Công lao của vua Quang Trung và định mệnh nghiệt ngã của Triều Tây Sơn

Đình Sự
537 người theo dõi
Hoàng đế Quang Trung xây dựng và phát triển đất nước sau chiến tranh kết thúc | Dòng Chảy Sử Việt |
Ông đã để lại nhiều dấu ấn lịch sử cho sự phát triển của thời Tây Sơn, không chỉ là nhà quân sự lỗi lạc Nguyễn Huệ còn có một tầm nhìn vượt thời đại để xây dựng phát triển đất nước.
Tuy nhiên định mệnh đã rơi xuống nhà Tây Sơn, Hoàng đế Quang Trung băng hà sớm khi chưa kịp hoàn thành các ước vọng lớn lao, sau đó là sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tây Sơn
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Khi khói lửa chiến tranh dần lắng xuống,
điều còn lại trên mảnh đất Đại Việt là sự điêu tàn, đổ nát,
cùng di họa của hàng thế kỷ chia cắt và binh đao.
Nhưng trong hoàn cảnh ấy, Hoàng đế Quang Trung đã không một phút trần trừ.
Ông lập tức bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước một cách sâu rộng và toàn diện.
Trước hết, nhà vua tỏ rõ sự khôn khéo, mềm dẻo trong đối ngoại
để duy trì nền hòa bình lâu dài với nhà thanh, một đại quốc hung mạnh bậc nhất đường thời.
Ngay sau chiến thắng, ông chủ động bình thường hóa quan hệ,
cử xứ đoàn sang chiều cống, giao cho Ngô Thỷ Nhậm và Phan Huy Ích trọng trách bang rào.
Chủ trương của vua Quang Trung rất rõ ràng, mềm mỏng trong sách lược,
trong từng bước đi cụ thể, nhưng kiên quyết trong mục tiêu
bảo vệ đến cùng nền độc lập và chủ quyền dân tộc.
Với trí tuệ và tài ngoại giao kiệt xuất,
Ngô Thỷ Nhậm và Phan Huy Ích đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh,
khiến Triều Thành công nhận Quang Trung là minh quân của Đại Việt.
Trong khi đó, Lê Chiêu Thống chỉ còn con đường sống lưu vong trên đất khách
rồi chết trong cô quạnh vào năm 1792.
Một trong những di sản vĩ đại và mang tính cách mạng bậc nhất của Quang Trung
chính là trong lĩnh vực văn hóa giáo dục.
Ông đã đưa chữ Nôm lên địa vị quốc tử, khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc.
Nhà vua khuyến khích nhân dân dùng chữ Nôm, ra lệnh biên soạn sách bằng chữ Nôm.
Tất cả văn bản hành chính và thi cử đều buộc phải dùng chữ Nôm.
Đặc biệt, ông thành lập Sùng Chính Viện để dịch sách từ Hán Văn sang Nôm,
giao cho Bậc Hiền Chiết, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Thiếp quản lý và chỉ đạo.
Cuộc cải cách ấy thổi vào Đại Việt một sinh khí mới,
đặt nền móng cho một nền giáo dục độc lập, gắn liền với linh hồn và bản sắc dân tộc.
Về kinh đô mới, Hoàng đế Quang Trung hạ chiếu cho La Sơn Phu Tử,
chọn đất dựng đô cho chiều Tây Sơn.
Vượng Hoàng Trung Đô được định làm nơi đóng đô mới.
Chú này nằm giữa non sông Gấm Vóc, cách Thăng Long và Phú Xuân, chừng 300 km.
Đây là vị trí hiểm yếu, rất thuận lợi để khống chế được cả Nam lẫn Bắc.
Tiến có thể mở mang bờ cõi, lùi có thể giữ vững giang Sơn.
Quả thật là nơi tụ linh khí đất trời, xứng đáng làm trung tâm của một đế nghiệp hiển hách.
Về kinh tế, Vua Quang Trung cương quyết xóa bỏ chính sách ức thương và bế quan tỏa càng đã tồn tại hàng thế kỷ.
Ông cũng khuyến khích thương nghiệp phát triển, mở rộng các chợ lớn, cho phép buôn bán với ngoại quốc.
Đối với nông nghiệp, Vua Quang Trung xác định có phục hồi nông nghiệp mới ổn định được trật tự xã hội,
thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là kinh tế hàng hóa, vốn đã tiêu điều do sự tàn phá của chiến tranh.
Chiếu khuyến nông ngay lập cức được ban hành trong năm 1789.
Vua Quang Trung ra chiếu dụ, kêu gọi người dân phiêu tán trở về quê cũ làm ăn,
miễn thuế nhiều năm cho ruộng đất mới khai hoang, lập lại sổ hộ tịch, sổ ruộng để quản lý.
Nhờ chính sách này, sản xuất nông nghiệp nhanh chóng được phục hồi.
Song song với phát triển kinh tế, Vua Quang Trung đã đề ra một loạt cải cách về tiền tệ, thuế khóa, đinh điền.
Ông hủy bỏ toàn bộ loại tiền cũ và thay mới bằng các loại tiền Quang Trung thông bảo, Quang Trung đại bảo.
Về thuế khóa, nhà Vua bãi bỏ việc nộp tiền thay cho việc sưu dịch.
Thuế ruộng đất công, tư, đều được chiều đình xem xét phân hạng theo mức sản xuất hàng năm,
và chia hạng nộp thuế bằng lúa hoặc có thể bằng tiền, tính theo thời giá.
Ngay sau khi thiết lập lại mối quan hệ hòa bình với nhà Thanh,
nhà Thanh cũng cử Phúc An Khang làm Tổng đốc lưỡng Quảng thay cho Tôn Sĩ Nghị.
