Vợ Chồng có phải DUYÊN TRỜI ĐỊNH - Bạn có tin không? - Cứu người không cần báo đáp - trời cảm động

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Bạn có bao giờ tự hỏi, liệu nhân duyên có thật sự do trời định sẵn?
Một lời bói toán, một lần gặp gỡ dưới gốc cây liễu,
đã vẽ nên mối tình chờ đợi suốt ba năm trời của một cô thôn nữ trung tình.
Câu chuyện dưới đây sẽ khiến bạn tin rằng,
nếu là duyên số, đi một vòng lớn rồi cũng trở về bên nhau.
Vào thời đường, niên hiệu Trường Khánh, khi triều đình còn yên ổn,
đất trời chan hòa ánh nắng, bên cạnh đại lộ dẫn vào kinh thành
có một thôn nhỏ ẩn mình dưới bóng núi xanh.
Cách đường lớn hơn Mười Trượng,
nơi đầu làng có một gia đình họ liêu sống an nhiên giữa đồng ruộng thanh thang.
Nhà họ liêu có một ái nữ duy nhất, tuổi trừng 16-17,
vóc dáng yếu điệu, rung nhan thanh tú khác hẳn thôn nữ thường ngày.
Dù chỉ là con nhà nông, sóng khí chất của nàng lại không mang dáng vẻ quê mùa thường thấy.
Gương mặt nàng thoáng nhìn tưởng như con gái nhà quan,
dáng đi nhẹ như mây lướt, ánh mắt trong veo như nước hồ thù,
khiến người trong làng không khỏi trầm trồ mỗi lần nàng xuất hiện.
Theo tục lệ bản địa, nữ tử chưa trồng trong làng đều được gọi là thôn cô,
thêm họ vào phía trước để dễ phân biệt.
Nàng vì thế được người trong thôn thân thuộc gọi là liêu thôn cô.
Cha mẹ liêu ra từ lâu đã có ý định tìm nơi xứng đáng để gạ nàng làm dấu.
Họ không mong được danh ra vọng tộc, chỉ hy vọng tìm được người nhân hậu.
Hiền lành có thể che chở con gái mình cả đời.
Thế nhưng duyên lành mãi chẳng tới.
Những mối được mai mối đều chẳng hợp ý,
hoặc gia cảnh khó khăn, hoặc nhân phẩm có điều khiến người phải dè chừng.
Vậy nên, chuyện trăm năm của nàng cứ lần lữa chỉ hoãn mãi đến giờ.
Hôm ấy là ngày chợ phiên, liêu thôn cô theo cha mẹ ra chợ sớm.
Đường làng đông đúc, người qua kẻ lại nhộn nhịp như mắc cửi.
Khi đi ngang một góc chợ, nàng bắt gặp một đám đông tụ lại
quanh một thầy bói dâu dài áo xám.
Bên bàn có đặt bát quẻ, mai rùa, lưu hương.
Người người súng lại, bàn tán rôm giả.
Trong lòng cô gái trật trỗi dậy sự tò mò,
muốn biết thử nhân duyên của mình sẽ ra sao.
Nàng rút ra mấy đồng tiền, len vào giữa đám đông,
khẽ nói với thầy bói, xin ông xem giúp cho một quẻ duyên phận.
Người bên cạnh bật cười, có kẻ buông lời trêu gẹo,
còn trẻ thế kia đã sợ ế chồng rồi sao.
Lời vừa dứt, một chàng cười bật lên.
Mặt liêu thôn cô đỏ như gắc chín, cúi gầm xuống không dám nhìn ai.
Thầy bói đưa tay nhận lấy ngày sinh tháng đẻ nàng ghi trên giấy,
khẽ gật đầu, miệng niệm chú, tay reo ba đồng tiền vào bát đồng.
Một lúc sau, ông ngần đầu nhìn nàng, đôi mắt ánh lên tiếng nghiêm nghỉ.
Duyên phận của cô đã định, phu quân của cô hiện đang ở rất gần,
hắn đang nằm dưới gốc liễu lớn trước cửa nhà.
