Giới thiệu văn hóa đặc trưng của dân tộc Chăm NSX 2024

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#Su6 #Sử6 #su6vietnam
#aulac #vanlang #vanlangaulac #vuahung
#champa #thanhdiamyson
Giới thiệu văn hóa đặc trưng của dân tộc Chăm (NSX: 2024)
Dân tộc Chăm là một trong những dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở Việt Nam, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Nam Trung Bộ như Ninh Thuận, Bình Thuận và một số vùng lân cận. Người Chăm nổi bật với nền văn hóa gắn liền với vương quốc Champa cổ xưa, để lại nhiều di sản kiến trúc và nghệ thuật độc đáo. Họ có ngôn ngữ riêng, chữ viết riêng và vẫn duy trì nhiều phong tục, lễ hội truyền thống đặc sắc. Dân tộc Chăm góp phần tạo nên sự phong phú và đa dạng trong bức tranh văn hóa của các dân tộc Việt Nam.
Dân tộc Chăm, một trong những dân tộc thiểu số đa dạng và độc đáo tại Việt Nam,
sở hữu một văn hóa đặc trưng, góp phần quan trọng vào sự đa dạng và phong phú về các dân tộc ở đất nước ta.
Với số dân là 178.948 người, người Chăm sống dọc theo riêng hải miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận.
Tuy nhiên, người Chăm hiện nay được chia làm hai bộ phận,
một số sống ở các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận theo đạo Bà La Môn.
Còn lại sống ở các tỉnh Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai theo Hồi giáo mới.
Dân tộc Chăm có ngôn ngữ, phong tục tập quán và trang phục truyền thống đặc trưng,
đã tạo nên một văn hóa độc đáo là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Về nhà ở truyền thống
Trong làng Chăm, các ngôi nhà bố trí rất đẹp,
các ngõ ngách đường trong làng theo hướng Bắc, Nam, Đông, Tây rất rõ.
Trong ba nhánh Chăm sinh sống ở nước ta gồm Chăm Bà La Môn, Chăm Bà Ni, Chăm Islam
thì khuôn viên nhà truyền thống của nhóm Chăm Bà La Môn ở tỉnh Ninh Thuận
là quần thể kiến trúc thể hiện rõ nét văn hóa truyền thống và lối sống đặc sắc của người Chăm nhất.
Nguyên vật liệu để làm nhà truyền thống của người Chăm hầu hết được làm từ gỗ, mái lập bằng chanh.
Mọi việc được tiến hành hết sức cầu kỳ và tỉ mỉ từ việc đóng cọp,
chọn hàng rào để đánh dấu khuôn viên ngôi nhà.
Người Chăm theo chế độ mẫu hệ, con gái lấy chồng vẫn ở nhà bố mẹ đẻ,
chồng phải theo vợ về ở dễ.
Trong đại gia đình mẫu hệ người Chăm, mỗi cặp vợ chồng chị em gái có một ngôi nhà riêng.
Vì thế, mỗi khuôn viên nhà ở truyền thống của người Chăm không chỉ có một ngôi nhà,
mà số lượng nhà phụ thuộc vào việc gia đình đó có mấy người phụ nữ đã kết hôn.
Ngoài ra, số lượng ngôi nhà trong khuôn viên còn phụ thuộc vào
việc gia đình đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội.
Gia đình thuộc tầng lớp chức xác quý tộc, khuôn viên sẽ có đủ 7 ngôi nhà,
còn tầng lớp dân nghèo thường chỉ có 5 ngôi nhà.
Trong 7 ngôi nhà của tầng lớp chức xác quý tộc bắt buộc phải có 5 ngôi nhà ở.
Đầu tiên là nhà bếp, thang dinh, nhà tục, thang yêu, nơi dành cho đôi vợ chồng mới cưới ở.
Đây là ngôi nhà quan trọng nhất của người Chăm vì mọi nghi lễ của gia đình,
tang ma, cưới hỏi đều diễn ra nơi đây.
Tiếp đó là nhà ngang, thang lâm, nơi bố mẹ và các anh chị em chưa vợ, chưa chồng ở.
Sau nhà ngang là nhà song hay còn gọi là nhà kể, thang mư y âu.
