🤔Địch Nhân Kiệt: Quan Liêm Duy Nhất Sống Sót Dưới Tay Võ Tắc Thiên?

Đình Sự
538 người theo dõi
Bạn nghĩ một vị quan liêm chính có thể tồn tại bao lâu trong triều đại tàn bạo nhất lịch sử phong kiến Trung Hoa?
Bạn tin rằng giữa vòng xoáy quyền lực đẫm máu của võ tắc thiên,
một người đàn ông có thể vừa giữ nguyên tắc, vừa bảo toàn mạng sống,
vừa khiến nữ hoàng đế hung bạo phải kính nề.
Đa số sẽ nói điều đó là không tưởng.
Nhưng lịch sử đã chứng kiến một ngoại lệ kỳ diệu,
một nhân vật khiến ta phải suy ngẫm về nghệ thuật sinh tồn trong trốn thăm cung,
Đây không phải chuyện ngụ ngôn.
Đây là cuộc đời thực của địch nhân kiệt,
người đàn ông duy nhất mà võ tắc thiên gọi là quốc lão mà không dám xưng danh.
Cổ kim thư quán, nơi quá khứ soi sáng tương lai.
Mỗi câu chuyện lịch sử là một tấm gương,
phản chiếu không chỉ thời đại của nó mà còn cả chính bạn ở hiện tại.
Hãy cất video này vào thư viện cá nhân bởi những bài học về quyền lực,
về sự sống còn,
về nghệ thuật làm người trong thế giới đầy nguy hiểm không phải để biết một lần rồi quên,
mà để thấm dần như trà.
Mỗi giai đoạn cuộc đời sẽ mang đến một tầng nhận thức mới.
Năm 630, tại Tịnh Châu, tỉnh Thái Nguyên,
một đứa trẻ trào đời trong gia đình địa chủ.
Cha mẹ đặt tên là địch nhân kiệt Tự Hoài Anh.
Ai có thể ngờ rằng đứa bé này sẽ trở thành người định hình vận mệnh một triều đại.
Nhưng số phận chưa bao giờ tự nhiên mà đến.
Nó được rèn từ những ngày tháng khổ luyện,
từ quyết tâm phi thường của một thiếu niên không cam lòng để bản thân chỉ là một tên trong sổ đinh.
Địch nhân kiệt niên thiếu đã biết học hành đến quên ăn bỏ ngủ.
Không phải kiểu chăm chỉ thông thường mà người ta thường ca ngợi,
mà là một thứ ám ảnh với chi thức, một cơn khát không thể dập tắt.
Mỗi ngày ông đọc hàng nghìn chữ,
nghiên cứu sâu kinh điển nho ra, tìm tòi bách ra chi tử.
Bất kể ngày đêm, không phân biệt nắng mưa,
người đời tưởng ông sẽ trở thành văn nhân lỗi lạc, thi sĩ tài hoa.
Họ nhầm.
Bởi vẻ bề ngoài của một học giả không thể che lấp được bản chất trầm tĩnh,
khôn ngoan và quan trọng nhất là kiên định của ông.
Đây chính là điểm mấu chốt mà nhiều người học giỏi ngày nay vẫn chưa thấu hiểu.
Chi thức chỉ là công cụ.
Nó trở nên hữu dụng khi được kết hợp với tính cách và nguyên tắc.
Địch nhân kiệt không học để trở thành người có học,
mà học để trở thành người có dụng.
Sự khác biệt này, dù nhỏ nhoi trong lời nói,
nhưng to lớn trong hành động đã tạo nên cả một cuộc đời phi thường.
Khi lớn lên, địch nhân kiệt dễ dàng đỗ kỳ thi minh kinh,
khoa mục quan trọng nhất trong chế độ khoa cử thời đầu nhà đường.
Đây không chỉ là kỳ thi tiến sĩ thông thường,
mà là cánh cửa duy nhất để bước vào quan trường,
nơi định đoạt số phận hàng triệu người.
Từ đây, hành trình chính thức bắt đầu,
nhưng không phải con đường dải hoa hồng.
Chức vụ đầu tiên của địch nhân kiệt là tham quân ở Biện Châu,
giúp việc và tham mưu cho vương gia và đại tướng quân.
Đây là vị trí quan trọng,
cho phép ông tiếp cận nhiều sách vở,
tăng thêm kinh nghiệm thực chiến trong bộ máy quyền lực.
Nhưng cũng từ đây, tính cách ngay thẳng,
trung thực, tôn trọng vương pháp của ông bắt đầu gây ra những rắc rối đầu tiên.
Địch nhân kiệt không nể sợ bọn quyền quý,
không kiêng rẻ con ông cháu cha,
ông xử án theo luật, không thiên vị, không ngoại lệ.
Điều này nghe thì hợp lý,
nhưng trong thực tế quyền lực phong kiến lại là một thảm họa,
bởi ai cũng muốn luật pháp nghiêm minh,
miễn là không áp dụng với mình.
Nhiều lần địch nhân kiệt bị vu cáo,
bị ganh ghét,
bị súng nhau đẩy vào chỗ chết.
Nhưng may mắn đã đến,
một viên quan tên là Diêm Lập Bản
được cử đến tra xét tội trạng của địch nhân kiệt.
Người này không phải tên nịnh thần thường thấy,
mà là người biết nhìn nhận đúng sai,
biết phân biệt người tài.
Diêm Lập Bản nhận ra địch nhân kiệt
có tiềm năng trở thành trụ cột triều đình.
Ông không những không xét tội,
mà còn tiến cử địch nhân kiệt
lên chức pháp tàu tham quân tại Tín Châu,
nắm quyền phán xét trong ba quân.
Đây là một bài học sâu sắc
về nhân quả trong quan trường.
Địch nhân kiệt không cúi đầu trước quyền thế,
không thay đổi nguyên tắc để mua chuộc ân sống,
nhưng chính điều đó lại khiến ông được người
có tầm nhìn trọng rộng.
Nếu ông đã lụy theo, đã nịnh nọt,
đã sẵn sàng bẻ cong luật pháp
để thảo mãn quyền quý,
thì Diêm Lập Bản sẽ chỉ thấy
một tên quan lại tầm thường,
không đáng ghi nhớ.
Đến năm 676, địch nhân kiệt
được triệu về triều đình,
giữ chức đại lý thừa,
phụ trách hành mục,
được gần gũi hoàng đế.
Ông tận tâm ra sức,
chỉ trong thời gian ngắn
đã xem xét tất cả các vụ án
tổn động lên tới hơn một vạn.
Giải quyết song xuôi, công bình,
không một lầm lỗi,
ai nấy đều phải kinh ngạc.
Hãy tưởng tượng con số đó,
một vạn vụ án,
mỗi vụ là một mạng người,
một gia đình, một số phận.
Trong thời đại mà coi mạng người như cỏ rác,
địch nhân kiệt đã làm gì?
Ông xử án theo hướng có lợi cho tội nhân.
Đây là điều cực kỳ mới mẻ,
gần như cách mạng trong tư duy pháp
lý thời phong kiến,
bởi luật thời ấy tàn bạo, chuyên chế
nhằm thị uy và chấn áp
hơn là răn đe và cải tạo.
Địch nhân kiệt hiểu rằng
pháp luật không phải để giết người,
mà để trị người.
Sự khác biệt này tạo nên tất cả.
Một xã hội giết người tùy tiện
sẽ sống trong sợ hãi và căm thù.
Một xã hội xử phạt đúng tội
cho người sửa sai mới có thể ổn định lâu dài.