Cô gái nghe đến đây, trong lòng không khỏi rộn ràng như trống hổi.
Một niềm vui âm ỉ trào lên trong ngực,
khiến nàng không kìm được mà khẽ mìm cười, đôi mắt lấp lánh.
Nhưng chưa để cô vui lâu, thầy bói trợt nghiêm rộng, gần từng tiếng.
Xong, hiện tại người ấy đang gặp nguy.
Nếu không mau về, e rằng sẽ muộn. Còn đứng đây làm gì nữa?
Lời ấy như xét đánh ngang tai, liêu thôn cô giật mình như tỉnh khỏi mộng.
Chân chưa kịp nghĩ, đã lao vội về nhà.
Vái áo tung bay trong gió, lòng dâng lên nỗi hoang mang chẳng rõ hư thực.
Quả nhiên, dưới góc cây liễu già ngay trước cổng nhà,
có một người nằm ngừa giữa đất, ráng vẻ tiêu tủy.
Nàng vừa chạy về tới nơi thì trông thấy.
Người ấy là một nam tử tuổi chừng hai mươi, đầu tóc dối bời,
y phục bụi bẩm, tay ôm chặt lấy bụng, miệng rên rỉ từng hồi,
mồ hôi chảy rầm rề như vừa trải qua một trận đau dữ dội.
Liêu thôn cô tiến lại gần, cúi thấp người dò hỏi.
Người ấy mấp mái môi nhưng không nói nổi thành tiếng.
Hơi thở yếu ớt, sắc mặt trắng bệch.
Sai, đôi mắt vẫn còn hé mở nhưng lộ rõ vẻ nhọc nhằn.
Nàng nhìn kỹ, thấy diện mạo chàng thư sinh này đoan chính tuấn tú.
Mày mắt như họa, mũi thẳng môi hồng,
tuy gầy yếu nhưng vẫn toát ra khí chất của người từng đọc sách thánh hiền.
Lời của thầy bói bên trợ phiên như còn văng vẳng bên tai.
Phù quân cô đang nằm dưới góc liễu lớn trước cửa nhà.
Tim nàng chật đập mạnh, một niềm tin kỳ lạ trỗi dậy trong lòng.
Không cần suy nghĩ thêm, nàng chắc chắn người này chính là người mà số mệnh đã an bại.
Không dám trần trừ, nàng quay người chạy vào trong nhà, gọi lớn.
Hai người anh nghe thấy liền chạy ra.
Sau khi nhìn thấy chàng thư sinh đang mê man, không cần hỏi nhiều,
liền sắn tay áo khiêng vào nhà, đặt nằm trên giường phía đông ra ngoài.
Người anh cả tức tốc nhờ ngựa sang làng bên mời thầy thuốc.
Trong khi ấy, nàng vội vàng lấy khăn tay mềm nhúng nước,
lao từng giọt mồ hôi lạnh trên trán người lạ mặt.
Tay nàng run run, nhưng ánh mắt vẫn dịu dàng, chân thành.
Một lát sau, vị lang y đã tới.
Sau khi bắt mạnh, ông đặt tay lên trán, rồi nhìn nàng mà bảo.
Người này nhiễm phong hàn, lại để lâu ngày không điều trị,
nên khí huyết đình trễ, dương khí suy kiệt.
May mắn chưa vào nội tảng, chỉ cần sớm dùng thuốc và tẩm bổ,
chừng 10 ngày sẽ bình phục.
Ông để lại 3 thang thuốc rồi dạo bước rời đi.
Nàng chẳng ngần ngại, liên nhóm bếp, sắc thuốc trên bếp nhỏ,
lửa lưu diêu suốt cả buổi chiều.
Khi sắc xong, nàng dùng bát sứ múc từng mũng, đưa tận miệng chàng uống.
Dù người bệnh chưa thể mở miệng rõ ràng,
nhưng cũng nhấp từng ngụm, sắc mặt dần có sắc.