Đây là ngôi nhà mà vợ chồng người chị gái đầu sẽ ở khi cô em gái thứ 2 lấy chồng,
nhường lại ngôi nhà tục cho vợ chồng em gái.
Cuối cùng là đến nhà cao, thang tông, ngôi nhà dành cho người già, người có chức xác.
Đối với tầng lớp chức xác quý tộc thì có thêm 2 ngôi nhà nữa là nhà để công cụ cày bừa quốc
và nhà để cối xay, cối giã.
Trong số những ngôi nhà để ở thì thang y ô, nhà tục,
là nhà quan trọng nhất giữ vị trí đầu tiên trong khuôn viên.
Thang y ô có một tên gọi khác nhà lũng là tên gọi dành cho tầng lớp dân nghèo.
Tương tự, nhà ngang, thang lâm sẽ gọi là thang cần.
Đây chính là biểu hiện của sự phân hóa xã hội trong đồng bào người Chăm.
5 ngôi nhà chính của người Chăm thể hiện như 5 ngón tay trên 1 bàn tay hoặc thể hiện cho ngũ hành.
Nếu thiếu 1 trong 5 cái này thì mọi vật trên thế gian này sẽ không tồn tại.
Và nếu thiếu 1 trong 5 ngôi nhà này thì khuôn viên không đủ để phát triển bền vững.
Đặc biệt trong ngôi nhà thang lâm, có một vật dụng giống như cái dương để cất giữ
của cải, tiền bạc, những món đồ quý giá. Đó cũng là nơi ngủ nghỉ của ông chủ nhà.
Khi cần lấy món đồ nào đó được giữ trong dương thì người Chăm phải chọn ngày tốt
bởi theo quan niệm của đồng bào, ngày không tốt thì lấy 1 thôi sẽ đi theo 10.
Về kiến trúc tiêu biểu, hệ thống kiến trúc đền tháp.
Hệ thống kiến trúc đền tháp đang trở thành sản phẩm du lịch,
thu hút nhiều du khách đến với các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Bình Định.
Trong đó nổi bật là những tháp cổ rêu phong như lâm ấp cổ thành tại Quảng Bình,
tháp Bạc, tháp Bình Lâm, tháp Cánh Tiên và thành Đồ Bàn, tháp Thủ Thiện, tháp Hưng Thạnh tại Bình Định,
tháp Ngạn tại Phú Yên, tháp Vô Na Ga tại Khánh Hòa, cũng tháp Hòa Lai,
tháp Po Long Ga Rai và tháp Po Rom tại Ninh Thuận, cũng tháp Po Dơm, tháp Phú Hải tại Bình Thuận.
Đặc biệt, tại Quảng Nam, nơi có nhiều ngọn tháp đồ sộ và đa dạng nhất như khu di tích Mỹ Sơn
gồm 71 ngôi tháp, theo thời gian nay chỉ còn 21 tháp. Ngoài ra còn có tháp Bằng An, tháp Chiên Đàn,
tháp Hưng Mỹ. Về kiến trúc, qua những di tích đền đài mà người Chăm theo đạo Bà La Môn để lại,
các nhà nghiên cứu đánh giá là người Chăm đã tới trình độ cao về nghệ thuật kiến trúc.
Các tháp Chăm được đánh giá ngang hàng với các di tích An Co của Campuchia hay các đền tháp khác của Đông Nam Á.
Về trang phục truyền thống, người Chăm ở Việt Nam vẫn theo chế độ mẫu hệ,
nên người phụ nữ được coi là trung tâm lưu giữ văn hóa. Vậy nên đối với người phụ nữ,
họ luôn diện trên mình bộ trang phục của dân tộc mình. Họ mặc những chiếc áo dài nhiều màu sắc từ xanh,
tỏ, tím, vàng đến các sắc trầm và có hoa văn in hoặc theo nổi.
Những chiếc áo dài đã tôn lên nét duyên dáng của người phụ nữ Chăm. Người phụ nữ Chăm coi áo dài
là một thứ thiêng liêng và quý giá, mà họ sẽ mặc vào các lễ hội lớn của dân tộc mình,
hay khi có mặt trong lễ cưới hỏi. Trang phục nam giới người Chăm đơn giản hơn nhiều so với phụ nữ,
thường ngày họ sẽ mặc đồ tự do khá giống với người Kinh, một vài dịp khác quan trọng sẽ là sơ mi,
quần Âu hay bò như thường. Vào các dịp lễ truyền thống, họ sẽ mặc áo dài,
dưới quấn xà rông và đội mũ. Đa phần đồ của nam giới sẽ có màu trắng tượng trưng cho sự trong sạch.
