VÌ SAO Tống Vũ Đế Lưu Dụ TÀN SÁT toàn bộ hậu duệ của Tư Mã Ý?

Đình Sự
537 người theo dõi
Vì sao Tống Vũ Đế lưu dụ tàn sát toàn bộ hậu duệ của Tư Má Ý?
Một Tư Má Ý ẩn nhẫn.
Tư Má Ý đóng vai trò rất lớn trong việc thành lập Nhà Tấn.
Nếu không có sự nhấn nhịn của ông,
Nhà Tấn có lẽ đã không xuất hiện trong chiều dài lịch sử của Trung Quốc.
Ban đầu Tư Má Ý chỉ là một thư ký như cách gọi thời nay dưới chướng Tào Tháo.
Tuy có tài nhưng chưa đủ ảnh hưởng đến đại quốc.
Kinh qua mấy chục năm năm vùng,
ông đã trở thành nhân vật hàng đầu của nhà ngụy, quyền cao chức trọng.
Quan trọng là cả hoàng đế và quân thần đều rất kính trọng và tin tưởng Tư Má Ý.
Ai cũng nghĩ rằng ông là tướng trung thành nhất.
Nhưng ngay khi ai cho rằng Tư Má Ý sẽ là gia cát lượng tiếp theo,
ông đã trắng trận phát binh tấn công Tào Sản,
cuối cùng thành công khống chế được thế lực của Tào Nguyện.
Có thể nói, nếu không có sự ẩn nhẫn của Tư Má Ý,
căn bản Nhà Tấn không thể được thành lập.
Tư Má ra càng không thể thay thế Tào ra, trở thành bá chủ thiên hạ.
Nhưng chỉ 100 sau, gia tộc Tư Má đã hứng chịu sự hủy diệt kinh khủng.
Với sự trỗi dậy của Liêu Dụ, tức Liêu Tống Vũ Đế,
vị hoàng đế khai quốc của nhà Liêu Tống trong lịch sử Trung Quốc,
con cháu của Tư Má Ý bị tàn sát dã man, gần như không còn ai sống sót.
Thiên hạ khó đoán, ai có thể ngờ rằng gia tộc giàu có hàng đầu trăm năm trước
lại bị diệt vong trong trước mắt.
Điều khiến mọi người thắc mắc nhất là
Tư Má gian đắc tội với ai? Tại sao lại bị tàn sát?
Hung thủ đứng sau vụ tàn sát gia tộc Tư Má.
Mặc dù bề ngoài, Liêu Dụ và Thuộc Hạ đã tàn sát gia tộc Tư Má,
nhưng trên thực tế, hung thủ đằng sau chính là tổ tiên của dòng họ Tư Má.
Tại sao lại nói như vậy?
Hãy cùng xem gia tộc của Tư Má Ý đã từng bước lấp đầy hận thù,
khiến người khắp thiên hạ quán hận như thế nào.
1. Đi ngược với lời thề năm xưa.
Trước đó, ở Trung Quốc cũng có những cuộc tranh giành quyền lực
nhưng ít đẫm máu hơn nhiều.
Tất cả đều giữ lời hứa và giữ một giới hạn nhất định,
không giãn họa cho người nhà.
Thế nhưng, Tư Má Ý đã phá bỏ lời thề lạc thủy.
Được biết, lời thề lạc thủy có liên quan đến thời điểm
Tư Má Ý khuyên Tào Sản đầu hàng.
Ông đã cử hứa sung và trần thái đến thuyết phục Tào Sản,
hứa rằng chỉ cần giao binh quyền thì Tào Sản vẫn được giữ tước vị và tài sản.
Đương nhiên, Tào Sản không ngốc ngách đến mức tin ngay vào lời nói xuân này,
trừ phi Tư Má Ý phải có hành động thực tế.
Thế là, với 45 tiếng tâm hiển hách và danh dự của Tư Má Thị,
Tư Má Ý đã đứng trước quan trường ngụy quốc,
có sông núi và trời đất chứng giám,
chỉ vào dòng thác đang chảy, lạc thủy, mà phát lời thề,
bảo đảm không phụ Tào Sản, nếu không chính là nghịch thiên.
Thế nhưng, Tư Má Ý đã đi ngược lại lời thề để diệt cỏ phải diệt tận gốc.
Thay thời đổi vẫn, sóng sau sô sóng trước,
người giấy binh làm loạn hồng chiếm lấy ngôi vị cũng làm theo cách này,
lưu dụ cũng giết tất cả những người trong gia đình Tư Má khi nắm quyền.
Vì giã tâm của mình, Tư Má Ý hoàn toàn không quan tâm đến sự an toàn của thế hệ tương lai,
đã phá vỡ giới hạn của tranh giành quyền lực và gây ra bi kịch cho hậu bối.
2. Giết Hoàng đế giữa đường
Ở thời xưa, Hoàng đế là một sự tồn tại vĩ đại, là con của trời.
Cho dù tàn ác như Đồng Trác hay Tảo Tháo, cũng không xuống tay tàn độc với thiên tử Triều Hán.
Vì nếu động thủ với Hoàng đế,
cũng gián tiếp cho thiên hạ thấy rằng kẻ làm Hoàng đế cũng bị thay thế,
người khác cũng có thể ngồi lên ngai vị này.
Đó cũng chính là lý do khi Tào Phi xoán ngôi nhà Hán,
ông để Hán hiến đế thoái vị, chứ không giết.
Tuy nhiên, Tư Má Triêu, con trai của Tư Má Ý,
đã giàn dựng một cảnh giết chết Hoàng đế trên đường.
Điều này đã hoàn toàn phá vỡ sự kính sợ của người dân đối với thiên tử.
Từ đó mọi người đều biết, giết Hoàng đế cũng được,
không có gì phải sợ, chỉ cần có binh lính trong tay,
thiên hạ cũng có thể thuộc về mình.