Nhưng ít người nhận ra điều này,
còn ít hơn nữa
những người dám thực thi nó
khi đứng trước áp lực từ hoàng quyền.
Có một vụ án nổi tiếng
minh chứng cho tài năng và bản lĩnh
của địch nhân kiệt.
Tà Uy Vệ Đại tướng quân quyền thiện tài
và quan hữu dám muôn trùng lăng tướng Phạm Hoài Nghĩa
vô tình cho lệnh hạ một cây bách
tại chiêu lăng của Lý Thế Dân,
lập tức bị đưa sang Đại Lý Thừa
xét tội.
Theo quan điểm thời ấy, lăng miếu là nơi
linh thiêng không ai được xâm phạm.
Lăng của Hoàng gia càng nghiêm khắc.
Đốn cây chặt gỗ tại lăng miếu
có thể bị ghép vào tội đại nghịch bất đạo
nếu cố ý thì chu di tam tộc.
Hai vị quan này vô ý
nên chiếu theo luật sẽ bị cách chức
cho về làm thường dân.
Nhưng đường Cao Tông lấy chữ hiếu làm cớ
nhất quyết phải sử tử hai người.
Địch nhân kiệt
không theo ý chỉ hoàng đế.
Ông viện dẫn vương pháp cho rằng
vô ý thì không thể ghép vào tội chết
xin tha cho họ. Đường Cao Tông
giận dữ, mấy lần hạ chỉ dụ
nhưng địch nhân kiệt vẫn giữ vững quan điểm.
Cuối cùng Cao Tông triệu ông vào cung
mắng ông là kẻ đại nghịch
dám chống lại hoàng đế.
Địch nhân kiệt bình tĩnh đáp
đời kiệt trụ hết sức tàn bạo
nhưng thần vẫn dám đứng ra can ngăn
những việc vô đạo. Nay thần làm quan
dưới triều minh đế, không phải lo lắng
sợ hãi như đời kiệt trụ
thì tại sao không gìn giữ vương pháp cho công bằng
để thiên hạ hiểu được đức độ
và sự anh minh của hoàng đế.
Thấy Cao Tông có ý lắng nghe
địch nhân kiệt tiếp tục dẫn chứng
án lệ đời nhà Hán.
Thời Hán văn đế có tên trộm lấy vòng ngọc
trước miếu đường Cao Tổ.
Văn đế giận dữ, giao cho đình quý
Trương Thích Chi dặn phải trừng trị thích đáng.
Trương Thích Chi dựa vào
luật xét sự tội chém đầu giữa trợ
nhưng văn đế không bằng lòng
đòi tra xét chu di toàn gia tộc.
Trương Thích Chi lột máu
tỏ ý sẵn sàng chịu tội
tấu rằng dựa vào pháp lệnh
chỉ có thể xử vào tội chết mà thôi.
Nếu một người phạm tội lấy cắp
vật cúng ở tông miếu mà ghép vào diệt tộc
thì sau này có tên nào dám
lấy cả đất ở chiêu lăng thì phải xử ra sao?
Cuối cùng Hán văn đế
phải chấp nhận.
Nay thần dựa vào pháp luật đại đường
thì quyền thiện tai và phạm hoài nghĩa
không đến tội chết.
Bệ hạ lại xuống chiếu bảo xử tử hai người
thì không đúng với chính pháp lệnh
mà bệ hạ đã ban hành.
Pháp lệnh không thể thay đổi tùy tiện
nếu không dựa vào đâu để cai trị
muôn dân làm cho tâm phục khẩu phục.
Cao tông đối lý
tuy giận địch nhân kiệt
nhưng đành phải xuống lệnh tha chết cho hai người.
Đây là một nét mới mẻ trong tư duy pháp lý
đó là sử dụng án lệ
các đời trước coi như điều luật
bổ sung cho những điều luật ban hành
chưa rõ ràng, còn thiếu sót.
Địch nhân kiệt không những có tinh thần công bằng
mà còn biết sáng tạo để giữ gìn pháp luật
làm đúng chức trách
không sợ hãi hay muốn su nịnh hoàng đế
mà làm trái lương tâm, ngược pháp luật.
Bạn nghĩ trong cuộc sống hôm nay
có bao nhiêu người dám đứng lên
bảo vệ nguyên tắc khi xếp họ
khi người có quyền lực yêu cầu họ làm điều sai?
Bạn nghĩ có bao nhiêu người
sẵn sàng đánh cực sự nghiệp
thậm chí mạng sống của mình để bảo vệ cái đúng?
Đây không phải câu hỏi tu tử
đây là câu hỏi bạn cần
tự trả lời cho bản thân.
Với tinh thần ấy, địch nhân kiệt
dùng chức vụ thị ngự sử
hạch tội khá nhiều tham quan gian thần
không sợ hãi dù họ ở chức vụ cao
lần lượt tư nông vi hoảng cơ
lợi dụng chức trách thu vén
của cải cá nhân để xây dựng phủ đệ
sang trọng bị cách chức cho về làm thường dân.
Tà tư lang vương bản lập
rất ngang ngược lộng quyền
mọi người đều khiếp sợ không dám tố cáo
riêng địch nhân kiệt thẳng thắn
dâng sớ hạch tội hắn
đường Cao Tông chấp nhận
đẩy vương bản lập đến Biên Cương làm gương cho quần thần.
Nhờ tài năng và sự tận tâm
chẳng bao lâu địch nhân kiệt
được thăng lên thứ sửa Ninh Châu
rồi sau đó làm Giang Nam Tuần Phủ Sứ
danh tiếng ông vang rộn
khiến lúc Triều Đình Đại Đường
đang gặp hỗn loạn bởi việc Cao Tông
đưa võ Tắc Thiên về Triều
làm những điều càn quấy phế chốt thái tử Lý Trung
vẫn nghe được tiếng tâm
của địch nhân kiệt vang xa.
Cao Tông mê đắm võ Tắc Thiên
Triều Ý Mỹ Nhân làm những điều càn quấy
phế chốt thái tử Lý Trung xuống
làm lương vương rồi sau đó
vẫn không thoát khỏi bàn tay độc thủ của họ võ
bị hạ độc mà chết.
Để sửa soạn cho việc thao túng của mình
võ Tắc Thiên từng bước diệt trừ
các đại thần cố lão
trong đó người đầu tiên là Trường Tôn Vô Kỵ
Trường Tôn Vô Kỵ
là người tham gia phát động tích cực nhất
biến cố huyền vũ môn
kiến lập nên nhà đường.
Do vậy qua mấy đời vua vẫn giữ chức thừa tướng
mà không ai dám tranh giành hay dị nghị.
Vô Kỵ rất cương trực
thấm ghét bọn xa dâu vô tài bất thường
vì vậy không ít lần xung đột
với phe của Hứa Kính Tông
tên gian thần làm tay sai cho võ Tắc Thiên.
Trường Tôn Vô Kỵ là lão thần thanh liêm cẩn trọng
nên dù võ Tắc Thiên hết sức
vạch lá tìm sâu
vẫn không thể nào ghép tội cho ông ta.
May sao về sau có hai tên
Vì Quý Phương và Lý Giào
bị tố cáo toan phản nghịch.
Hứa Kính Tông nhân đó sai hai tên này
vu cáo cho Trường Tôn Vô Kỵ là kẻ cầm đầu.
Tuy Cao Tông không tin rằng
Trường Tôn Vô Kỵ đang là thừa tướng
có công lớn với triều đình
mà lại toan tính phản nghịch
nhưng võ Tắc Thiên nhất quyết viện vào cỡ này
khóc lóc đòi Cao Tông phải trừng trị.
