Không Thể Tin Trung Quốc Đã Từng Có Một Cao Tăng Mật Tông Tài Giỏi Đến Như Vậy | Thế Giới Cổ Đại

Đình Sự
534 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chào mừng các bạn đến với Thế giới cổ đại.
Có một vị đại sư Phật giáo ở thời nhà đường của Trung Quốc đã tu luyện đến mức thần thông.
Ông có thể khiến sao Bắc Đồng biến mất trong một nốt nhạc.
Cũng có người nói ông sở hữu một loại công nghệ tiên tiến cổ đại
có thể dự báo các hiện tượng thiên văn một cách chính xác.
Vậy thực hư câu chuyện đó như thế nào?
Người đàn ông được nhắc đến có thực sự tồn tại hay không?
Hãy cùng Thế giới cổ đại tìm kiếm câu trả lời trong video ngày hôm nay.
Tại Hà Nam, Trung Quốc có một thị trấn nhỏ gọi là Cáo Thành, thời đường gọi là Dương Thành.
Nơi đây có một di chỉ kiến trúc cổ đại trông rất kỳ lạ.
Tên học thuật của nó là Khuê Biểu, nhưng người địa phương quen gọi nó là Chu Công Trắc Cảnh Đài.
Khuê Biểu cấu tạo như sau.
Một cột dự đứng gọi là Biểu, còn mặt phẳng ngang chỉ về hướng Bắc gọi là Khuê.
Tác dụng của Khuê Biểu là thông qua đo độ dài của bóng mặt trời
để chia ra mùa, tiết khí và suy tính địch pháp.
Suy tính địch pháp như thế nào?
Ví dụ như, người quan sát vào ngày Chính Ngọ, ngày Xuân Phân của năm thứ nhất
đánh dấu vị trí bóng mặt trời trên thức đo.
Sau đó, vào Chính Ngọ một ngày nào đó năm thứ hai,
nếu quan sát được bóng mặt trời rơi vào vị trí đánh dấu Xuân Phân năm ngoái
thì anh ta biết rằng Xuân Phân đã đến rồi.
Phương pháp đo lường này gọi là Khuê Biểu Trắc Ảnh.
Khuê biểu này là một trong những khuê biểu chính xác nhất thời Thịnh Đường.
Hơn nữa, nó còn là một trong những di vật đo đạc thiên văn quy mô lớn của Trung Quốc,
thậm chí là của thế giới vào thời điểm đó.
Công cụ này do Nhất Hạnh, một nhà thiên văn học lỗi lạc chiều đường chế tác.
Cái tên nghe có vẻ lạ.
Nhất Hạnh không giống cái tên người bình thường.
Nó giống tên của một nhà sư hơn.
Bởi vì ông không chỉ là nhà thiên văn học
mà còn là ông tổ đời thứ 8 của Trần Ngôn Tông của Đông Mật, Nhật Bản,
tức vị cao tăng chân chính được Mật Tông quán đỉnh.
Nhất Hạnh không phải tên gốc của ông mà là pháp hiệu.
Năm 683 tại Sương Lạc, Nguyễn Châu, tức huyện Nam Lạc, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc ngày nay,
một bé trai kháu khỉnh đã chào đời.
Cha mẹ cậu rất vui mừng đặt cho cậu cái tên là Trương Toại.
Cha Trương Toại là viên con nhỏ, là huyện trưởng huyện Võ Công.
Nhưng ông cụ Tàng Tổ của Trương Toại là một người nổi tiếng, đó là Trương Công Cẩn,
124 công thần được vẽ chân dung ở Lăng Yên Các.
Hai công hiến lớn của Trương Công Cẩn đối với đế quốc đại đường được sử sách ghi lại như sau.
Thứ nhất, trước biên cố huyện Vũ Môn vào tháng 6 năm Vụ Đức thứ 9 đầy đường cao tổ,
tức tháng 7 năm 626 dương lịch, khi Tần Vương Lý Thế Dân vẫn còn do dự chưa quyết định việc khởi binh.
Ông đã thuyết phục Lý Thế Dân khởi binh.