Kể từ đó, binh đao loạn lạc, thay đổi chiều đại liên tục,
các cuộc đảo chính nổi dậy hàng loạt, ai cũng muốn làm Hoàng đế.
Sau khi lên nắm quyền, lưu dụ tự nhiên làm theo tổ tiên Tư Má ra,
giết chết Hoàng đế, thuận tiện quét sạch cả gia tộc Tư Má.
3. Chọn người kế vị kém trí tuệ, gây loạn thế
Tư Má viêm sáng lập chiều đại Tây Tấn, tức Tấn Vũ Đế,
vốn là một vị Hoàng đế đầy triền vọng,
nhưng trước khi chết đã chọn nhầm người kế vị,
dẫn đến loạn thế, sinh linh diệt vong.
Khi thành lập nhà Tấn, Tấn Vũ Đế lo ngại về sự ổn định của chiều đại
và tin rằng chiều đại trước đó, Tào Nghủy,
đã bị thất bại do không trao quyền cho các Hoàng thân của Hoàng đế.
Vì thế ông đã trao binh quyền tại các địa phương cho các chú,
anh em họ và các con trai.
Điều này chơ trêu thay đã dẫn đến sự hỗn loạn của nhà Tấn.
Khi các thân vương nắm binh quyền đã đua nhau làm phản,
tạo ra cuộc hốn chiến tranh chấp quyền lực đã gần như phá hủy nhà Tấn
và buộc chiều đại này phải di chuyển đến vùng phía nam sông Hoài.
Việc chiều chính, Tấn Vũ Đế dựa vào hai đại thần Giả Sung và Vệ Quán
là hai người từng theo dúc Tư Má chiều cuối thời ngụy trước kia.
Tấn Vũ Đế có con cả Tư Má Trung vốn là người đần độn.
Sau khi Tấn Vũ Đế Tư Má viêm băng hạ,
thái tử Tư Má Trung lên thay, tức Tấn Huệ Đế,
thái tử Phi Giả Thị được phong làm hoàng hậu.
Ngay sau cái chết của Tấn Vũ Đế, nhà Tấn bắt đầu suy yếu
vì Huệ Đế không điều hành nổi chiều đình.
Giả Thị giết đại thần, nắm đại quyền lại làm các việc dâm loạn,
khiến các hoàng thân đồng loạt nổi lên làm loạn,
gây ra loạn bát vương và ngũ hồ loạn hoa dẫn tới sự diệt vong của nhà Tây Tấn.
Tất cả chỉ khoảng 26 năm sau khi Vũ Đế mất.
Tư Má Ý thẳng tay tiêu diệt một gia tộc 400 năm sau
để lại hậu họa khiến đường Thái Tông phải đau đầu.
Trong tám quốc, nhân vật quyền lực nhất,
thậm chí được coi là chủng quế chính là Tư Má Ý.
Sau mấy chục năm ẩn nhẫn chờ thời,
chịu được ba đời Tảo Gia, Tảo Tháo, Tảo Phi và Tảo Duệ,
Tư Má Ý đã tiến hành một cuộc lật đổ ngoạn mục vào năm 249,
biến hoàng đế của Tảo Nguy chỉ còn trên lý thuyết.
Tư Má Ý nắm đại quyền của Tảo Nguy,
tạo tiền để vững chắc cho cháu nội là Tư Má Viêm Xoán Ngôi Nhà Nguy,
thành lập nhà tấn, chấm dứt thời kỳ tam quốc đầy biến động.
Tư Má Ý được đánh giá là một chính trị gia,
nhà quân sự tài giỏi thời tam quốc,
một nhân vật kiệt xuất,
đồng thời là kỳ phùng địch thủ của Gia Cát Lượng.
Trong thời kỳ này, Tư Má Ý có sức ảnh hưởng rất lớn.
Nhất cử, nhất động của ông cũng có thể ảnh hưởng đến cục diện của tam quốc,
thậm chí là cả các triều đại nhà tùy, nhà đường sau này.
Lúc sinh thời, Tư Má Ý nổi tiếng là người túc trí đa mưu,
giúp Tảo Nguy có thể giữ vững được vị thế thời tam quốc.
Ông từng lập công lớn giúp Tảo Nguy với bớt nỗi lo về thế lực bên ngoài.
Tuy nhiên, việc làm này của Tư Má Ý lại vô tình để lại một hậu quả không ngờ
và 400 năm sau trở thành vấn đề nhất nhối.
Vấn đề này thậm chí khiến cho đường Thái Tông Lý Thế Dân,
một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử,
Trung Quốc cũng phải đau đầu vì không giải quyết được.
Rốt cuộc Tư Má Ý đã làm gì và mối họa để lại cho hậu thế ra sao?
Tư Má Ý lập đại công cho Tảo Nguy.
Tư Má Ý thẳng tay tiêu diệt một gia tộc,
400 năm sau để lại hậu họa khiến đường Thái Tông phải đau đầu.
Ảnh 3
Vào thời nhà Hán, ở phía đông bắc có nước Cao Câu Ly,
ở phía bắc bán đảo Triều Tiên, rất mạnh.
Tuy nhiên, so với sự phát triển hùng cường của nhà Hán thì nước này vẫn còn rất nhỏ.
Cao Câu Ly tuy đầu hàng nhà Hán,
nhưng vẫn nuôi tham vọng.
Trên thực tế, nước này nhiều lần phát binh khởi nghĩa dưới thời Vương Mã,
một quyền thần nhà Hán, sau trở thành hoàng đế duy nhất của nhà Tân,
đồng thời làm gián đoạn nhà Hán và lưu tú, hoàng đế thứ 16 của nhà Hán.
Tuy nhiên, kết quả là Cao Câu Ly nhiều lần bị tổn thất nặng nề.
