt nguồn từ việc quá đề cao cái tôi và tình yêu cảm tính. Qua đó, tác giả đề cao giá trị của ân nghĩa, duyên phận và lễ nghi trong hôn nhân truyền thống để hướng con người tới một cuộc sống gia đình bền vững và đạo đức hơn.
Quan niệm về hôn nhân của người xưa, vợ chồng chung sống, ân nghĩa tại tiên.
Hôn nhân là đại sự đời người, song ở xã hội hiện đại.
Thái độ và hành vi của mọi người đối với hôn nhân dẫn đến rất nhiều vấn đề xã hội như bạo lực gia đình,
bạo lực lạnh nhạt, tổn thương tinh thần, ngứa ngáy ngoại tình, chưa cưới, sống thử, v.v.
Hôn nhân trực tiếp tạo thành đạo đức xã hội bại hoại, sinh ra nghiệp lực to lớn và làm lan truyền mệnh tật ác tính lẫn nhau.
Nguyên nhân khiến thái độ đối với hôn nhân người ta thay đổi có thể nói chính là đã cường điệu bản thân quá mức.
Cường điệu tình yêu, phóng tống dục vọng, không tin nhân quả.
Mọi người muốn giải quyết một loạt vấn đề xã hội này cần nắm rõ từ trên căn bản.
Bây giờ chúng ta từ trong trí tuệ văn hóa truyền thống để lý giải xem là người xưa đối đại chính xác ra sao trong quan hệ hôn nhân.
Nói tới hôn nhân, ngoại trừ tình ra thì còn có thứ quan trọng hơn chính là ân nghĩa.
Cổ nhân cho rằng hôn nhân là do duyên phận đã định trước.
Tu trăm năm được chung thuyền, tu ngàn năm được chung gối chính là nói duyên phận giữa vợ chồng.
Trong biển người mênh mông vốn là hai người không quen biết lại có thể đi cùng nhau.
Đây là nhân duyên kiếp trước tạm thành.
Ái tình, tình yêu giải thích đơn giản nhất chính là tình cảm nam nữ yêu nhau.
Thật ra ái tình là một khái niệm hoặc công thức của thời cận đại.
Hiện nay được nhấn mạnh cái gọi là cá tính và cái tôi được tuyên dương khắp mọi nơi.
Tôi muốn yêu người khác, muốn người khác yêu tôi.
Liên xuất hiện ái tình tại thời cổ đại, lễ pháp hoàn thiện và ngân lý đạo đức tương đối cao đã ước thúc tình cảm giữa nam nữ.
Mọi người cho rằng ái tình nhất định phải xây dựng trên cơ sở của hôn nhân.
Như thế mới có thứ tự, vững chắc, hợp tình, hợp lý và cũng được toàn bộ xã hội tán thành, tôn sùng.
Hết thầy tình yêu bên ngoài cơ sở hôn nhân đều là không được cho phép và là phi lễ.
Hôn nhân chính là đại sự đời người chứ không phải là trò đùa.
Từ thời nhà chung đã chế định ra lục lễ, nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp chinh, thỉnh kỳ, thân nganh.
Mấy ngàn năm nay đã trở thành phép tắc mà mọi người khi kết hôn phải thi hành.
Cổ nhân kính thần, sợ trời, trọng hiếu đạo cho nên kết hôn thì phải bái thiên địa để thiên địa thừa nhận,
phải bái phụ mẫu để phụ mẫu thừa nhận,
cho nên nói thái độ đối đại với hôn nhân của cổ nhân là ân nghĩa tại tiên,
duyên phận tại tiên, lễ tại tiên, tình yêu đặt ở sau cùng.
Mà con người hiện nay thì toàn bộ thái độ đối đại với hôn nhân đều là lẫn lộ đầu đuôi.
Dưới đây là hai câu chuyện ngắn giúp chúng ta hiểu,
chúng ta hãy hiểu một chút về thái độ cơ bản của người xưa đối với hôn nhân.
Yến Anh trung thành với người vợ già.
Thời xuân thu chiến quốc ở nước Tề có một vị hiền tướng, nổi tiếng,
ông chính là đại danh Đình Đỉnh Yến Anh.
Tề Cảnh Công có một người con gái, Cảnh Công rất yêu quý,
thấy Yến Anh có tài năng, muốn đem con gái gả cho ông.