Trước đây, trang phục của người Chăm đều làm từ tơ luộng, xuất phát từ nghề truyền thống của dân tộc mình.
Hiện nay, người Chăm đã sử dụng nhiều chất liệu hơn trước để có thêm nhiều màu sắc đa dạng,
cũng như phù hợp với kinh tế của từng người. Nhưng dù là chất liệu gì,
thì người Chăm vẫn luôn đạt sự chỉnh tru khi lựa chọn trang phục trong mỗi dịp lễ quan trọng.
Về lễ hội truyền thống, lễ hội KT. Lễ hội KT, còn được gọi là Em Bang KT,
là một lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm. Đây là một lễ hội dân gian thiêng liêng,
đặc sắc và rất quan trọng. Lễ hội tổ chức nhằm tưởng nhớ đến những người đã khuất,
tưởng nhớ đến các vị anh hùng dân tộc được người Chăm tôn vinh làm thần.
Lễ hội KT thường được tổ chức vào ngày 1 tháng 7 theo lịch của người Chăm,
khoảng ngày 25 tháng 9 đến ngày 25 tháng 10 dương lịch. Người dân tập trung tại các đền tháp cổ kính,
thưởng thức các điệu múi nhạc dân gian trong kho tàng âm nhạc của người Chăm.
Mọi người nghỉ ngơi và tràn ngập niềm vui, đi thăm viếng chúc tụng lẫn nhau.
Lễ hội được chia làm hai phần là phần lễ và phần hội.
Lễ hội KT được bắt đầu bằng nghi lễ cúng tế tại đền tháp,
dưới sự chỉ đạo của Thầy Cả Sư hay còn gọi là người chủ lễ.
Thầy sẽ kéo đàn ca nhi và hát vang bài thánh ca, bà bóng làm lễ dâng lên các vị thần.
Sau đó chủ lễ sẽ chủ trì lễ tắm tượng được thực hiện bởi một số tu sĩ bà Lamôn.
Các lễ vật trong lễ hội KT tại đền tháp sẽ bao gồm 1 con dê lớn,
3 con gà để làm lễ tẩy uế trong tháp, 5 mâm cơm với canh và thịt dê,
1 mâm cơm với muối vừng, thêm 3 ổ bánh gạo cùng hoa quả.
Ngoài ra, người dân còn chuẩn bị thêm rượu, trứng, xôi trẻ, trầu cao.
Đây là phần lễ vật mang lên cúng trên các tháp,
còn phía dưới chân tháp sẽ là hàng trăm mâm lễ khác nhau do những người dự lễ thành tâm chuẩn bị.
Quy trình lễ hội KT tại tháp sẽ được diễn ra như sau.
Đầu tiên là nghi lễ người chăm đón y phục từ người em Út Gia Gờ Lai mang từ trên núi xuống.
Lễ dước y phục thường được diễn ra vào lúc 7 giờ sáng,
tất cả các nghi thức đều được thực hiện rất trang trọng, tôn nghiêm.
Tiếp theo, người chủ lễ sẽ mở cửa tháp để mời thần linh về dự và thụ hưởng lễ vật mà người dân dâng lên.
Sau khi thực hiện mở cửa tháp sẽ là lễ tắm tượng thần, theo ngôn ngữ của người chăm là Mê Nây Giang.
Tiếp đến là lễ mặc y phục cho tượng thần Anguay Khan A Capo,
cuối cùng là phần đại lễ A Dao Ta Ma là quan trọng nhất.
Phần đại lễ bắt đầu vào lúc 9 giờ sáng, kéo dài trong khoảng 3 tiếng đến 11 giờ trưa.
Sau khi hoàn thành, người dân sẽ trở về làng để tiếp tục các nghi thức lễ hội.
Nghi thức cúng lễ hội ca tê tại làng sẽ được tổ chức song song với phần hội.
Trước khi lễ hội diễn ra, dân làng đã cùng nhau phân công quét dọn đền thờ,
dọn dẹp và trang hoàng cho nhà làng, chuẩn bị sân bãi, đồ ăn, thức uống.