Cuối cùng vị Hoàng đế
u mê vị sắc đẹp ấy
hạ xe đeo lột hết chức tước của Vô Kỵ
lấy lại toàn bộ đất phong và đẩy đi kiềm châu.
Trường Tôn Vô Kỵ mất chức rồi
võ Tắc Thiên chẳng còn gì lo ngại.
Lần lượt biến trừ
tội lương làm đô đốc đảm châu
các con của ông đều bị giết
một cách mờ ám trên đường đẩy xuống ái châu.
Vẫn chưa vừa ý
tháng ba năm hiển Khánh thứ tư
võ Tắc Thiên ghép lễu bất vào tội chết
đồng thời giả chiếu
chỉ bắt trường Tôn Vô Kỵ đang ở đất đầy
phải tự xử.
Riêng hàn viên trước kia cực lực phản đối
lập võ Tắc Thiên làm hoàng hậu
thì khi đã chết rồi vẫn bị đào
mà vứt thi thể xuống sông cho cá ăn.
Khi đã diệt trừ
tất cả triều thần chống đối
võ Tắc Thiên tiến thêm bước nữa.
Mỗi lần Cao Tông thiết triều
võ Tắc Thiên đều ngồi sau màn nghe
quần thần tâu báo.
Cao Tông chỉ quyết định
khi đã có dấu hiệu chấp thuận
chẳng khác gì con dối ngồi trên ngai vàng.
Võ Tắc Thiên lộng quyền
tới mức phế bỏ những người con khác
của Cao Tông.
Khi phế bỏ Lý Hiền, đưa Lý Chiết lên làm thái tử
cho rằng đã chịu ơn của mình
thì tất không thể phản kháng.
Lần này sự việc không đúng như tính toán
của võ Tắc Thiên.
Khi Cao Tông băng hà, Lý Chiết lên ngồi
hoàng đế lúc 27 tuổi
xưng hiệu là Trung Tông.
Vị vua trẻ còn nhiều hăng hái
không hề sợ võ Tắc Thiên.
Tự mình quyết định thăng nhà phụ
Vi Huyền Trinh giữ chức quan tầm thường
ở Tấn Châu lên làm thứ sử dự Châu.
Thấy bùi viêm dâng sớ ngăn cản
Trung Tông non trẻ người
giả nóng nảy nói Giang Sơn nhà đường
là của Chẩm, Chẩm muốn cho hết họ Vi
cũng được, sao ngươi có quyền sen vào.
Thấy bảy lôi thôi
bùi viêm không dám cãi lại
tức giận chạy vào mách võ Tắc Thiên.
Bà ta nổi giận lôi đỉnh
tuyên bố bỏ Trung Tông
đẩy xuống Khâm Châu.
Cũng ngay hôm đó võ Tắc Thiên lập lý đán lên ngôi
xưng hiệu là Duệ Tông.
Một tên nịnh thần thuộc gia tộc
họ võ tên là võ Thừa Tự
biết rõ tâm ý của võ Tắc Thiên
muốn tự mình lên ngai vàng
xưng là đế thì mới hài lòng.
Hắn sai một người khác lên tảng đá trắng
ngoài bờ sông Lạc Thủy mấy chữ
thánh mẫu xuống trần làm người
hưng thịnh ngôi đế muôn năm
rồi lại xúi rục một người khác
tên là Đường Đồng Thái đem tảng đá
thần ấy về kinh dân cho võ Tắc Thiên.
Trong lòng đang nuôi nấng
ý đồ là một nữ hoàng đế
đầu tiên của Trung Quốc
võ Tắc Thiên được tảng đá ấy hết sức mừng rỡ
chẳng cần truy cứu xem
lai lệch ra sao, lập tức đặt tên là
Bảo Đồ rồi ấn định ngày ra Thái Miếu
để lên ngôi cửu ngũ
tự ra phong mình là Thánh Mẫu Thần Hoàng
một tên khác thay cho hoàng đế.
Năm 684
chọn được ngày tốt
võ Tắc Thiên ban bố chiếu thư
đổi nhà đường thành nhà tru
đại xá thiên hạ và tự xưng là
Thánh Thần Hoàng đế
gọi năm ấy là Quang Trạch Nguyên Niên
còn Duệ Tông được ơn mưa móc đổi thành
họ võ, coi sóc Thái Miếu trong kinh đô
chịu đại nhà đường đến đây
tạm chấm dứt.
Nhà tru khởi nghiệp với hàng loạt sắc phong
của võ Tắc Thiên ban cho con cháu bà
hy vọng với ân huệ ban phát rộng rãi
cho con cháu họ võ sẽ củng cố
vững bền giang sơn nhà tru.
Đương nhiên việc chiếm ngôi này
bị tông thất nhà đường phản đối dữ dội
lúc bấy giờ ở Dự Châu
có rất nhiều quan lại bị lôi cuốn
vào cuộc mưu phản do vậy
bị tội đến sáu bảy trăm nhà
hàng nghìn người bị tịch thu tài sản và bị diệt tộc
địch nhân kiệt đang giữ
chức hình pháp bắt buộc phải
xử trí hết số quan chức làm phản này
trong lòng ông vô cùng đắn đo
bởi đó chính là những
nhân tài cho quốc gia
giết chết thì dễ nhưng lấy đâu ra người
để giữ vững quốc gia
ông bèn viết mật tấu dâng lên cho võ Tắc Thiên
lấy lý do họ chỉ là những
quan lại vô tình hay bắt buộc phải đi theo
chứ không hề có tâm làm phản
xin võ Tắc Thiên nhẹ tay cho
võ Tắc Thiên vốn đã
nghe danh địch nhân kiệt là vị
quan công minh từ lâu
trong lòng rất nghề trọng nên đặc biệt
ân xá tội chết cho những phạm nhân này
chỉ phân phối họ đến Phong Châu làng quân sĩ
tất cả đều ghi nhớ
công đức của địch nhân kiệt
tới Phong Châu rồi
liền trung xức lập một tấm bia ca ngợi
ông như vị thần cứu mạng
thế nhưng cuộc đời làm quan của địch nhân kiệt
không vì thế mà hanh thông
trong lúc hành xử ở Dự Châu
ông có lần đụng chạm tới Trương Quang Phụ
là đại tướng được võ Tắc Thiên tin cậy
tên này hết sức tàn ác
giết người không gây tay
địch nhân kiệt nhiều lần can ngăn
nên hắn rất tức giận
khi về chiều liền nói xấu địch nhân kiệt
với võ Tắc Thiên
bà ta liền hạ chiếu biếm
địch nhân kiệt đi làm thứ sử Thục Châu
sau đó lại bị đuổi đi làm
tư mã Lạc Châu
võ Tắc Thiên tuy bị lịch sử phê phán
là người đàn bà độc ác dâm loạn
nhưng về mặt chính trị cũng có đôi chút
sáng suốt
lúc lên ngồi nữ hoàng đế rồi
liền hạ chiếu triệu địch nhân kiệt
về cho ông giữ chức địa quan Thị Lan
kiêm phượng các loan đài bình chương sự
danh hiệu bình chương sự
ít được sử dụng trong suốt thời kỳ Phong Kiến
nhưng thật sự đó là chức quan cao nhất
trong triều đình
chẳng khác gì thừa tướng
mỗi ngày đều diện kiến võ Tắc Thiên
để bàn bạc chính sự
võ Tắc Thiên có vẻ tươi tỉnh hỏi địch nhân kiệt
lúc Khanh ở Dự Châu
rất nổi tiếng là vị quan công minh
nhưng vẫn không ít triều thần diềm pha Khanh
có biết ai đã diềm pha không
địch nhân kiệt khôn khéo tâu
thần hoàn toàn không muốn biết
nếu bệ hạ cho rằng
thần có sai sót
thì thần sẽ kính cẩn mà sửa đổi
bằng không thần đã làm
hết chức trách của mình