Sau đó, vào thời Tam Quốc, khi thiên hạ hỗn loạn,
người Cao Câu Ly lại muốn tận dụng cơ hội một lẫn nữa.
Tuy nhiên, lúc này họ lại phải đối mặt với gia tộc công tôn của nhà Đông Hán.
Đây là gia tộc sản sinh ra nhiều vị tướng tài và không ít lần đại chiến với Cao Câu Ly.
Mặc dù Cao Câu Ly bị gia tộc công tôn đàn áp,
tuy nhiên, tình hình đã thay đổi khi Nguyện Minh Đế Tảo Rệ,
204-239, vị hoàng đế thứ 2 của Triều Tàu Nguyện, lên ngôi.
Theo đó, vào năm 237, Nguyện Minh Đế muốn thôn tính liêu đồng
nên ông đã sai thứ xử Ú Châu là vô kỳ kiệm hoặc vô khâu kiệm,
mang chiếu thư của Triều Đình đến gọi công tôn Nguyên,
quân phiệt cắt cứ ở Liêu Đông, vào Lạc Dương để triều kiến.
Công tôn Nguyên do lo sợ bị bắt giữ nên không dám vào trầu
và cuối cùng khởi binh phản hủy.
Kết quả, quân Liêu Đông giao tranh với quân Ú Châu tại huyện Liêu Toại.
Công tôn Nguyên đã đánh lui được vô kỳ nhiệm.
Sau đó, công tôn Nguyên tự xưng làm Yên Vương,
đồng thời cử người đi quan hệ với người tiên ti ở nội Mông
nhằm khuấy đảo vùng biên giới nước Nguy.
Đến năm 238, Tảo Duệ trao cho Tư Má Ý đảm nhận nhiệm vụ
mang theo đại quân tấn công Yên.
Tư Má Ý túc trí đa mưu dẫn đại quân hai lần đánh bại công tôn Nguyên
trên chiến trường và buộc vị thủ lĩnh này phải lui về Tương Bình.
Quân Nguyện đã bao vây thành Tương Bình.
Lúc này, trời đột ngột đổ mưa khiến cho cuộc chiến giữa hai bên bị gián đoạn.
Sau khi mưa tảnh, Tư Má Ý đã tung ra một cuộc tấn công tổng lực đánh thành gấp.
Dù công tôn Nguyên sai người đi thỉnh cầu giải vây,
đồng thời xin đưa nộp con tin sang Nguyện,
nhưng Tư Má Ý đều không chấp nhận.
Cuối cùng, do không còn cách nào khác nên công tôn Nguyên đánh phải phá vòng vây để thoát ra.
Ông cùng với các tướng lĩnh đánh ra cửa nam nhưng không thoát khỏi vòng vây
và cuối cùng bị tử trận ở bên bờ sông Lương Thủy.
Các con của công tôn Nguyên cũng bị giết khi chạy trốn.
Tư Má Ý dẫn đại quân vào thành Tương Bình thực hiện một cuộc đại sát.
Cụ thể, quân Nguy dết 7.000 người đàn ông,
hơn 2.000 quan văn võ do công tôn Nguyên bổ nhiệm cũng đều bị chém chết.
Theo ghi chép trong lịch sử, gia tộc công tôn,
tính từ công tôn Độ, chấn giữ ở Liêu Đông từ năm 189 thời Hán Linh Đế.
Tuy nhiên, đến khi công tôn Nguyên bị giết chết năm 238 thời Tam Quốc
thì dòng họ này chỉ tồn tại được 3 đời.
Trong chiến dịch đánh công tôn Nguyên ở Liêu Đông,
Tư Má Ý đã lập đại công, giúp tàu Nguy củng cố quyền lực vững chắc.
Vậy, mối họa rắc rối mà Tư Má Ý vô tình để lại là gì?
Công tôn Nguyên và các con của ông đều bị Tư Má Ý và quân Nguy giết chết.
Gia tộc công tôn cũng hoàn toàn bị tiêu diệt kể từ năm 238.
Do không có đối thủ mạnh là những vị tướng tài giỏi,
thiện chiến của gia tộc công tôn,
nên Cao Câu Ly bắt đầu phát triển nhanh chóng và chiếm vị trí đứng đầu ở Liêu Đông.
Đến thời nhà Tùy và nhà Đường, Cao Câu Ly trở thành bá chủ ở Liêu Đông.
Cao Cao Ly phát triển hùng mạnh và từ lâu muốn xâm chiếm khu vực Trung Nguyên.
Vào thời điểm này, các hoàng đế của các triều đại của nhà Tùy và nhà Đường
cũng cảm thấy nguy cơ, đồng thời nhiều lần phái quân đi đánh nước này.
Tuy nhiên, lần nào họ cũng chịu thất bại.
Ngay cả một nhân tải quân sự như Đường Thái Tông
đích thân dẫn quân ra chiến trường để đánh Cao Câu Ly nhưng cuối cùng vẫn phải ra về Tây Trắng.
Đây cũng là lần hiếm hoi hoàng đế Đường Thái Tông chịu thất bại khi cầm quân chinh chiến.
Cuộc chiến với Cao Câu Ly vẫn tồn tại cho đến khi vị hoàng đế Tài Ba này qua đời
và không có bước phát triển đột phá nào.
Các nhà sử học nhận định rằng Đường Thái Tông bình định thiên hạ
dựa vào những chiến công hiển hách.
Duy chỉ có chiến dịch Liêu Đông,
vì vị hoàng đế Tài Ba này cầu vẹn toàn,
lo ngại đại quân chịu tổn thất lớn nên đành trở về Tây Trắng.
Chỉ đến thời Đường Cao Tông Lý trị,
quốc gia nhỏ bé gây rắc rối hàng trăm năm cho các triều đại ở Trung Quốc mới bị đàn áp hoàn toàn.