Sau đó, vào lúc nguy cấp ở huyện Vũ Môn, ông lại dựa vào thần lực trời ban,
một mình ông đã đóng cổng huyện Vũ Môn, ngăn quân địch mạnh ở bên ngoài cổng thành, đảm bảo sự an toàn cho Lý Thế Dân.
Do đó, sau khi lên ngôi hoàng đế, Lý Thế Dân đã ghi đại công cho ông.
Công hiến thứ 2 của Trương Công Cẩn là 3 năm sau biên cố huyện Vũ Môn,
là người chi dũng song toàn, ông đã hiến kế cho đường khai tông, tấn công đông đột quyết.
Ông nắm bắt thời cơ xuất binh vừa vặn đúng lúc, phan đoán tình thế chính xác.
Sau khi thái tông phê chuẩn xuất binh, quân đường chỉ một trận đã tiêu diệt đế quốc đông đột quyết.
Vì 2 đại công này, thái tông phong cho ông là Châu Quốc Công, được vẽ Trân Dung ở Lăng Yên Các.
Mấy người con trai của Trương Công Cẩn đều bị ráng chức quan ở thời Võ Tắc Thiên,
từ Trung ương ráng xuống địa phương.
Đến đời thứ 3, tức đời phụ thân của Trương Toại, thì giác cảnh đã tụt xuống Bắc Trung rồi.
Trời có gió mây bất chắc, gia tộc này bị ách vận liên tiếp.
Trương Toại khi còn đang ở tuổi thơ ấu thì cha mẹ đều qua đời.
Một người hàng xóm thiện tâm là cô Vương rất thích Trương Toại và luôn tiếp tế cho nhà hội trương.
Do đó, Trương Toại sống cuộc sống không phải là đại phu quý, nhưng tuổi thơ của ông cũng không phải lo cái ăn cái mặt.
Trương Toại đọc nhiều thi thư, cộng thêm thiên tư thông minh dĩ ngộ, tuổi con nhỏ mà danh tiếng đã lan xa,
được Võ Tâm Tư, cháu trai của Võ Tắc Thiên để ý, muốn thu nạp Trương Toại dưới trướng làm mưu sĩ cho ông ta.
Nhưng tổ tiên của Trương Toại luôn dốc lòng trung thành với hoàng thất lý lường,
nên Trương Toại không muốn phục vụ gia tộc hạo võ, nhưng lại không dám kịa tuyệt.
Thế là Trương Toại đành phải rời nhà ra đi.
Trương Toại đến núi Tung Sơn tu hành Phật môn với Đại sư Phổ Tịch.
Ở trong chùa, sau một thời gian tu hành, Trương Toại lĩnh ngộ rất nhanh.
Sư phụ Phổ Tịch nhận thấy ông đã tu hành xong Nhất hành Tam Muội,
nên đặt pháp danh cho ông là Nhất hành.
Nhất hành Tam Muội là một thuật ngữ Phật giáo,
có xuất xứ từ văn thù sư lợi sở thuyết Maha-bát-nhã-ba-la-mật-kinh,
ý nghĩa là người tu hành trong bất kỳ hoàn cảnh nào,
cũng có thể bảo trì được tâm thái thanh tịnh và từ bi.
Một ngày nọ, Đại sư Phổ Tịch mở hội tiệc trai trong chùa,
mời tăng lưỡng các nơi và cũng mời một học giả tên là Lư Hồng
viết một bài văn để ca tụng thính hội này.
Nhận được sự ủy tháp này, Lư Hồng ở nhà cha cứu điển tịch cổ,
viện dẫn các kinh điển, bỏ ra thời gian mấy ngày trời
viết bài văn mấy nghìn chữ phóng khoáng, hoàn thành bài văn.
Ông xem đi xem lại, vui mừng lắm, tự thấy rất hài lòng,
thế là đắc ý mãn nguyện đem bài văn đến dự hội đúng giờ.
Bài văn này dài, lại có nhiều chữ lạ, ít sử dụng,
cần tìm một hòa thượng có học vấn để ông dạy hòa thượng đọc
thì mới tránh mắc lỗi, mới không bị thành trò cười.
Phụ tịch liền gọi Nhất Hạnh đến, cầm bài văn lên,
nhìn qua một lượt rồi đặt lại lên bàn,
cũng không xem nữa và cũng không hỏi hàn gì.