biết kẻ nói xấu thêm tức bực
mà chính họ cũng lo lắng
thành ra đôi bên ngấm ngầm thu oán nhau
không có lợi cho chiều chính
võ Tắc Thiên rất khen ngợi
lời đối đáp khôn ngoan
và mang tính đại lượng của ông
càng trọng dụng vào những việc cơ mật
ngoài tính tình cương trực
địch nhân kiệt cũng là người tự xét
mình nhận lỗi lầm
nên suốt cuộc đời làm quan
ông cảm thấy rất thanh thản
điển hình nhất là việc địch nhân kiệt
được võ Tắc Thiên triệu về làm thừa tướng
thật ra lúc mới lên ngôi
võ Tắc Thiên đã nghe danh của ông
nhưng để chọn người làm thừa tướng
thì chưa chắc đã phải hạ chiếu xa xôi
như thế
một lần võ Tắc Thiên bàn với Lâu Sư Đức
về việc quản lý chiều chính
ông ta thừa nhận kém xa địch nhân kiệt
và tích cực tiến cử ông làm thừa tướng
Lâu Sư Đức nói
trước kia địch nhân kiệt
không hề sợ cường quyền
thẳng tay bài trừ gian thần
đến khi ra ngoài các châu
giữ chức hình pháp cũng thẳng thắn công minh
xử án mau lệ không lầm lẫn
đó chính là những đức tính
mà người đứng đầu bá quan cần tới
theo thần thì trong chiều hiện nay
không có ai xứng làm thừa tướng
bằng địch nhân kiệt
võ Tắc Thiên gật đầu đồng ý
mấy hôm sau sai viết chiếu triệu ông về kinh
sau khi võ Tắc Thiên đổi quốc hiệu
nhà Đường thành nhà Chu
nhằm củng cố chính quyền
đề phòng có người phản háng
nên bà chẳng những đã tiến hành tiêu diệt
thẳng tay đối với những kẻ thù chính trị
mà còn sử dụng đông đảo một số
quan lại tàn ác như sách nguyên lễ
Chu Hưng, Lai Tuấn Thần
đồng thời lập ra các cơ quan bí mật
chuyên tra tấn tội nhân
trừ tận gốc những âm mưu phản loạn
mà bà rất lo sợ sẽ xảy ra
điều này rất đúng
bởi việc lên ngôi của võ Tắc Thiên
không nhớ làm hoàng gia phẫn nộ
nhiều quan lại không đồng tình
mà ngay đến dân chúng cũng xì xào phê phán
chực chở cơ hội có người đứng đầu
là lập tức đi theo làm phản ngay
suốt thời gian cai trị của võ Tắc Thiên
người ta không đếm xuể
có bao nhiêu người chết dưới tay
các tên đồ tể mà bà lập ra
lúc bấy giờ gia tộc họ võ
dựa vào quyền thế của võ Tắc Thiên
ra sức lộng hành, thao túng
chẳng kiêng rẻ bất cứ ai
kể cả đại quan hay nhà quyền quý
thuận theo bọn chúng thì sống
nghịch bọn chúng thì chết
đáng kể nhất là người cháu của võ Tắc Thiên
tên võ thừa tự
không hề có học vấn cũng không có công trạng gì
với quốc gia, vậy mà được cất nhắc
lên hàng đại thần quốc lão
oai quyền trùm cả triều đình
mặc tình muốn làm gì thì làm
các đại thần đều sợ làm phật lòng hắn
nên đứng trước mặt hắn bao giờ
cũng khúm núm tự hạ mình
bảo gì nghe nấy
chỉ riêng có địch nhân kiệt
và một số người nữa vẫn tỏ
thái độ ngay thẳng, không hề su nịnh
không hề hạ mình mua chuộc tình cảm
của bọn võ thừa tự
địch nhân kiệt còn cực lực phản đối
với võ Tắc Thiên về việc lập
võ thừa tự làm thái tử
bởi việc này hết sức vô lý
làm nữ hoàng đế đã vô lý
nay lại lấy cháu làm thái tử
thì chẳng ai có thể chịu được
mỗi lần võ Tắc Thiên nhắc đến việc này
lập tức địch nhân kiệt liền bài bắt
làm võ Tắc Thiên tuy ngông cuồng
mà vẫn không dám thi hành việc thiết lập
ngôi thái tử
võ thừa tự rất cam hận việc này
nhất quyết phải diệt trừ địch nhân kiệt
mới hạ giận, tuy nhiên địch nhân kiệt
hành sự rất công minh lỗi lạ
thẳng thắng thanh liêm, biết mình đang
nằm trong chuồng cọp nên rất cẩn trọng
không để cho võ thừa tự
có bất cứ cơ hội nào
nung nấu trong lòng quá lâu
ý định giết chết địch nhân kiệt mà chưa thỏa mãn
võ thừa tự bèn thông đồng
với Lai Tuấn Thần tìm cách vù cáo
một hôm võ Tắc Thiên nhận được tờ tạ từ biểu trong tay
liền triệu địch nhân kiệt và Triều
lạnh lùng phán hỏi
chẩm đãi người không bạc
sao người đem lòng phản bội Triều Đình
địch nhân kiệt đáp luôn
trước mặt bệ hạn
thần không dám dối trá nửa lời
thần suốt đời chỉ biết bỏ xương máu ra
giúp Giang Sơn sống pháp ngoài chiến trường
không nghĩ đến thân mình
đâu bao giờ dám có ý nghĩ phản bội Triều Đình
thần tự nghĩ nếu chết rồi
thì lấy gì mà minh ngoan
cả dòng họ đều mang tiếng xấu
giống nhạc tể tướng trước kia mà thôi
để bảo toàn mạng sống
thần bắt buộc phải cung khai theo ý kẻ thẩm vấn
xin bệ hạ minh sát lại cho thần
võ Tắc Thiên cười gần
đưa tờ tạ từ biểu
cho địch nhân kiệt cầm xem tận mắt
may thay, nhờ vậy mà
địch nhân kiệt nhận ra đó là chữ ký giả
liền cảnh báo cho võ Tắc Thiên biết
bản tính của võ Tắc Thiên
rất ngoan cố và kêu ngạc
thấy vậy thì đã đoán ra sự thật
nhưng vẫn không biểu lộ ra ngoài mặt
cho địch nhân kiệt trở về Đại Lao
quả nhiên, mấy ngày sau
võ Tắc Thiên xuống chiếu xử lý
các quan lại coi là tình nghi
có lòng phản nghịch, đếm địch nhân kiệt xuống
làm huyện lệ ở bành chạch
các quan đại thần khác cũng chịu như vậy
trong chiếu thư không hề nhắc gì
đến trách nhiệm của bọn Lai Tuấn Thần
kết quả như vậy
cũng đặc biệt lắm rồi
từ trước đến nay chưa có vụ án nào
được võ Tắc Thiên tha chết hàng loạt
chỉ giảm chức quan mà thôi
việc lạm dụng hình phạt tàn khốc
để cai trị, giữ vững ngai vàng
của võ Tắc Thiên đã làm sản sinh ra
một lớp quan lại ngồi trên ghế
nhằm vào mục đích vinh thân phí ra
hơn là lo cho quốc gia
những kẻ sĩ quan lại có lòng yêu nước
vì dân hầu như đã thiệt mạng gần hết
số còn lại ẩn nhẫn chờ thời cơ
tuy nhiên sự chấn áp quá đáng
cũng không thể làm cho người
có tâm huyết nhẫn nhịn được mãi
ngự xử lý tự chân một lần