Tống Vũ Đế Liêu Dụ và Vụ Phó Thác Con Côi Thất Bại Nhất Lịch Sử Trung Hoa
Liêu Dụ và Vụ Phó Thác Con Côi Thất Bại Nhất Lịch Sử Trung Hoa
Tống Vũ Đế, 16 tháng 4 năm 363, 26 tháng 6 năm 422,
tên thật là Liêu Dụ, tên tự Đức Dư, Đức Hưng, tiểu tự Ký Nô,
quê ở thôn Tuy Dư Lý, huyện Bành Thành,
là nhà chính trị và quân sự hoạt động vào cuối thời Đông Tấn
và đồng thời cũng là vị hoàng đế khai quốc của nhà Liêu Tống trong lịch sử Trung Quốc.
Tuy xuất thân Bần Hàn, nhưng với tài năng của mình,
ông bắt đầu đặt chân vào quân đội trong chiều đỉnh Đông Tấn,
lần lượt kinh qua các chức vụ quan trọng.
Năm 405, Liêu Dụ lánh binh tiêu diệt quân khởi nghĩa của sở đế Hoàn Huyền,
từ đó ông nắm toàn bộ quyền lực trong chiều đỉnh.
Những năm tiếp theo, Liêu Dụ tiến hành bắt phạt,
tiêu diệt các quốc gia của người Hồ ở miền Bắc là Nam Yên và Hậu Tần,
mở rộng lãnh thổ Đông Tấn.
Bên trong, ông tiêu diệt được các thế lực của các tướng lĩnh và quý tộc như Liêu Nghị,
ra các trưởng dân, tư mã Hiêu Chi, củng cố quyền lực lớn mạnh.
Năm 416, ông được ban tước vị Tống Công và gia phong Kiểu Tích,
kiến quốc trên đất 20 quận.
Năm 419, ông ép vua Tấn Phong cho mình làm Tống Vương
và sang năm 420 thì đoạt ngôi nhà Tấn,
lên ngôi Hoàng Đế, kiến lập nhà Liêu Tống,
triều đại đầu tiên ở phía Nam trong thời kỳ Nam Bắc Triều.
Tống Vũ Đế Liêu Dụ và Vụ Phó Thác Con Côi
thất bại nhất lịch sử Trung Hoa Ảnh I.
Liêu Dụ thường được nhìn nhận là một người hiếu sát và đa nghi.
Tính cách này của ông thể hiện rất rõ
qua việc giết hại các đại thần và tướng lĩnh như Liêu Nghị,
ra các trưởng dân, tư mã Hiêu Chi,
và từng có ý định tản sát toàn bộ dân chúng trong thành Quảng Cố
chỉ vì họ chống cự ngoan cường làm quân mình khó tiến công
hay định đem con gái trong thành ban thưởng cho tướng sĩ.
Sau khi diệt Nam Yên,
ông cho sát hại hơn 3.000 quý tộc nước Yên
và ra lệnh giết hại Tông Thất Hậu Tần vào năm 417
mặc dù họ đã đầu hàng.
Những hành động này bị nhiều xử ra đời sau chê trách.
Trong đó có tư mã Quang đời nhà Tống.
Tuy nhiên Liêu Dụ cũng được cho là người biết sống giản dị,
tiết dục, nghiêm trình và có pháp độ.
Tư trị thông dám dẫn ra một việc làm thể hiện tính cách ấy của ông.
Đó là câu chuyện vào lúc sau khi ông diệt được Hậu Tần,
bắt được một người con gái của Hậu Tần Cao Tổ.
Ban đầu thì Liêu Dụ rất sùng ái nàng ta,
có khi còn cho bàn việc chính sự.
Nhưng khi tạo hối lên tiếng can rán,
Liêu Dụ vẫn vui vẻ lắng nghe và đưa Mỹ nữ đó ra khỏi phủ.
Ông không tham lan tài vật,
khi còn làm tướng cũng không giấu giếm của cải.
Khi làm hoàng đế, Liêu Dụ vẫn rũ được tính giản dị đó.
Thậm chí ông còn cấm hoàng tộc theo lối sống xa xị.
Thêm vào đó, Liêu Dụ còn là người nghiêm minh.
Mỗi khi hành quân, quân đội của ông thường không quấy nhễu tới dân chúng.
Đồng thời ông cũng là một vị tướng tài giỏi.
Trong trận chiến với Nam Yên,
Liêu Dụ liệu định trước việc quân Yên sẽ không cố thủ lâu ở Đại Hiện Sơn.
Quả nhiên đúng sự thật.
Lúc sai Chu Linh Thạch trinh phạt Tây Thục,
Liêu Dụ dặn kế cho Linh Thạch nên tấn công theo tuyến đường dài hơn đến Kinh Thành.
Tây Thục là thành đô theo Mân Giang
và dùng nghi binh theo Phủ Giang ở gần nhằm phân tán sự phòng thụ của quân Thục.
Cuối cùng Linh Thạch dùng kế đó và giành được thắng lợi.
Liêu Dụ thu dùng nhân tài thường chỉ trọng tài năng,
không quan tâm đến gia thế.
Rất nhiều quan lại nổi tiếng dưới thời Liêu Tống Vũ Đế xuất thân từ Hàn, Môn.
Có một lần, lúc Liêu Dụ đã nắm được quyền ở Kiến Khang
thì nhận được tin quận Kiến Châu tiến cử lên triều đình một số tú tài và hiếu liêm.
Nghi ngờ năng lực thực sự của những người này,
Liêu Dụ bèn khảo hạch để kiểm tra tài năng của họ và đích thân trông coi.
Ngoài ra Liêu Dụ cũng trú trọng đến việc chống tham nhũng hối lộ.