Lư Hồng trong tâm thầm lắc đầu, thầm nghĩ.
Lão hòa thượng này thu nhận đệ tử kiểu gì,
không hiểu lại tỏ vẻ là đã hiểu, tư chất kém quá.
Một lúc sau, tăng lưỡng các nơi đã đến đầy đủ,
mọi người ngồi với nhau chuẩn bị mở tiệc chay.
Trước khi khai tiệc, cần phải đọc diễn văn.
Chỉ thấy Nhất Hạnh lạng lẽ vững trải bước đến trước mặt tăng trúng,
cất giọng lớn đọc thuộc bài văn của Lư Hồng,
giọng đọc du dương, trầm bổng, khúc chiết, không sai một chữ,
khiến Lư Hồng kinh ngạc, há miệng tròn mắt nhìn, không nói nhanh lời.
Thì ra, người nông cạn chính là mình.
Lư Hồng liền quay người sang nói với Phụ tịch rằng,
vị đệ tử này quá xuất sắc, ngài không thể dạy được,
ngài nên để anh ta đi du học đi.
Năm khai nguyên thứ tư, đời Đường Huyền Tông,
từ năm 716, Nhất Hạnh được Tổ sư Đường Mật là Đại sư Thiện Vô Úy Quán Đỉnh.
Nhất Hạnh giúp Đại sư phiên dịch Đại Nhật Kinh.
4 năm sau, Nhất Hạnh lại được một vị Đại sư Đường Mật khác
là Kim Cương Trí Quán Đỉnh và trở thành một cao tăng nổi danh khắp thiên hạ.
Năm 721, Đường Huyền Tông quyết định hiệu đính lịch pháp.
Tại sao phải hiệu đính?
Bởi vì lịch pháp được sử dụng khi đó, kết quả suy tính ra
có sai biệt khá lớn so với kết quả quan chắc thực của thiên văn đài.
Nói cách khác, đó là lịch pháp đã không còn chính xác nữa.
Ở phần đầu, chúng ta đã nói về người xưa dùng khuê biểu
đo chiều dài của bóng mặt trời lúc chính ngọ,
dựa vào số liệu này để chia ra mùa, tiết khí và suy diễn lịch pháp.
Tuy nhiên, triều Hán có một nhà thiên văn là Lạc Hạ Hoàng
đã phát hiện ra rằng phương pháp đo đạt tính toán này có một khuyết điểm.
Bởi vì thời khắc chính ngọ, các địa phương có vĩ độ khác nhau
khi chiều dài bóng mặt trời cũng khác nhau.
Dần dài, tiết khí các địa phương trở nên khác nhau.
Vì vậy, để giải quyết sai số do vĩ độ khác nhau gây ra,
Lạc Hạ Hoàng đã đưa ra biện pháp giải quyết
trong thái sơ lịch do ông Sáng tạo ra.
Đó là đặt ra một tiêu chuẩn để hiệu chỉnh sai số.
Trên cùng một đường tí ngọ, tức trên cùng một kinh tuyến,
các địa phương ở vĩ độ khác nhau,
hai điểm cách nhau theo đường thẳng 1.000 dặm,
thì độ dài bóng năng mà khuyết biểu đó được
ở thời điểm chính ngọ sẽ lệch nhau một tấc.
Đây chính là cái gọi là bóng mặt trời
cứ 1.000 dặm sai lệch một tấc.
Dùng tiêu chuẩn này để hiệu chuẩn sự khác biệt,
đảm bảo mùa và tiết khí ở các địa phương thống nhất về mặt thời gian.
Vào thời đường, 1 dặm là 443 mét.
Phương pháp tính toán này được sử dụng từ thời Hán
cho đến tận thời đường Huỳn Tông.
Thế nhưng, bản thân Thái Sơ Lịch cũng có vấn đề.
Tức là cứ 800 năm sẽ có sai số một ngày.
Sai số này là do sai số của phương pháp đo lường và phương pháp tính toán.
Nhưng về sai số này, Lạc Hạ Hoàng cũng bó tay bất lực.
Nhưng ông cũng đưa ra lời tiên tri rằng
800 năm sau sẽ có một vị thánh nhân
có thể giải quyết được vấn đề này.
Lịch pháp không chính xác thì đó là vấn đề rất lớn rồi.