lấy hết can đảm dân tấu
hiện nay số người tố cáo quá nhiều
phần là giả dối trả thù riêng
chứ không phải sự thật
không phải vì lòng chung với bệ hạn
họ nghĩ đến lợi ích của mình
mà không biết rằng vu cáo chính là gây ra
sự ly gián giữa vua và tôi
thần tôi run sợ không dám nói thật
hoàng đế thì mơ hồ không biết chân giả ra sao
rốt cuộc đâm ra nghi ngờ lẫn nhau
theo thần được biết
từ xưa tới nay các triều đại
sử dụng cực hình rất thận trọng
xét xử một vụ án phải qua
nhiều cấp phối hợp chính xác mới kết luận được
nay bệ hạ dùng người
dưới ban cho quyền hạn xét xử quá lớn
không qua bộ hình
chẳng nhắc gì đến môn hạn
tình như thế tức là đoạt quyền sinh sát của hoàng đế
mà tắc oai tắc quái
những việc ấy đều làm hại đến quốc gia
xin bệ hạ minh sát
võ tắc thiên đọc xong sớ tấu
không để ý gì đến
mà cũng không trách phạt lý tự chân
khiến mọi người đều ngơ ngác
không hiểu tâm ý của nữ hoàng đế ra sao
tuy nhiên sớ tấu của lý tự chân
cũng có một số tác dụng nhất định
từ đó về sau
không ít quan lại bắt chức dân sớ
xin võ tắc thiên giảm bớt khốc hành
trừng trị những tên lạm dụng hình phạt
để mưu lợi riêng
bọn lai tuấn thần
trù hưng thấy võ hoàng đế qua việc địch nhân kiệt
và một số quan đại thần hoàn toàn vô tội
mà vẫn không trách phạt gì mình
thì lại càng lộng hành
bịa chuyện vu cáo cho cả duệ tông
và trung tông mưu tính phản nghịch
chẳng ngờ việc này liên quan đến cả
vương tộc họ võ
đây là giọt nước làm tràn ly
khiến võ tắc thiên nhớ lại lời minh ngoan
của cậu bé họ nhạc và thừa tướng địch nhân kiệt
tiến hành cho bọn lai tru
thẩm vấn lẫn nhau
cuối cùng lòi ra hai kẻ nói dối
mưu đồ làm lợi cho mình
kết quả võ tắc thiên bắt hai tên đồ tể
phải chết để yên lòng dân
sau khi hai tên đồ tể
chú hưng và bà lai tuấn thần chết rồi
võ tắc thiên nhận được không biết
bao nhiêu trình tấu minh ngoan
khiến bà cũng tỏ ra hối hận
vì đã để cho bọn chúng lạm dụng hình phạt
tàn khốc thẩm vấn quan lạ
hành động đầu tiên khiến triều thần
chút bỏ được gánh nặng nơm nớp
lo sợ là việc võ tắc thiên cho gọi
ngụy nguyên trung và địch nhân kiệt
về triều cho nắm chức thừa tướng
như cú nhân việc này
võ tắc thiên hạ chiếu cho tất cả những ai
oan ức thì cứ dâng biểu lên xem
xét lại đa số tù nhân
bị bọn chú hưng lai tuấn thần
đều được minh ngoan giảm tội
nhờ vậy đất trung nguyên được một thời gian
khá yên tĩnh trước khi biến chuyển
sang giai đoạn mới thời kỳ suy tàn
của triều đại võ chú
niên hiệu vạn tuế thông thiên nguyên
niên đời nhà chú
năm 696 bộ lạc khiết đan
do tôn vạn vinh cầm đầu
xua quân tấn công chiếm lấy ký châu
giết chết quan châu trường là lục bầu tích
vốn tính hiếu sát lại mang
tư tưởng căm thù người Hán
bọn khiết đan đi tới đâu đều
gieo rắc cái chết chóc tới đó
bất kể đó là quan quân hay dân thường
tiếng khóc nơi biên cương vang trời dậy đất
thừa thắng
quân khiết đan lại kéo quân uy hiếp
khiến cả vùng biên cương sợ hãi
người dân bỏng bế nhau chạy trốn
bỏ cả nhà cửa châu bỏ
võ Tắc Thiên tuy đã chịu địch nhân kiệt
về triều giữ chức vụ cũ
nhưng hình như trong lòng bà ta có chút
không bằng lòng
nhân dịp này liền phong ông làm
thứ sử Nguy Châu
điểm quân tướng Hà Bắc đi ngăn trận
và tiêu diệt địch
tuy thật sự nắm quân tướng đánh trận lớn
nhưng địch nhân kiệt vẫn bình thản nhận nhiệm vụ
ngay từ giả gia đình
cùng một số tùy tướng lên đường
tới Nguy Châu
tới nơi với con mắt tinh tưởng của ông
địch nhân kiệt nhận ra sai lầm
của viên thứ sử tiền nhiệm
ông ta vì quá lo lắng sợ
bị quân khiết đan tấn công
nên chưa thấy địch đã lệnh cho mọi người
phải vào hết trong thành
ruộng đồng bỏ hoang
vì vậy lương thực thiếu thốn
người người chen trúc trong thành
tạo thành nỗi hoang mang lo lắng
chưa đánh đã mất khí thế
địch nhân kiệt liền thay đổi
mở cửa khuyên bá tánh trở về trăm lo ruộng đồng
phái quân lính đi tuần tra trinh sát
hễ khi nào thấy địch tấn công
thì rút vào thành cũng không muộn
nhờ vậy không khí nơi Nguy Châu
thay đổi hẳn
Nhân dân mừng rỡ kéo theo
nhuê khí hăng hái ai cũng nhủ lòng
sẽ quyết tâm đánh cho bọn khiết đan
một trận sau này hết dám xâm phạm
lãnh thổ Trung Nguyên nữa
Thủ lĩnh Tôn Phương Vinh của khiết đan
nghe vậy cũng sần lòng lại
biết địch nhân kiệt là người kỳ kế
chắc chắn phải có phương sách vẹn toàn rồi
nên cũng phân vân cuối cùng tự động
lùi quân. Triều Đình nghe tin
cũng rất mừng tấu xin cho địch nhân kiệt
đến U Châu giữ chức đô đốc
lại đặc biệt ban thường cho ông Áo Bảo
màu tía, đai nạ ngọc trước ngực
có theo màu hai chữ vàng
để biểu dương công trạng của ông
Nhờ những công lao này
khi trở về triều, địch nhân kiệt được thăng
lên làm loan đài thị lang
kiêm phượng các loan đài bình chương sự
tức còn nhiều quyền hành hơn trước
được bàn bạc quốc sự cơ yếu với Trung Thư tỉnh
Lúc bấy giờ tướng quân Vương Hiếu Kiệt
dẫn quân đánh bại quân Thổ Phiên
đoạt lại nhiều quận cho nhà đường
cần rất nhiều quân binh
để trú đóng đề phòng
Việc này sẽ làm hao tộn
nhiều ngân khố
nên địch nhân kiệt không đồng ý
làm sớ tấu răng lên võ tắc thiên
Đại ý như sau
trời sinh các di tộc ở bốn phương
đều nằm ngoài cương vị của tiên vương
cho nên phía đông có biển to
phía tây có một vùng cát rộng hoang vu
phía bắc có đại sa mạc
phía nam có ngũ lĩnh
đó là trời xanh muốn dùng chúng
để ngăn chặn các man tộc