Năm 415, ông ra lệnh cấm quan lại ở các châu
Một lần khác, Quảng Châu tiến cống lên Liêu Dụ một số đồng tế bố.
Liêu Dụ thấy những đồng ấy quá tinh xảo,
biết được là người dân phải chịu phiền hà và khổ nhọc để làm ra nên không nhận
và từ đó cấm sản xuất đồng tế bố nữa.
Lại một lần Liêu Dụ bị bệnh nóng nên được nằm trên giường đá.
Tuy nhiên lúc đó ông lại cảm thấy việc làm giường tốn nhiều công sức và nhân lực
mà chỉ để phục vụ cho riêng mình.
Bèn ra lệnh hủy đi.
Ông cũng không tin vào những điều dị đoàn.
Trong thời gian ở ngôi, Liêu Dụ hạ sinh hủy nhiều đền miếu thần linh
chỉ cho phép thở những vị hiền nhân hay tướng lĩnh có công.
Lúc lâm bệnh sắp mất, ông cũng từ chối việc cầu thần linh để mong khỏi bệnh.
Trước lúc lâm trung, Liêu Dụ đã gọi bốn vị đại thần tâm phúc đến,
giao phó, gửi gắm con trai mình là Liêu Nghĩa Phủ không tải cán gì cho bốn người đó.
Sau ngay năm sau khi Liêu Dụ qua đời,
bốn vị đại thần đã bí mật âm miêu hại chết tân đế.
Bốn vị đại thần lần lượt là Tử Tiễn Chi, Phó Lượng, Tạ Hối và Đàn Đạo Kế.
Nguyên nhân bốn người này bí mật âm miêu sát hại tân đế Liêu Nghĩa Phủ
không phải là vì tiên đế Liêu Dụ phó thác sai người mà ngược lại.
Cả bốn người này có thể nói đều là tâm phúc tuyệt đối của Liêu Dụ,
là công thần khai quốc.
Bắt đầu từ khi tiên đế Liêu Dụ phó thác chuyện hậu sự
từ trong lời dặn dò của ông,
Liêu Nghĩa Phủ có thể nói là không tài giỏi gì.
Ngay từ khi Liêu Dụ vẫn còn sống,
Liêu Nghĩa Phủ đã ham thích dòng chơi.
Đến khi Liêu Dụ qua đời,
Liêu Nghĩa Phủ cho rằng không ai có thể quản thúc mình nữa.
Cho nên lại càng thêm không kiêng nể gì,
không những không hỏi han chuyện chiều chính.
Thậm chí đến khi Bác Nghị xâm lược lãnh thổ,
tướng quân thất bại phải tự sát ông cũng không lo lắng,
vẫn ngày đêm đắm chìm vào thế giới riêng của bản thân.
Việc này đã khiến bốn vị đại thần được tiên hoàng giao phó không thể chấp nhận được,
vì không muốn thiên hạ mắc sai lầm,
đã tước đi ngọc tỉ của Liêu Nghĩa Phủ rồi giết ông.
Sau đó, cả bốn vị đại thần đưa vị hoàng tử thứ ba của tiên đế là Liêu Nghĩa Long lên làm hoàng đế.
Đây cũng chính là Tống Văn Đế sau này.
Trong thời gian Tống Văn Đế chỉ vì được ca tụng là thời kỳ nguyên gia chi trị.
Tấn Vũ Đế, hoàng đế ban bố lệnh cấm kết hôn để độc chiến toàn bộ mỹ nhân thiên hạ.
Do có quá nhiều phi tần, Vũ Đế đã nghĩ ra độc chiêu dùng xe dê để chọn người ân ái cùng mình mỗi đêm.
Cấm dân chúng kết hôn để tuyển phi tần.
Tấn Vũ Đế, 236 đến 290, tên thật là Tư Mã Viêm,
thời kỳ trị vị của ông kéo dài từ năm 266 đến năm 290, tổng 24 năm.
Tấn Vũ Đế là vị vua đầu tiên của nhà Tây Tấn.
Sau khi lên ngồi, Tư Mã Viêm cai trị đất nước theo nguyên tắc vô vi,
quan thư sức dân, phát triển sản xuất, giúp kinh tế phát triển thịnh vượng.
Tiếc rằng cuối đời lại sa vào ha mê sắc dục, chuyên quyền hống hách, tiêu sải hoang phí.
Những năm đầu trị vị, vợ của Tư Mã Viêm là Hoàng hậu Dương Diễm.
Bà quan từ độ lượng, có nhan sắc trời phú lại biết cách cư xử.
Trong suốt thời gian còn sống bà gần như không hề bị thất sủng.
Năm Thái Thùy thứ 10, 274, Dương Hoàng hậu bệnh nguy kịch.
Trên giường bệnh, bà vẫn toan tính cho gia tộc, ngăn cản Tấn Vũ Đế lập sùng Phi Hồ Quý Tân làm Hoàng hậu,
mà tiến cử em họ Dương Trị vào cung, hy vọng bảo toàn vinh hoa phú quý cho gia tộc họ Dương.
Dương Trị tuổi trẻ, nhan sắc xuân thanh lại biết lễ nghĩa nên rất được Tấn Vũ Đế sùng Thái.
Đến ngày 25 tháng 8 cùng năm, Dương Diễm Hoàng hậu qua đời, hưởng thọ 36 tuổi.
Có thể thấy, dù có trong tay cả Giang Sơn nhưng Tư Mã Viêm cũng rất sợ và tôn trọng Hoàng hậu Dương Diễm,
chuyện nạp thêm phi tần đều phải chịu theo ý kiến của bà.
Chỉ đến khi Hoàng hậu Dương Diễm lâm bệnh qua đời, Tư Mã Viêm mới ra lệnh cấm dân chúng kết hôn.
Lệnh này được áp dụng cho cả nước.