Ví dụ, ngày lễ Tết, các hoạt động cung tế và kỷ niệm
đều được sắp đặt căn cứ theo lịch pháp.
Nếu lịch pháp sai thì các hoạt động sẽ diễn ra sai ngày.
Ngoài ra, thiết kế lịch pháp thường thống nhất
với các sự kiện thiên văn lớn.
Ví như các hiện tượng thiên văn đông trí, hạ trí,
xuân phân, thu phân, nhật thực, nguyệt thực.
Nếu lịch pháp không chính xác
thì thời gian của tất cả những sự kiện này đều sai.
Sẽ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và thờ cúng.
Thế thì, vấn đề rất lớn rồi.
Do đó, đường Huyền Tông muốn hiệu chỉnh lịch pháp.
Thực ra, việc này không phải là trước đó chưa có ai làm thử.
Cao nhân thời sơ đường là Lý Thuần Phong
với danh hiệu thánh nhân
cho rằng mình ứng với lời tiên tri đó
nên đã tự khích lệ mình dốc sức cố gắng
đã sáng tạo ra lân đức lịch vào thời đường Cao Tông
tức là chỉ mới 50 năm trước khi Huyền Tông muốn hiệu chỉnh lịch pháp.
Phương pháp tính toán của lịch pháp này
lại hiển thị ra sai số với đo thực tế.
Huyền Tông không có cách nào khác
đành phải mời các bậc cao minh đến hiệu đính lịch pháp
nhưng cụ thể làm thế nào thì không ai biết.
Lúc này, tê tướng Trương Thuyết tiến cử một người với Huyền Tông
đó chính là Cao Tăng Nhất Hạnh.
Đường Huyền Tông lập tức triệu kiến Nhất Hạnh.
Huyền Tông hỏi rất khách sáo rằng
Đại sư, ngài có những sở trường nào vượt trội hơn người?
Nhất Hạnh mỉm cười trả lời rằng
Bần Tăng cũng không có tài gì, chỉ là trí nhớ tốt chút thôi.
Huyền Tông trong tâm nghi hoặc
Trí nhớ tốt thì đâu tính là bản sự gì?
Tuy nhiên cũng không nỡ lập tức đổi đi.
Vậy kiểm tra xem thế nào?
Huyền Tông cho người đem sổ sách
ghi chép tên các quan chức, nhân viên
làm việc trong Hoàng công ra để kiểm tra Nhất Hạnh.
Thay dám bê ra một trồng sổ sách cao ngút
Nhất Hạnh tiện tay lấy ra một quyển.
Rất nhanh chóng lật xong cả quyển
rồi chuyển cho Huyền Tông
và bắt đầu đọc tên trong sổ sách.
Huyền Tông nhìn vào sổ theo dõi
quả nhiên không sai một chữ.
Huyền Tông kiểm tra liền mấy quyển sổ sách
Nhất Hạnh đều trả lời trôi chảy
tất cả đều ghi nhớ hết
không sai một chữ khiến Huyền Tông
kinh ngạc không nói nên lời.
Tâm phục khởi phục liền từ bảo tọa
bước xuống hành lễ với Nhất Hạnh và nói
Ngài đâu phải là trí nhớ tốt một chút
Ngài quả là thần nhân.
Từ đó Huyền Tông gọi Nhất Hạnh là thần nhân.
Sau đó Nhất Hạnh bước vào làm việc
hỗn thiên tự cũng chính là bộ thiên văn.
Một thời gian không lâu sau
Trường An gặp đại nạn
Huyền Tông nghĩ vừa may
Nhất Hạnh hiệu sưng là cao tăng
vậy xem pháp lực của ông ấy như thế nào.
Thế là Huyền Tông hạ chỉ
thỉnh Nhất Hạnh cầu mưa.
Nhận được lệnh vua Nhất Hạnh cũng không lo lắng
chỉ đưa ra một yêu cầu
là tìm một đồ vật có hình dòng
ở trong Hoàng Cung thì cầu mưa mới thành công.
Huyền Tông sai quan nội thị
đưa Nhất Hạnh vào kho nội phủ tìm kiếm
tìm mấy ngày liền đều không có.
Tình hình hạn hán của Trường An
ngày càng nghiêm trọng.