Các chính sách hữu hảo mới đã mở cửa ải giao thương giữa hai nước,
các tuyến phố biên giới bắt đầu được thiết lập nhiều hơn để buôn bán.
Trong thời gian trị vi của Hoàng đế Quang Trung, quân đội luôn được trú trọng xây dựng.
Nhà Vua xây dựng quân đội Tây Sơn rất quy củ, kỷ luật nghiêm minh.
Đó chính là tiền đề để xây dựng đội quân chính quy hùng mạnh.
Lực lượng thủy quân cũng được ưu tiên phát triển,
các thuyền chiến lớn gắn rất nhiều đại bác sẵn sàng cho các nhiệm vụ trên biển dài ngày.
Đây cũng là thể hiện quyết tâm thống nhất đất nước,
khi mà phương Nam thì Nguyễn Ánh đã trở lại đất gia định.
Năm 1792, với quyết tâm thống nhất đất nước,
Vua Quang Trung đã quyết định mở cuộc tấn công quy mô lớn
để diệt chư các thế lực Nguyễn Ánh ở phía Nam.
Để thực hiện kế hoạch, trước tiên, Vua Quang Trung cử Võ Văn Dũng làm tránh xứ,
đi sang Nhà Thành, xin cầu hôn công chủa và xin lại hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây
nhằm ý định dò xét nội tỉnh Nhà Thành.
Mặt khác, ông truyền hịch tới hai vùng Quảng Ngãi và Quy Nhơn,
chuẩn bị tấn công gia định.
Trong chiến dịch Nam Tiến lần này, nhà vua đã định một kế sách toàn diện
thể hiện tầm nhìn quân sự siêu Việt và trí lớn thống nhất Giang Sơn.
Số lượng quân đội dự kiến huy động rất lớn, khoảng 20-30 vạn quân gồm thủy bộ phối hợp.
Các đạo quân chia làm ba hướng, đồng loạt sẽ tiến về phía Nam.
Đạo quân thứ nhất do Hoàng Huynh Nguyễn Nhạc, gồm nhiều chiến thuyền lớn và bộ binh Tinh Nhuệ,
xuất phát từ vùng Quy Nhơn, tiến theo vùng Ven Biển, đánh thẳng vào Phú Yên,
sau đó thẳng tiến về Gia Định.
Đạo quân thứ hai xuất phát từ Phú Sơn, được giao cho các tướng lĩnh Tây Sơn
theo đường Thượng Đạo, băng qua các vùng lãnh thổ của Vạn Tượng, tiến vào vùng Nam Vang.
Sau đó, tấn công trực tiếp vào Gia Định, cùng kết hợp với đạo quân thứ nhất,
tạo thành thế gọng kìm vây chặt Nguyễn Ánh từ hai hướng.
Đạo quân thứ ba là thủy quân Viễn Trình, được giao cho các tướng lĩnh Lão Luyện Thủy Chiến,
tập hợp chiến thuyền có hòa lực mạnh, sẽ vượt biển lớn để tiến vào vùng Hà Tiên,
nơi vốn là vùng cường ngõ giao thương phía Nam.
Mục đích cắt đứt liên lạc của các thế lực ngoại bang có thể hỗ trợ Gia Định,
đồng thời đạo quân này sẽ đón lõng đường rút lui hoàn toàn ra biển của Nguyễn Ánh.
Từ Phú Sơn đến Quy Nhơn, cờ Tây Sơn phân phật bay trong gió,
tiếng chống trận vang dội núi sông, khơi dậy hào khí của nguồn dân Đại Việt.
Chiến dịch ấy không chỉ là một cuộc hành binh, mà còn là minh chứng cho ý chí sắt đá
và tài thao lược của vị Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ.
Người mang khát vọng dựng nên một nước Việt hùng cường, thống nhất và bền vững muôn đời.
Tuy nhiên, khi mọi sự chuẩn bị đang được hoàn tất, thì một biến cố đã xảy ra.
Giữa lúc Giang Sơn đang buổi hưng thịnh, non sông đang thu về một mối,
thì định mệnh nhiệt ngã đã dáng xuống chiều Tây Sơn.
Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý, tức ngày 16 tháng 9 năm 1792,
Hoàng đế Quang Trung, người anh hùng áo vải đã làm dạng rỡ muôn đời sử Việt
đột ngột băng hà ở Phú Xuân, hưởng dương 40 tuổi.
Tình giữ chuyển đi, cả nước lặng im như bị gió bão quét qua.
Trời đất dường như u ám, sông núi cúi đầu, muôn dân nức nở khóc than.
Vị Hoàng đế từng khiến quân Thanh kinh hồn bạt phía khi đối đầu trực tiếp,
từng khiến quân Siem La thảm bại tan tác khi đánh Mai Phục,
từng một tay dựng lại cơ đồ chấm dứt hàng trăm năm nội chiến trịnh Nguyễn,
này ra đi khi trí chưa chọn, mộng lớn chưa thành.
Dân chúng thương người anh hùng một đời vì nước, vì dân,
mà chưa kịp hưởng chọn một ngày thái bình do chính tay mình tạo dựng.
Cả Đại Việt chìm trong tang tóc, tiếng chống thành vọng ngân
như tiếng lòng dân Đại Việt đang nghẹn lại.
Người đời sau nhắc đến tên người, vẫn thấy trong đó niềm tự hào,
xen lẫn nỗi tiếc thương khôn nguôi.
Bởi sự ra đi đột ngột của Hoàng đế Quang Trung,
không chỉ là sự ra đi của một bậc đế vương,
mà còn là khúc bi ca cho một thời đại anh hùng dở dang.
Vì sao rực sáng nhất trên bầu trời Đại Việt đã vụt tắt giữa đêm trường lịch sử.