cố ý tách rời Trung Quốc ra khỏi các man tộc đó
Kể từ ngày có văn tự
ghi chép lịch sử tới nay
cho thấy những địa phương mà uy danh
và sự giáo hóa của Trung Quốc đạt đến
nhưng thực lực của Tam Đại Hạ Thương Chu
chưa đạt đến được
thì nay triều đình ta đều thu cả vào trong bản đồ
Các thi nhân ca ngợi
Tru Tuyên Vương Bắc Phạt Thái Nguyên
và cũng ca ngợi mở rộng văn hóa
giáo dục tốt đẹp đến lưu vực
các con sông Trường Giang Hán Thủy
Ngay như vùng biên cương hoang vu
của thời Tam Đại
thì nay cũng trở thành cương thổ
của triều đình nhà Võ Chu chúng ta rồi
Nếu chúng ta dùng vũ lực
đối với bên ngoài để xây dựng
đại công ở một nơi thật xa xôi
tốn hào tiền của xúc tích
từ bấy lâu nay trong quốc hố
để chỉ đi giành giật một vùng đất hoang vu
không có một cọng cỏ
và chiếm lấy một số nhân dân bé nhỏ
mà không thể tăng thu nhập về mặt thuế khóa
từ ruộng đất
lại không thể cày ruộng trồng dâu
mà chỉ tham hư danh là giáo hóa man tộc
thành người hoa hạng
như vậy hoàn toàn không củng cố
về mặt cơ bản
tức là phải lo ổn định
đời sống của nhân dân làm gốc
Những việc làm đó
chính là những việc làm
của Tần Thủy Hoàng doanh chính
là hành vi của vũ đế lưu triệt
thời Tây Hán
chứ không phải là sự nghiệp lớn
tam hoàng ngũ đế thỏa xưa
Tần Thủy Hoàng đã huy động
quân đội trong toàn quốc
với tinh thần sùng thượng võ học
nhưng chỉ mở mang được cương thổ
chết đến hàng nghìn hàng vạn người
cuối cùng thì lại dẫn đến sự diệt vong
của chính triều nhà Tần
Hán vũ đế thảo phạt các man tộc
ở khắp nơi bốn bên
khiến bá tánh lâm vào cảnh khốn khổ
giống như rơi vào nước sôi lửa bỏng
giặc cướp nổi lên khắp nơi
cũng may là đến tuổi già Hán đế biết hối ngộ
sửa chữa sai lầm
cho phép binh sĩ phục viên trở về quê hương
chấm dứt tất cả những sa dịch
phục vụ chiến tranh
do vậy mà được trời bảo trọ
những năm gần đây
triều đình ta mỗi năm đều phái quân xuất trinh
tốn kém rất nhiều
ở phía tây trấn thủ tại Bốn Trấn
ở phía đông phòng tại An Đông
thuê ruộng đất mỗi lúc thu càng nặng
khiến bá tánh mệt mỏi kiệt sức
đời sống vô cùng khổ sở
nay ở Quang Đông đang bị đói kém
bá tánh thuộc Hán hầu hết bỏ trốn
về vùng trường Giang Hạn
ở phía nam triều đình liên tục thay đổi thuế khóa
khiến bá tánh không an tâm
làm những nghề nghiệp chân chính
mà kết bè kéo đảng đứng lên làm giặc cướp
nhân dân là nền tảng của quốc gia
một khi nền tảng bị lung lay
thì nỗi buồn lo sẽ trở nên nặng nề
hậu quả tai hại
sẽ không thể tưởng tượng được
sở dĩ có một kết cục như vậy
đều là do việc xua quân đi chiếm đoạt
những vùng đất không có một ngọn cỏ
của các man tộc
làm trái với đạo lý
xem bá tánh như con em
thời tiên Hoàng Thái Tông Lý Thế
dân Bình Định bộ lạc
chín họ tại vùng sa mạc Hạn Hải
chọn A Sứ Na Tư Mã làm đại hãn
để ông ta cai trị bộ lạc này
lý do nhà vua làm như vậy
là vì nó phù hợp với cách nghĩa thời cổ
xóa bỏ diệt vong, ủng hộ hưng thịnh
tức các man tộc
khi làm phản thì thảo phạt
nếu quy hàng thì phủ dụ
không cần thiết phải phái quân
đến một vùng đất xa xôi để phòng thủ
ấy chính là một pháp lệnh được mọi người
khen tặng là tốt đẹp
mà cũng là một nguyên tắc cai trị
và xử lý vùng biên cương tốt
do vậy thần xin kiến nghị
nên phong cho A Sứ Na Học Sách La
làm đại hãn rồi đem bốn trấn
tại Tây Vực giao phó cho ông ta
đồng thời lôi kéo những hậu ruệ
của quốc vương Cao Cao Ly
để cử họ trấn thủ vùng An Đông
tiết giảm quân phí ở những nơi xa xôi
đem quân lực tập trung tại các vùng biên hải
chỉ cần các man tộc không gây ra
những cuộc nội sâm tàn bạo
thì xem là đủ lắm rồi
hạ tất phải truy đuổi họ tới tận
xào huyệt xa xôi để đỏ sức
với những loài kiến bé nhỏ
chúng ta chỉ cần phòng bị phái quân
thám thính đi sâu vào nội địa của địch
để nắm tình hình, tích thảo dồn lương
sẵn sàng chiến đấu
chờ khi quân của man tộc phát động tấn công
thì mới đánh trả lại
như vậy chính là chúng ta dùng một đạo quân
nghỉ ngơi sung sức để đánh lại
một đạo quân đi xa mệt nhọc
tinh thần chiến sĩ ta tất nhiên sẽ cao lên gấp bội
ta đã giành được phần địa lợi
hơn nữa ta xây dựng
thành trì kiên cố để lo phòng vệ
gom tất cả bá tánh vào trong thành
khi giặc tới cướp bóc
sẽ không còn gì để cướp
do đó hai cánh giặc cướp kia chỉ đột quyết
và thổ phiên
nếu xâm nhập vào biên cương của ta
tất sẽ chịu sự nguy hiểm là sẽ bị tiêu diệt
trái lại nếu chỉ phá rồi ở ngoài biên giới
thì chúng cũng không được lợi lọc gì
tình hình đó kéo dài ra
tất chúng sẽ bị thất bại
mà ta không cần phải đánh
kiến nghị này của địch nhân kiệt
rất xuất sắc lấy tình hình
chiều trước để minh họa cho kế sách
lâu dài của mình thế nhưng
Võ Tắc Thiên là người thiền cận
chỉ xem ai là người phản bội để diệt trừ
hoàn toàn không có kiến thức rộng lớn
về chiến lược nên bỏ qua
kiến nghị này tuy không nghe theo
kiến nghị của địch nhân kiệt nhưng
Võ Tắc Thiên cũng cảm thấy ông đúng là
trung thần đáng tin cậy
vì vậy vào năm 698
lại cho ông kiêm nhiệm chức nạp
ngôn kiêm hữu túc trính ngự sử
đại phụ. Địch nhân kiệt
ở Triều Đình không lâu dài hết nạn
khiết đam xâm phạm lại đến đột quyết
tấn công. Năm ấy
khả hãn của quân đột quyết tấn công
chiếm được Định Châu, giết hại
vô số dân chúng. Võ Tắc Thiên
liền cử địch nhân kiệt làm Hà Bắc
hành quân nguyên xoái dẫn quân thảo
Phạt Hãn Quốc đông đột quyết.