Huyền Tông lòng dạ dối bời không yên thầm nghĩ.
Phải chăng Nhất Hạnh không đủ pháp lực
nên mượn cớ thoái thác.
Lại thêm 2 ngày nữa
Nhất Hạnh tìm đông một tấm gương đống cổ
có hình một con dòng cuộn.
Ben nói với Huyền Tông rằng
đã tìm được rồi chính là nó
đó là một con dòng thật.
Huyền Tông nghe xong bán tín bán nghi
Ben sang Nhất Hạnh hãy đi thử.
Nhất Hạnh đem theo chiếc gương cổ
đi lập đàn cầu mưa.
Quả nhiên lập tức có hiệu quả.
Ngày hôm sau thành Trường An mưa như chút nước
hạn hán đã được giải quyết.
Từ đó Huyền Tông càng khâm phục
và nghe theo lời Nhất Hạnh.
Một ngày nọ nhân viên tiếp đãi vào gặp
Nhất Hạnh và nói
Đại sư có một cục bà muốn gặp ngài
nói rằng có việc vô cùng quan trọng.
Nhất Hạnh bước ra ngoài xem
thì ra chính là cô vương năm xưa
người đã giúp đỡ ông thời thờ ấu.
Nhất Hạnh vô cùng vui mừng
vội vàng mời bà vương ngồi xuống
hàn huyên thăm hỏi.
Bà vương gặp Nhất Hạnh trước kiếp mở miệng
mà mắt đã dưng dưng chỉ thiếu chút nữa
là khóc hòa lên.
Thì ra con trai của bà vương phạm tử tội
đã bị tống vào tử tù
sẽ rất nhanh chóng bị hành hình.
Khi trò chuyện ở đầu đường cuối phố
bà vương biết được rằng
Trường Toại, cậu bé mà bà giúp đỡ năm xưa
nay là người có thể nói chuyện trước hoàng đế
chính là đại sư Nhất Hạnh.
Bà vương mong muốn Nhất Hạnh có thể
nói giúp với hoàng đế giảm hình phạt
cho con trai bà, ít nhất là không
bị chặt đầu. Lời thỉnh cầu này
khiến Nhất Hạnh rất khó xử
một mặt ông thấy mình không nên can dự
vào pháp luật, mặt khác
ông lại muốn bảo đáp ân đức của bà vương.
Ông suy nghĩ mãi, cuối cùng nói
Tôi luôn rất muốn bảo đáp
ân đức của bà, tôi có thể tặng
bà của cái gấp 10 lần
nhưng tôi thực sự không thể can dự
việc chấp pháp của hoàng đế.
Bà vương nổi giận, đập bàn đứng lên
chỉ vào Nhất Hạnh mà nói
Coi như ta không quen biết người
Nói rồi, bà vương quay người ra đi
Nhất Hạnh vội vàng đi theo
không ngừng xin lỗi, bà vương vẫn
không thèm để ý đến, tức giận đùng đùng
không quay đầu lại, cứ thế ra về.
Nhất Hạnh than thở một hồi
một mình trở về hỗn thiên tự
rồi ngồi xuống trầm tư suy nghĩ rất lâu
sau đó ông gọi mấy người
hầu tin kệ lại, ghé tay họ
Mọi người nghe rõ rồi, bèn chia nhau hành động
Ở một góc thành Trường An
có một cái vườn hoang
không có ai đến và cũng không có ai chú ý
Một ngày nọ, vào lúc chập tối
khi trăng vừa mới nhô lên trên
không có sao, trở thấy
một bầy động vật giống như lợn
sông vào vườn hoang và bị những người
mai phục ở đó dùng lưới bắt được tất cả
sau đó họ bỏ những con động vật này
vào trong những cái bao
và lặng lẽ vận chuyển đến hỗn thiên tự
Nhất Hạnh đang chở họ
đếm tổng cộng 7 cái bao
Ông liên bảo những người hầu bỏ 1 cái
vào vại lớn và đậy nắp ngỗ lên
rồi dùng bùn lục nhất phong kín miệng vại
Bùn lục nhất
là loại bùn mà đạo gia dùng để phong kín
lò luyện đan
Sau đó, Nhất Hạnh lấy bút chấm chu sa
viết hơn chục chữ phạm trên giải nghiêm phong
rồi dán lên miệng vải
Sáng sớm hôm sau, Huyền Tông vội vàng
sai người triệu kiến Nhất Hạnh
Vừa gặp, Huyền Tông liên nói
Vừa rồi, quan chức đứng đầu bộ thiên văn
đến báo cáo rằng
Đêm qua, 7 ngôi sao Bắc Đẩu
tự nhiên không xuất hiện
Đây có phải là niềm báo đại hung gì không?