Theo cuốn võ Nguyên Dương Hoàng hậu truyền mô tả lại,
Tấn Vũ Đế muốn tuyển chọn con gái nhà lành trong khắp cả nước vào hậu cung làm phi tần.
Do vậy ông ra lệnh cấm dân chúng tiến hành hôn lễ, dựng vợ gả chồng.
Nhà ai có ý định giấu con gái hoặc kháng lệnh sẽ bị trừng phạt.
Sứ giả của nhà vua tới các châu, quận để truyền lệnh vua ban.
Tử Quan Trung đang trở lên và sĩ tộc Phổ Thông cũng phải tiến cử con gái trong tộc cho Tấn Vũ Đế.
Nhiều gia đình giàu có đã phải cho con khé ăn mặc rách dưới hoặc giả bệnh để tránh việc bị tuyển vào cung.
Trong một đêm có thể tuyển tới 10 người, thậm chí có ngày còn tuyển cả trăm người.
Lệnh cấm kết hôn của Tấn Vũ Đế được ghi nhận là sự việc lần đầu tiên xảy ra trong lịch sử.
Hơn thế nữa, phạm vi tuyển trọn lại bao trùm cả đất nước Tây Tấn rộng lớn.
Vì không gì cao hơn lệnh vua ban, nên kẻ nào dám trái lệnh sẽ bị xử trảm.
Mặc cho lệnh ban đi ngược lại lẽ thường, năm Thái Thủy thứ 9 toàn bộ hôn lễ đều bị hủy bỏ.
Tất cả mỹ nữ trong nước kể cả người đã là vợ chưa cưới của người khác cũng bị liệt vào danh sách mỹ nữ tiến cung.
Tư Mã Viêm còn đặc biệt yêu cầu con gái của các vị đại quan trong chiều cũng phải vào cung ứng tuyển, nếu kháng lệnh sẽ bị xử tội.
Những gia đình quý tộc không dám trái lệnh vua đành phải chuẩn bị cho con gái mình để tiến cung.
Chưa dừng lại ở đó, khi quận Tây Tấn đánh thắng quân Ngô, Tấn Vũ Đế nghe nói người đẹp Giang Nam không giống với mỹ nhân Bắc Kinh.
Nhất là người đẹp ở Ngô Việt Thủy Mỹ, kiểu diễm, khiến người khác vô cùng mê mẩn.
Bởi vậy Tư Mã Viêm lại hạ lệnh tuyển mỹ nữ Giang Nam tiến cung.
Vua Ngô Tôn Hảo cũng thích siêu tầm người đẹp không khác gì Tư Mã Viên.
Mỹ nữ trong cung vua Ngô nhiều vô kể, ước khoảng hơn 5.000 người.
Sau khi nước Ngô quy hàng Tấn Vũ Đế, tất cả người đẹp của vua Ngô đều phải vào cung Lạc Dương của Tấn Vương.
Cứ như vậy, mỹ nữ trong cung của Tấn Vũ Đế lên tới hơn 10.000 người.
Thực tế, theo tính toán dù mỗi ngày Tấn Võ Đế Tư Mã Viêm có thay phiên thị tầm một phi tử thì 10 năm cũng vẫn không thể lâm hạnh xong.
Thành tích này của Tấn Võ Đế quả thực lưu danh thiên cổ, đến nay vẫn không có người vượt qua nổi.
Lúc đó cung điện thì quá nhỏ, không chứa đủ nhiều mỹ nữ như vậy.
Do đó Tấn Vũ Đế bèn sai người ngày đêm xây thêm cung điện.
Cuối cùng cung bố trí ổn thỏa cho tất cả người đẹp của ông.
Từ đó Tấn Vũ Đế cũng bắt đầu cuộc đời ăn chơi trụy lạc của mình.
Dương xe vọng hạnh.
Chính tàm cung lục viện có đông đảo thề thiếp như vậy nên Tấn Vũ Đế đã nghĩ ra một cách vô cùng đặc biệt để lựa chọn mỹ nữ sẽ lâm hạnh, ân ái, với mình.
Theo sử liệu ghi chép, cách chọn mỹ nữ ân ái của Tấn Vũ Đế được gọi là Dương xe vọng hạnh.
Hiểu một cách đơn giản là vị vua này sẽ tọa trên một cỗ xe do dê kéo, rong rủi trong hậu cung của mình.
Xe dê dừng lại ở cung, hay phòng, của phi tần nào thì ông sẽ chọn người đó để ân sùng.
Chuyện kể rằng, trong cả vạn cung tần mỹ nữ của Tấn Vũ Đế có một người tên Phan Thục Phi,
vốn rất thông minh đang nghĩ ra một cách để khiến cỗ xe dê luôn dừng trước cung của mình.
Theo đó, nhờ tìm hiểu kỹ về những món khoái khẩu của dê nên Phan Thục Phi đã trồng trước cung của mình những khóm trúc tươi tốt,
cộng thêm việc rắc nước muối trước cửa cung để rụ những con dê của Tấn Vũ Đế.
Dĩ nhiên, dê là loại vật có khíu rắc rất nhạy nên khi ngửi được mùi những thứ rất hấp dẫn này,
cỗ xe dê luôn dừng lại trước cung Phan Thục Phi, và nhờ vậy nàng ta thường xuyên nhận được ân sùng của Tấn Vũ Đế.
Dĩ nhiên, Phan Thục Phi không chỉ thông minh mà còn xinh đẹp và rất biết cách khiến Tấn Vũ Đế hài lòng trong chuyện phòng the nên nàng sau đó được ông trao quyền cai quản cả hậu cung.
Sau này các phi tần khác cũng học theo Phan Thục Phi, nhưng đến lúc đó thì quyền lực của Phan Thục Phi đã lớn mạnh khắp hậu cung rồi.