Lần này Võ Tắc Thiên
đích thân tiễn đưa đoàn quân xuất trinh
biểu lộ sự thận trọng đối với
địch nhân kiệt và khích lệ quân tướng.
Không chống nổi với khí thế
quân của nhà Chu do địch nhân kiệt
lãnh đạo, quân đột quyết phải bỏ chạy
tán loạn. Nhưng khi đến đâu
bọn chúng cũng đốt nhà cướp bóc.
Địch nhân kiệt hết sức
tức giận dẫn quân truy đuổi mãi
đến tận sa mạc mới quay trở về.
Tuy nhiên với sự ép buộc
của quân đột quyết, những người trước kia
bất đắc dĩ theo hợp tác với bọn chúng
thì cũng sợ hãi bỏ chạy.
Bình định song Hà Bắc,
địch nhân kiệt nhận ra vấn đề này
không có lợi cho triều đình.
Viết tấu xin đặc xá, nhất quyết
không truy cứu người nào.
Võ Thắc Thiện đồng ý với bản thấu chương này.
Nhờ vậy, vùng Biên Cương trở nên
phồn thịnh, người người kéo nhau
về sinh sống.
Địch nhân kiệt lại tiến hành
phụ dụ nhân dân trong vùng, lấy lương thực
cứu tế những gia đình quá khó khăn.
Tiếng ca tụng ân đức của ông
lan tỏa khắp vùng Biên Cương.
Vùng phía bắc sông Hoàng Hà
dần được ổn định.
Với công trạng này cũng được võ Thắc Thiện ghi nhận.
Sau khi về tới triều đình,
ông liền được giả phong làm nội sử.
Năm 697,
bộ tướng của Khiết Đan
là Lý Giai cố lạc Vũ Trình.
Sau khi Tôn Vạn Vinh bị giết,
đều đầu hàng triều đình.
Do hai người đều từng đánh bại quân đội triều đình nhiều lần,
nên hầu hết đại thần đều yêu cầu
dùng cực hành xử họ,
đồng thời tiêu diệt cả chính tộc của họ.
Võ Thắc Thiện do dự không thể quyết định,
bèn hỏi ý kiến địch Nhân Kiệt
xem phải xử ý thế nào.
Địch Nhân Kiệt cho rằng
làm tướng tất phải tận trung,
thậm chí biết giết người là tàn nhẫn
vẫn phải theo lệnh của đế vương.
Đó là những trung thần.
Nếu như phù dụ họ thay đổi ý nghĩ,
bỏ tối theo sáng,
thì sẽ là tay chân đắc lực cho triều đình.
Quả nhiên võ Thắc Thiện thu nhận
ý kiến của địch Nhân Kiệt
xuống lệnh ân xá cho Lý Giai cố lạc Vũ Trình.
Nhân đó địch Nhân Kiệt
lại dâng sớ tấu xin ban
chức tước cho hai người để họ yên lòng tá triều.
Lần này võ Thắc Thiện
cũng nghe theo xuống lệnh
phong chức tướng quân cho hai người
rồi phái đi tấn công tàn dư của bộ tộc Khiết Đan
còn đang ẩn trú quấy nhiễu.
Hai người hết lòng cảm tạ
ân đức của võ Thắc Thiện và địch Nhân Kiệt
dốc lòng tiễu trừ.
Kết quả bình định được bọn tàn dư này
giải về binh Khiết Đan
về kinh thành dâng lên nữ hoàng đế lấy công.
Sau khi Triều Chính
và Biên Cương đã ổn định
võ Thắc Thiện lại ban khoăn đến việc
lập ngôi thái tử.
Bởi bất cứ triều đình chính thống nào
cũng đều phải làm như thế
võ Thắc Thiện ban khoăn là phải.
Bởi Duệ Tông mặc dù là con ruột của bà
và đã được ban họ võ
nhưng rốt cuộc là họ gì đi nữa
vẫn là hậu duệ của Triều Lý Đường.
Sau khi võ Thắc Thiện trăm tuổi
chắc chắn Duệ Tông sẽ khôi phục lại nhà đường.
Nếu vậy chẳng hóa ra giang sơn
của nhà Chu mà võ Thắc Thiện
phấn đấu cả đời mình dựng lên
sẽ bị xóa bỏ hay sao?
Vì vậy bà có ý định phong cho cháu trai
là võ Thử Tự làm thái tử.
Một lần kia, địch Nhân Kiệt
chú ý tìm cơ hội.
May mắn chỉ có hai người, địch Nhân Kiệt liền tấu.
Thái Tông Lý Thế Dân
không ngại Phong Sương dẫn thân vào
làn tên Mũi Đạn, trải qua những cuộc
chinh chiến nguy hiểm, chính chết một sống
mới bình định được thiên hại
lập nên cơ nghiệp Triều Đại Đường.
Tất nhiên phải truyền lại cho con cháu
đời sau, tiên đế Cao Tông
trước khi Giá Băng từng gửi gắm
hai vị hoàng tử cho bệ hạ.
Nay bệ hạ định trao thiên hạ vào tay
người khác, e rằng đó là điều
không hợp với ý trời.
Võ Thắc Thiện nghe xong sầm mặt không nói
nhưng không trách cứ gì địch Nhân Kiệt.
Tỏ ra bà ta có chút thấm thiế
lặng lặng cho địch Nhân Kiệt
lui ra. Vẫn không thể quyết định.
Một lần khác, địch Nhân Kiệt
tiếp tục đưa ra ý kiến
lấy tình cảm gia tộc làm trung tâm
tấu với Võ Thắc Thiện.
Bậc quân vương, bốn biển đều là nhà.
Trong bốn biển, bất kỳ ai
cũng đều là thần tử của hoàng đế.
Vì vậy nếu nói
theo việc trong nhà thì bất cứ ai
cũng đều là người nhà của bệ hạ.
Vì vậy việc lập thái tử
không nhất thiết phải họ võ hay họ lý.
Việc sau cùng bệ hạ được hương khói
thở phụng mãi mãi, lăng nếu
không mất thì mới là quan trọng.
Lần này Võ Thắc Thiện có vẻ
muốn lắng nghe và cuối cùng chấp nhận
cho con cháu họ lý được kế thừa
ngai vàng, nhưng bắt buộc
phải lập lời thệ ước vào cuốn sách bằng sách.
Theo đó hai họ lý võ phải
đời đời hòa thuận, không được đánh giết
lẫn nhau. Hãy lưu
video này vào danh sách phát của bạn
không phải để xem giải trí,
mà để mỗi lần quay lại, bạn sẽ thấy
những tầng nghĩa mới mà trước đây bạn đã
bỏ lỡ. Việc lớn
đã xong, Võ Thắc Thiện lại càng
thêm tôn trọng địch Nhân Kiệt,
gọi là quốc lão chứ không bao giờ gọi
tên tục ra mà nói chuyện.
Trải qua bao nhiêu năm tận lực vì dân
vì nước, cuối cùng ý định phục hưng
lại chiều đường bước đầu đã thành công.
Ông cảm thấy mệt mỏi trong người
nên bệnh cũ tái phát.