Nhất Hạnh cúi người, chậm rãi nói
Thời Bắc Nghị, sao Hòa đã từng biến mất
Ngày nay, ngay cả Bắc Đẩu
cũng biến mất
Đây là việc từ cổ xưa đến nay chưa từng có
Đây là Thượng Thiên nghiêm khắc cảnh cáo Bệ Hạ
Huyền Tông bỗng trở nên căng thẳng
Nhất Hạnh nói tiếp
Bệ Hạ chỉ có dùng
đại ân, đại đức, phổ tế xã hội
thì mới có thể tiêu tai dài hạn
Những việc có thể cảm động Thượng Thiên
như thu gom an táng hay cốt người chết
không có ai trôn, phóng thích tù nhân
Nhất Hạnh nói một loạt
các việc, cuối cùng ông kiến nghị
Hoàng thượng, ngài hãy
đại xá thiên hạ đi
Huyền Tông ngay trong tâm nghĩ
Ngay cả Cao Tăng cũng nói thế này
Vậy hãy làm việc này thôi
Huyền Tông ngay lập tức ban chiếu thư
đại xá thiên hạ
Chiếu thư vừa ban ra
Tối hôm đó, quan thái sử
Điền Vào Cung báo cáo rằng
một ngôi sao trong số 7 ngôi sao bắt đầu
đã xuất hiện trở lại rồi
Nét mặt Huyền Tông vui mừng cho rằng
Nhất Hạnh quả là cao nhân
đã chỉ cho ông con đường chính xác
Quốc đại xá thiên hạ kéo dài 7 ngày liền
Cứ mỗi ngày lại xuất hiện
một ngôi sao. Đến ngày thứ 7
thì tất cả 7 ngôi sao bắt đầu
đã xuất hiện trở lại trên bầu trời
Huyền Tông thở phàng nhẹ nhõm
Còn phía bên kia, con trai của bà Vương
cũng vui mừng, sung sướng trở về nhà
Câu chuyện kỳ lạ
Nhất Hạnh bắt giữ 7 sao bắt đầu này
được ghi chép trong sách
Dậu Dương Tạp Trở và Tống Cao Tăng Chuyện
Để lý giải tại sao
Nhất Hạnh làm được điều thần kỳ trên
chúng ta hãy cùng tìm hiểu ở phần tiếp theo
Sau khi làm phép báo ân
Nhất Hạnh chuyên tâm, dốc lòng
bắt đầu công việc đo đạt thiên văn
Ông cho rằng sai số hiệu chỉnh
của lịch pháp trước kia
là bóng mặt trời
cứ một nghìn dặm sai lệch một tấc
không còn đúng nữa
Con số này chỉ là suy tính
Xưa nay chưa có ai đo lượng thực tế nghiệm chứng
Do đó, đo lượng thực tế để giải quyết
vấn đề này là cách tốt nhất
Lãnh thổ đại đường rộng lớn
rất phù hợp cho việc đo đạt thực tế này
Thế là, ông chỉ huy đội ngũ
từ Nam đến Bắc xây dựng 10 điểm quan trắc
bắt đầu từ Lâm ấp
quốc gia Champa Cổ
tức từ Quảng Bình đến Quảng Nam Việt Nam hiện nay
Một mạch cho đến điểm cực Bắc
là hồ Baikan ở Siberia
thuộc nước Nga ngày nay
với chiều dài theo đường chim bay khoảng 5000 km
trải dài 35 vị độ
từ vị tuyến 17
đến vị tuyến 52
Mỗi điểm quan trắc đều xây dựng một khuê biểu tiêu chuẩn
cao hơn 2 mét
chủ yếu đo vào ngày Chính Ngọ
ngày Hạ Chí và Đông Chí
Ngày Hạ Chí bóng mặt trời ngắn nhất
còn ngày Đông Chí thì bóng mặt trời dài nhất
Công tác đo lượng tiến hành 4 năm
Quốc lực hùng cường của đại đường
đảm bảo công việc được tiến hành thuật lợi
Các nhà thiên văn học đã đo đạt chính xác
ở các thành phố
cũng như nơi xa xôi, nhỏ lánh
Việc đo đạt và tính toán của Nhất Hạnh
dùng kiến thức lượng giác
thông qua chiều dài bóng mặt trời đo được
và chiều cao của trụ khuê biểu đã biết
tính ra được góc chiều xạ của mặt trời
và vị trí vĩ độ của khuê biểu
Làm thế nào mà Nhất Hạnh
lại biết được những trí thức này?