Dưới thời kỳ trị vị của mình, Tấn Vũ Đế từng hỏi Đại Thần là Liêu Nghị rằng, Khanh thấy chấm có thể so sánh với vị hoàng đế nào của nhà Hán.
Ý của vua muốn được so sánh với Cao Đế, Vũ Đế, Quang Vũ Đế hoặc Chí Ít cũng như Văn Đế, Khánh Đế.
Nhưng Liêu Nghị trả lời, Bệ Hạ chỉ có thể ví mình với hoàng đế, Linh Đế thôi.
Vũ Đế tức giận, hỏi tại sao?
Liêu Nghị đáp, hoàng đế, Linh Đế bán quan tức lấy tiền nhưng vẫn cho vào trong quốc hố.
Bệ Hạ bán quan tức lấy tiền nhưng lại sử dụng cho riêng mình.
Như vậy là ngay cả hoàng đế, Linh Đế Bệ Hạ cũng không bằng.
Vũ Đế giận lắm, nhưng đành phải cười trừ.
Sao chấm lại giống hoàng đế, Linh Đế được?
Chấm ít ra còn có trung thần dám nói sự thật như Khanh.
Sau này, Mao Tùn Cương trong phần Thánh Thán của Tam Quốc Diễn Nghĩa đã bình luận rằng
thời Tam Quốc mở đầu bằng hoàng, Linh thì kết thúc cũng bằng hoàng, Linh.
Ngoại trừ ý nói phẩm chất của Vũ Đế cũng giống như hoàng.
Linh còn có ý nói sau khi hoàng đế, Linh Đế mất thì diễn ra chiến loạn.
Chiều Hán bị diệt vong, sau khi Vũ Đế mất thì Tây Tấn cũng diệt vong.
Cuộc sống buông thả trong dục vọng của Tư Mã Viêm đã ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe của ông.
Ngay tới cả Tư Trị Thông Giám cũng nói rằng,
cực ý thanh sắc, tỏi trí thành tật đại ý là do việc hà mê dục vọng,
sắc đẹp quá đà mà sinh ra bệnh tật.
Bởi vậy, năm công nguyên 290, Tư Mã Viêm bệnh nặng qua đời,
hưởng thọ 55 tuổi.
Gia tộc Tư Mã xoán ngôi nhà ngụy, lập nên nhà tấn.
Việc tương tự cũng đã từng nhiều lần xảy ra trong lịch sử Trung Quốc.
Vậy tại sao họ Tư Mã lại bị chỉ trích gây gắt hơn cả?
Phò xử Trung Quốc nghìn năm, trải qua biết bao biến cố thăng trầm,
mỗi vương chiều phong kiến xuất hiện những nhân vật xoán ngôi đoạt vị nhưng ít người bị chỉ trích nặng nề.
Thậm chí có những trường hợp, có thể kể đến như lý thế dân còn được lịch sử đánh giá rất cao.
Vậy tại sao cùng là xoán ngôi đoạt vị, gia tộc Tư Mã lại phải hứng chịu những lời phê phán gây gắt tới vậy?
Thậm chí sau này khi Lưu Dụ, tức Tống Vũ Đế xây dựng chính quyền Lưu Tống,
giết chết không ít người trong gia tộc Tư Mã, người dân đều coi hành động của Lưu Dụ thật anh hùng.
Rõ ràng, đây là một sự bất công lớn đối với gia tộc Tư Mã.
Vậy rốt cuộc, nguyên nhân tạo ra sự bất công này đến từ đâu?
Sở dĩ gia tộc này phải chịu sự đối đải bất công, xuất phát từ một vài nguyên nhân chính dưới đây.
Ở góc độ động cơ, mục đích chính của gia tộc Tư Mã là cướp ngôi đoạt vị.
Nhìn lại lịch sử, có rất nhiều người mưu đổ cướp ngôi đoạt vị.
Nhiều người trong số họ do tình thế đưa đẩy, bất đắc dĩ làm như vậy.
Năm xưa, Vương Mã xoán ngôi nhà Hán.
Lúc bấy giờ nhà Tây Hán đã đi đến những giai đoạn cuối cùng của triều đại.
Thiên hạ suy tản, chính quyền thối nát, hoàng đế nhu nhược, hoàng dâm.
Chính vì thế, thiên hạ thực sự cần một vị đại thần có năng lực, đứng ra dẹp loạn, cứu vớt lê dân.
Giữa tình thế đó, Vương Mã chính là ngọn núi cao sửng sững để mọi người trông cậy cả vào.
Cho nên mặc dù sau cùng, Vương Mã cũng không thể hoàn thành được sứ mệnh cao cả,
lại khiến đất nước thêm phần dối ghen nhưng vào thời điểm ban đầu khi lên ngôi ông được dân chúng hết mực ủng hộ.
Ngoài ra, phải kể tới sự kiện Tào Tháo lên nắm quyền khi Đông Hán bước vào giai đoạn mục ruỗng khó lòng cứu vãn.
Tào Tháo tuy rằng khống chế thiên tử nhưng ông thực sự đã đóng góp công sức không nhỏ vào sự nghiệp cứu rút bách tính lê dân.
Không những thế, lúc sinh thời, Tào Tháo cũng chưa từng có ý nghĩ xoán ngôi vị.
Vì thế mà sau này khi hậu ruệ, Tào Phi xoán Hán,
bất kể do Tào Phi ép buộc hay lưu hiệp tức Hán hiến đế tự nguyện thoái vị,
thì bước chuyển giao quyền lực này vẫn hết sức xuân xẻ, yên ổn, không khiến bách tính rơi vào cảnh lầm than.
Ngay cả lưu hiệp sau khi thoái vị vẫn nhận được sự đái ngộ tốt từ chính quyền Tào Phi.