Đến năm cửu thị thứ nhất
của đời Võ Hậu Chu, tức
năm 700, ông không còn sống để nhìn
thành quả của mình. Tuy nhiên
có lẽ ông vẫn hết sức thỏa mãn
bởi ông đã tiến cử nhiều nhân tài
cho đất nước. Trong đó có một số
sẽ là nhân tố quan trọng để đến
năm 705, tổ chức chính biến
lật đổ ngai vàng của Võ Thắc Thiện
chính thức phục hưng chiều đường,
khu trừ toàn bộ con tráu họ võ,
làm sạch lại chiều chính.
Ông được Võ Thắc Thiện
truy phong tước văn huệ công, sau đó
đến lượt đường trung tâm gia phong
làm lương quốc công. Địch Nhân Kiệt
không nhìn được thành quả mà mình có
nhiều công đóng góp. Nhưng có lẽ
nơi suối vàng ông cũng ngậm cười
bởi suốt cuộc đời làm quan,
ông không những cống hiến hết trí tuệ
và sức lực của mình, mà còn giúp cho
chiều nhà đường khi phục hưng có
những danh thần có ông tiến cử trước kia.
Cuộc đời Địch Nhân Kiệt
như một bài học về nghệ thuật sinh tồn
trong quyền lực, nhưng không phải kiểu
sinh tồn bằng cách nịnh bợ, khúng núm,
bẻ cong nguyên tắc, mà là
sinh tồn bằng cách giữ vững nguyên tắc
nhưng đồng thời biết chọn lúc,
biết nói đúng lúc, biết làm việc
thực sự có ích cho đất nước.
Điều gì làm nên sự khác biệt
giữa Địch Nhân Kiệt và vô số
quan lại khác trong chiều đình máu tanh ấy?
Không phải vì ông thông minh hơn,
cũng không phải vì ông may mắn hơn,
mà vì ông hiểu rõ một
chân lý đơn giản nhưng khó thực thi,
đó là việc hiểu dụng chân chính
mới là sự bảo vệ duy nhất
trong thế giới quyền lực.
Võ Tắc Thiên có thể giết bất cứ ai,
kể cả con ruột của mình,
nhưng bà không thể giết Địch Nhân Kiệt
bởi bà cần ông,
không phải cần để trang trí cho chiều đình,
mà cần thực sự,
cần ông xử án công minh
để dân không nổi loạn,
cần ông dẹp giặc để biên cương yên ổn,
cần ông hiến kế để quốc gia không suy tàn,
cần ông tiến cử nhân tài
để chiều đình có người.
Đây chính là sự khôn ngoan tối thượng,
không chống đối trực diện
với quyền lực khi chưa đủ sức,
nhưng cũng không bán rẻ linh hồn
để đổi lấy sự yên ổn tạm thời,
mà là làm cho bản thân trở nên
không thể thay thế.
Khi bạn trở thành người không thể thiếu
thì bạn mới có thể sống sót,
hơn thế bạn còn có thể thực hiện được
những điều mà người khác
không dám nghĩ tới.
Địch Nhân Kiệt can võ Tắc Thiên
không lập cháu làm thái tử,
ai dám làm điều này?
Nhưng ông dám, và ông thành công,
không phải vì ông dùng lý lễ hay ho,
mà vì trước đó ông đã xây dựng được uy tín,
đã tạo ra giá trị
thực sự không thể chối cãi.
Khi bạn có giá trị,
lời nói của bạn mới có trọng lượng.
Khi không có giá trị,
dù lời nói đúng đến đâu cũng chỉ là tiếng ồn.
Trong thế giới hôm nay,
bạn đang xây dựng giá trị gì cho bản thân?
Bạn đang trở nên hữu dụng như thế nào?
Hay bạn chỉ đang bận rộn
với những việc vô nghĩa,
tưởng rằng mình đang tiến bộ,
nhưng thực ra chỉ đang đi vòng quanh?
Câu hỏi này không dễ trả lời,
nhưng nếu bạn muốn tồn tại
và phát triển trong bất cứ môi trường nào,
bạn phải trả lời nó.
Địch Nhân Kiệt còn dạy chúng ta một điều nữa,
đó là sự khôn ngoan
trong việc chọn trận địa.
Ông không cố gắng thay đổi võ tắc thiên,
ông biết điều đó là không thể.
Thay vào đó,
ông tập trung vào những việc mà ông có thể làm được,
xử án công minh,
dẹp giặc, tiến cử nhân tài,
hiến kế cho đất nước.
Mỗi việc ông làm đều hướng tới
một mục tiêu lớn hơn,
đó là giữ gìn nền tảng của nhà đường
để khi thời cơ đến,
có người có thể phục hưng lại triều đại.
Ông không vội vàng,
ông không hấp tấp,
ông chờ đợi, nhưng trong lúc chờ đợi,
ông không ngồi yên.
Ông chuẩn bị, ông gieo hạt,
và khi ông qua đời,
những hạt giống ấy đã sẵn sàng nảy mầm.
Năm 705,
chỉ 5 năm sau khi Địch Nhân Kiệt qua đời,
chính biến diễn ra,
võ tắc thiên bị buộc phải thoái vị.
Triều đường được phục hưng,
những người ông từng tiến cử,
những người ông từng bảo vệ
đã đứng ra làm điều mà chính ông không thể hoàn thành
khi còn sống.
Đây mới là thành công thực sự,
không phải thành công trong đời mình thấy được,
mà là thành công kéo dài
sau khi mình đã ra đi.
Địch Nhân Kiệt đã trồng cây cho người sau
hái quả, nhưng ông biết rõ
những cây ấy sẽ cho quả,
bởi ông đã chọn đúng người, gieo đúng chỗ
và chăm sóc bằng cả tâm huyết.
Hôm nay, khi nhìn lại câu chuyện này,
bạn thấy gì?
Bạn thấy một vị quan thanh liêm?
Đúng.
Bạn thấy một nhà chiến lược tài ba?
Đúng.
Bạn thấy một người biết chờ đợi thời cơ?
Đúng.
Nhưng quan trọng hơn cả,
bạn phải thấy một tấm gương về cách sống
có nguyên tắc nhưng không cứng nhất,
có lý tưởng nhưng không ảo tưởng,
có gan dạ nhưng không liều lĩnh.
Địch Nhân Kiệt sống trong thời đại
khủng bố nhất lịch sử Trung Hoa,
nhưng ông không chỉ sống sót,
ông còn làm được những điều vĩ đại
và bí mật của ông rất đơn giản,
làm việc thực sự có ích,
giữ vững nguyên tắc nhưng biết uốn nắn,
xây dựng giá trị không thể thay thế
và luôn luôn nhìn xa hơn cuộc đời mình.
Nếu bạn có thể học được những điều này
từ Địch Nhân Kiệt,
thì dù thời đại có khắc nghiệt đến đâu,
bạn vẫn có thể tồn tại và tạo ra ý nghĩa,
không phải vì bạn may mắn,
mà vì bạn đã học được nghệ thuật
sống đúng nghĩa.
Cổ Kim Thư Quán đã dẫn bạn đi qua
hành trình phi thường của Địch Nhân Kiệt
từ một thanh niên nghèo khổ trăm lo học hành
đến vị thừa tướng
được võ tắc thiên kính nghệ.
Nếu câu chuyện này đã chạm đến bạn,
hãy nhấn like, chia sẻ
để nhiều người cùng học hỏi
và để lại bình luận cho chúng tôi biết
bạn nghĩ gì về nghệ thuật sinh tồn trong quyền lực.
Đừng quên theo dõi kênh
để không bỏ lỡ những câu chuyện lịch sử
đầy bài học khác.
Hẹn gặp lại bạn trong những hành trình tiếp theo
nơi quá khứ sẽ tiếp tục
soi sáng con đường phía trước.