Vì thế Tề Cảnh Công đặc biệt đến nhà của Yến Anh thăm hỏi,
quân thần thoải mái ăn uống.
Trong bữa tiệc, vợ của Yến Anh cũng đôi khi bận rộn chiêu đại khách.
Cảnh Công thấy được nàng liền hỏi Yến Anh,
vị kia chính là vợ của người sao?
Yến Anh không biết rõ nội tình, liền chân thực trả lời,
đúng vậy ạ, nàng chính là vợ của thần.
Cảnh Công me rồi thở dài nói,
ai, vì sao, lại già, lại xấu như vậy?
Ta có một đứa con gái, tuổi nhỏ lại xinh đẹp,
xin cho phép ta đem nó gả cho ngài làm vợ được chứ?
Nghe lời này, Yến Anh để đũa xuống, đứng dậy,
lập tức rời ghế ngồi, cung kính trang trọng trả lời cho Cảnh Công.
Vợ của thần lớn tuổi, người cũng không xinh đẹp,
nhưng thần đã cùng nàng sinh hoạt thời gian rất lâu.
Nữ nhân lúc tuổi còn trẻ gả cho người,
đã đem cả cuộc đời mình giao cho người.
Vợ của thần lúc còn trẻ đem cả đời giao phó cho thần,
không quan tâm thần là người sang hay hèn,
là người cao hay thấp, và thần cũng tiếp nhận.
Hiện tại Đại Vương muốn đem con gái gả cho thần,
đây là vinh hạnh vô cùng.
Nhưng là một nam nhân, đứng giữa trời đất,
thần đã tiếp nhận sự phó thác của vợ,
làm sao có thể dùng bỏ tình cảm cậy nhờ của nàng,
mà tiếp nhận người khác được.
Yến Anh, thân địa vị cao, mà không dùng bỏ người vợ già xấu.
Đạo làm người phẩm đức cao thượng của ông,
là điểm mà chúng ta kính ngưỡng.
Vợ chồng khước khuyết, tương kính như tân.
Thời xuân thu ở nước Tân,
vợ chồng đại phu khước khuyết, tương kính như tân,
khiến mọi người ca ngợi,
đây là nguồn gốc như Tân Hương.
Ở Hà Tân, Sơn Tây, khước khuyết là người ký
ở nước Tân thời xuân thu.
Thời Tân hiến công, khước khuyết cùng cha khước Huế
đều lòng quan trong chiều,
sau bởi vì chuyện của cha mà bị liên lệ,
bị giáng chức làm dân thường.
Khước khuyết quay về quê nhà,
áo vải, cơm nhạt, ra đồng làm ruộng,
cư xử hòa thuận về hàng xóm,
bánh băn công, phái đại thần cựu quý
đi xứ nước Tân, đi ngang qua ký,
thấy khước khuyết làm cỏ trong ruộng,
vợ ông dân hai tay đưa cơn cho khước khuyết
vô cùng lễ phép.
Khước khuyết cũng giống như một người khách
cùng với vợ lễ nhượng,
muốn nhường lẫn nhau,
cựu quý rất cảm động.
Sau khi hồi cung, bầm báo rằng,
thần đi qua ký, gặp được khước khuyết
cùng vợ tương kính như Tân.
Theo thần nghĩ, tôn kính lẫn nhau
là biểu hiện cụ thể của đức.
Người có đức có thể trị lý quốc gia,
xin triệu hồi khước khuyết về cung
để trọng dụng hạ.
Tấn băn công tiếp thu ý kiến của cựu quý,
phong khước khuyết làm hạ quân đại phu.
Năm đầu tấn tương công,
trong cuộc chiến với quân địch,
khước khuyết sung phong đi đầu,
bắt sống được vua nước địch.
Bởi lập một trăm bảy mươi công,
nên được tương công thăng chức làm khanh,
cũng đem đất ký ban thưởng cho ông.
Hậu nhân đem mảnh đất mà khước khuyết cầy quốc,
gọi là Túc Đức Điền,
cũng dự định ở đây,
đem vùng đất ký trước đó,
gọi là Như Tân Hương.
Hai câu chuyện này đều rất nhỏ,
lại đều thể hiện truyền thống văn hóa
trong thái độ đối đải với quân nhân.
Phụ đề được thực hiện bởi cộng đồng Amara.org