Bên cạnh đó, người dân còn chuẩn bị những tiết mục văn nghệ để góp vui trong lễ hội.
Những nghi thức làm lễ tại làng cũng được thực hiện trang trọng không kém các nghi lễ trên đền tháp.
Theo tín ngưỡng thì mỗi làng sẽ thờ một vị thần khác nhau,
nhưng tự trung lại đều là cúng tế thần làng, tương tự như người kinh thờ thành hoàng.
Chủ tế tại làng thường không phải chức sắc tôn giáo, mà sẽ là người uy tín, được dân làng tin tưởng.
Ông sẽ thay mặt cho dân làng để dân cúng lễ vật lên thần,
và cầu mong được phù hộ phước lành cho tất cả người dân, gia đình trong làng bản.
Kết thúc lễ hội ca tê ở làng thì người chăm sẽ trở về nhà để làm lễ.
Chủ lễ sẽ là người lớn tuổi nhất trong tộc họ, thay mặt cả gia đình dân lễ lên tổ tiên.
Tất cả những thành viên trong gia đình đều sẽ có mặt đông đủ,
trang phục chỉn chu, thành tâm cầu nguyện tổ tiên phù hộ để có sức khỏe, dồi dào, làm ăn phát đạt.
Vì vậy, lễ hội ca tê cũng mang ý nghĩa gắn kết gia đình,
là dịp để những người con xa xứ trở về đoàn tụ cùng người thân.
Về di sản văn hóa đặc trưng, văn hóa của dân tộc Chăm được thể hiện qua nhiều di sản văn hóa đặc biệt.
Trong kiến trúc, đền tháp Bonaga, tháp Champo, Longarai và tháp Porom
là những công trình kiến trúc nổi tiếng thể hiện tài năng của người Chăm.
Cùng với kiến trúc đền tháp độc đáo,
người Chăm còn giữ gìn nhiều nghề thụ công truyền thống như rệt thổ cẩm,
chế tác gốm, tạo nên những sản phẩm độc đáo và tinh tế.
Hòa văn trong rệt thổ cẩm Chăm không chỉ mang tính trang trí,
giá trị thẩm mỹ mà còn phản chiếu đặc trưng sinh hoạt văn hóa, xã hội và tôn giáo Chăm.
Thông qua hòa văn có thể phân biệt giới tính, dai cấp, địa vị xã hội, chức sắc tôn giáo.
Gốm của người Chăm nổi tiếng với làng gốm Bầu Trúc, Ninh Thuận.
Ngày nay, người thợ gốm làng Bầu Trúc vẫn duy trì cách làm gốm mà cha ông đã làm gần ngàn năm nay.
Đó là những sản phẩm được tạo ra bằng kỹ thuật độc đáo,
mà người ta hay gọi bằng cái tên rất dân dã, làm bằng tay, xoay bằng mông.
Người thợ gốm đi giật lùi, tay bắt từng lọ đất, tay trong thì ép,
tay ngoài xoa để biến những khối đất vô chi, vô giác thành sản phẩm gốm độc đáo,
độc bản và mang đậm nét văn hóa Chăm.
Bên cạnh đó, người Chăm còn sáng tạo những nhà cụ tạo nên giá trị âm nhạc,
nghệ thuật dân gian đặc sắc, không thể lẫn với dân tộc khác như chống Di Nang,
Paranung, Ken Saranai, Đàn Ca Nhi, Hà Ga, chống Con, Chiêng, A Sang, Tù và Tên,
nhà cỏ bằng hai dây gỗ. Đây là những nhà cụ điển hình của dân tộc Chăm,
trong đó bộ ba chống Paranung, Di Nang và Ken Saranai không thể tách rời nhau trong các lễ hội.
Nhà cụ Chăm không chỉ là sản phẩm vật chất đơn thuần,
mà còn là phương tiện biểu diễn nghệ thuật mang lại biểu cảm thẩm mỹ trong đời sống tâm linh.
Trải qua nhiều biến động về thời gian, đến nay người Chăm vẫn giữ được những giá trị mà người xưa để lại.
Những giá trị này đã góp phần làm nên nét đẹp của 54 dân tộc trên mảnh đất hình chữ S.