Nhà thiên văn học người Pháp
John Mark Burnett Biddle
nghiên cứu và suy đoán rằng
Nhất Hạnh đã sử dụng trí thức lượng giác
có khởi nguồn từ Ấn Độ
Vào thời đường, những trí thức này
thông qua giao lưu tôn giáo và văn hóa
đã lưu truyền vào chương nguyên rồi
Burnett Biddle nhận thấy rằng
sách khai nguyên chiêm kinh Thời Đường Huyền Tông
đã xuất hiện các biểu thức hàm số lượng giác
mà tác giả của bộ sách này
chính là học giả Ấn Độ Hù Đàm Tất Đạt
Nhất Hạnh làm việc ngày đêm
4 năm trời đã lật đổ thuyết
Bóng mặt trời cứ 1.000 dặm
sai lệch 1 tấc
Kết quả ông đo lường được là
Bóng mặt trời sai 1 tấc đối ứng với khoảng cách thực tế
là 250 dặm
tức là 110 km ngày nay
Đương thời, kết quả này đã lật đổ
số liệu địch Pháp 800 năm qua
Đương nhiên, độ chính xác không thể nào
sánh được với kết quả phép đo lường
sau này vì nó vẫn còn có
sai số khá lớn
Ví dụ, cuối thế kỷ 18, kết quả đo lường
của các nhà khoa học Pháp
là bóng mặt trời sai lệch 1 tấc
tương ứng với khoảng cách 79 km
Nhưng từ thế kỷ thứ 8
đến thế kỷ 18, trong 1.000 năm
kết quả đo của Nhất Hạnh vẫn là
chính xác nhất
Sau đó, Nhất Hạnh dựa vào kết quả đo đạc này
dùng kiến thức lượng giác
từ trên một đường kinh tuyến
tính toán ra số liệu ở nhiều địa điểm hơn nữa
Không lâu sau khi hoàn thành công việc
chủ yếu trong việc hiệu chỉnh lịch pháp này
Nhất Hạnh quay trở về chùa
ở núi Tung Sơn, tiếp tục tu hành
ở chỗ thiền sư phổ tịch
Các công việc còn lại do bộ thiên văn hoàn thành
Họ dùng số liệu của Nhất Hạnh
và phương pháp tính toán của ông
đã hiệu chỉnh lịch pháp cũ
Sau đó, ban hành lịch mới là Đại diễn lịch
vào năm 727
Thời điểm này hoàn toàn trùng khớp
với tiên tri của Lạc Hạ Hoàng
thời Hán. 800 năm sau
thành nhân xuất hiện hiệu chỉnh lịch
Vào năm Đại diễn lịch chính thức ban hành
Nhất Hạnh cũng mỉm cười viên tịch
Có thể nói, ông chính là cao tăng
khoa học kỹ thuật cực hiếm
có trong lịch sử Phật giáo
Có thể nói, với kiến thức uyên bác về thiền văn học
không khó để Đại sư Nhất Hạnh
dự đoán thời điểm nào trong sao
bắt đầu, sáng hay tắt
Vì thế, đường huyền Tông đã bị ăn
một cú lửa ngoạn ngục
Câu chuyện ngày hôm nay đến đây là kết thúc
Cảm ơn các bạn đã theo dõi đến hết video
Đừng quên để lại ý kiến và quan điểm của mình
ở bên dưới phần bình luận
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn
trong những video tiếp theo