Vậy nhưng gia tộc Tư Mã lại không như vậy.
Khi nói về gia tộc Tư Mã, người ta hay nhắc tới Tư Mã Ý gắn liền với tướng mạo lang cố thận trọng đa nghi,
lòng dạ Miu Mô, hay Tư Mã Chiêu với câu lòng dạ Tư Mã Chiêu.
Người đi đường đều biết, ngụ ý trí hướng của gia tộc Tư Mã nằm ở ngôi báu,
chứ không phải ở việc dẹp loạn, bình định thiên hạ, cứu giúp bách tính muôn dân.
Động cơ của họ ngay từ ban đầu đã không hề trong sáng,
bởi vì khi đó Tào ngụy đoạt chính quyền, nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ của triều đình và nhân dân.
Hơn nữa, hậu ruệ của Tào ra số mệnh ngắn ngủi,
Hoàng đế tuy rằng không giỏi giang nhưng cũng không có ai hoang dâm, loạn chính.
Vì thế, có thể nói, hành động cướp ngôi đoạt vị của gia tộc Tư Mã không xuất phát từ sự chính nghĩa mà từ giã tâm tư lợi,
do đó mê vấp phải sự lên án gây gắt của người đời.
Ở gó độ quá trình, gia tộc Tư Mã sát hại vô số người vô tội.
Hành trình đi đến ngôi báu của gia tộc Tư Mã nhuốm màu máu.
Trên mỗi bước đường tranh ngôi đoạt vị, họ đều đạp lên sương máu của không biết bao nhiêu nhiều người.
Tư Mã Ý phát động chính biến lăng cao bình, giết sạch gia tộc Tào sản và toàn bộ phe cánh.
Sau đó, tiếp tục thanh trừng Tư không vương lăng và đồng đảng.
Có thể nói một nửa triều thần lúc bấy giờ bị chết trong tay Tư Mã Ý.
Chưa dừng lại ở đó, Tư Mã Ý mượn chuyện giết vương lăng, giam lỏng ra quyến Tào ngụy tại nghiệp thành, sai người ngày đêm canh giữ.
Khi Tư Mã Sư chấp chính, tiếp tục sát hại và chu di tam tộc đối với những vị triều thần tỏ ý không phục như Trung Thư lệnh Lý Phong, Thái Thường Hạ Hầu Huyền, Quang Lộc Đại Phu Trương Tập.
Có thể nói đây là lần thảm sát thứ ba gia tộc Tư Mã nhắm vào các vị triều thần.
Sau đó lại thẳng tay phế chuất hoàng đế Tào Phương.
Tư Mã Triêu khi còn đương quyền không những sát hại đại thần còn chỉ thị thuộc hạ, tùy ý giết hại Tào Mao, tức ngụy thiếu đế.
Đến thời Tư Mã Viêm, phế chuất Tào Hoán, vị vua cuối cùng nhà Tào Ngụy, tự đưa mình lên làm hoàng đế.
Trong suốt quá trình tranh giành hoàng vị, nhà Tư Mã đã phế chuất hai đời hoàng đế, giết hại một vị vua.
Ngoài ra, bàn tay còn nhuốm máu của không biết bao nhiêu vị đại thần tiền triều.
Với thủ đoạn bạo lực độc ác như vậy, gia tộc Tư Mã không khỏi vấp phải sự chỉ trích gay gát của người đời.
Ở góc độ kết quả, gia tộc Tư Mã đã mở ra một giai đoạn loạn lạc tiếp theo cho dân chúng và lịch sử.
Nếu như gia tộc Tư Mã đoạt ngôi, xây dựng đất nước giàu đẹp thì hậu thế, chắc chắn người đời sẽ không dành cho họ những cái nhìn đầy phản cảm đến như vậy.
Năm đó, Lý Thế Dân giết huynh đệ, đoạt hoàng vị mà phụ thân để lại.
Nhưng trong suốt sự nghiệp trị quốc của mình, Lý Thế Dân đã thực hiện các quốc sách nằm trong trinh quán tri trị, mở ra mộ thời kỳ thịnh vượng cho đại đường.
Vì thế, hậu thế đều hết mực ca ngợi công lao và tài trí của ông.
Thậm chí các nhà sử học còn cho rằng nước đi của ông là hết sức thỏa đáng.
Hay như, triệu quân dận đoạt giang sơn từ tay nhà hậu tru.
Từ đó về sau, triệu quân dận xây dựng lên triều đại bắc tống, đồng thời thống nhất đất nước.
Không những thế, nhà tống do ông lập ra có nền kinh tế văn hóa hết sức phát triển, mặc dù chính sách ngoại giao có phần kém còi.
Vì thế, hậu thế cũng dành cho triệu quân dận không ít những lời có cánh.
Nhưng gia tộc tư mã thì khác.
Sau khi lên nắm quyền, nhà tư mã chỉ chăm chăm lo sợ kẻ ngoại tộc chiếm đoạt quyền lực,
nên phân đất phong hầu cho những người trong gia tộc một cách trắng trợn nhằm giữ quyền lực trong tay dòng họ mình.
Năm xưa, Hán Triều đã từng mất rất nhiều công sức mới loại bỏ được chế độ phiên vương này.
Vậy mà vì tư lợi cá nhân, tư mã ra lại không ngần ngại sử dụng con dao hai lưỡi đó.
Kết cục dẫn tới loạn bắt vương, rồi từ đây kéo theo loạn ngũ hồ,
khiến Trung Hoa phải trải qua hàng trăm năm loạn lạc chia ly.
Từ đây có thể thấy, chính những bi kịch mà dòng họ tư mã để lại trong lịch sử Trung Quốc đã lý giải rõ ràng
tại sao hậu thế có cái nhìn không thiện cảm, cũng như chỉ trích sâu sắc đến thế đối với gia tộc này.