Xong nàng ngồi bên, trông nom suốt canh hai,
ánh mắt chưa từng rời khỏi gương mặt đang say ngủ ấy.
Đến lúc cha mẹ về tới nhà, nàng chỉ kể rằng trên đường về,
thấy một thư sinh bệnh nặng gục ngay gốc liễu, nên đưa về chữa trị.
Còn chuyện thầy bói đoán duyên phận, nàng cất giấu trong lòng,
không hé một lời, sợ rằng sẽ bị người lớn cho là mê tín, lại sinh phiền.
Cành ba đêm ấy, chàng thư sinh tỉnh lại.
Vừa hé mắt đã thấy nàng đang cặm cụi bên bếp than nhỏ.
Cháo kê đã nấu sẵn, nàng bưng tới, dùng mũng đốt từng thịa.
Chàng yếu ớt nuốt xuống, khóe mắt hoe đỏ, môi mấp máy cảm tạ nhưng không nên lời.
Ăn xong, nàng lại đưa thuốc. Chàng uống xong thì mệt lạ, tiếp đi.
Sáng hôm sau, tinh thần chàng đã khắc hẳn. Ánh mắt có thần,
giọng nói tuy còn yếu nhưng rõ ràng, sắc mặt đã có chút huyết sắc.
Khi được nàng ngọ lời giữ lại để tiện chăm sóc, chàng không từ chối.
Cũng chẳng hỏi vì sao được cứu, chỉ cúi đầu cảm kích,
ánh nhìn có phần kính trọng lẫn biết ơn.
Từ đó, trong căn nhà họ liêu, có thêm một người.
Trong thời gian Khoa Vạn Liễu ở lại nhà họ liêu tĩnh dưỡng,
ngày qua ngày, hai người trẻ tuổi tựa như dòng nước xuôi dòng,
càng lúc càng trở nên thân thiết.
Trong lúc chàng ngồi đọc sách ngoài hiên, náng mang nước trà đến,
dịu dàng hỏi hàn về gia cảnh.
Khoa Vạn Liễu đặt quyển sách xuống, chậm giãi kể lại thân thế.
Chàng vốn người đất Lĩnh Nam, gia cảnh thanh bạch,
cha mẹ tuy không giàu có nhưng gia phong lễ nghĩa,
dạy con từ nhỏ đọc sách thánh hiền, mong một ngày công danh đỗ đạt.
Nay tuổi vừa tròn hai mươi, lên kinh ứng thí với hy vọng đổi vận cho cả nhà.
Nhưng đường xá xa xôi, hành trình dài ngày, sợ phí tổn,
nên đêm xuống thường tìm chỗ hoang vắng tá túc.
Hôm ấy ngủ nhờ trong đống giơm ẩm, không ngờ phong hàn nhập thể.
Sáng ra bụng đau dữ rồi, đi được đến đầu làng thì kiệt sức,
chỉ còn biết nằm gục dưới góc liễu.
Liều thôn cô nghe tới đây, trong lòng như có ngọn gió lạ thổi qua.
Cảm thương thay cho chàng thư sinh nho nhã, lại cảm mến vì ý chí vượt khó.
Tình cảm âm thầm tích tụ bấy lâu trong lòng như hạt mầm gặp mưa, khẽ này mầm.
Vài ngày sau, khi khoa vạn liễu đã hoàn toàn bình phục,
chàng thu xếp hành lý, chuẩn bị lên đường.
Trước lúc chia tay, liều thôn cô như người treo đò đến khúc cuối,
biết nếu không nói thì sẽ trôi xa mãi mãi.
Nàng cắn răng lấy hết dũng khí, đứng trước mặt chàng,
mắt đỏ hoe mà ngập ngừng thổ lộ nỗi lỏng.
Tiếp, từ ngày gặp Huynh trong tim đã chẳng còn ai khác.
Huynh, có thể ở lại bên Tiếp được chẳng?
Khoa vạn liễu nghe xong, sắc mặt biến đổi, đôi mắt thoáng buồn.
Chàng không nói gì, chỉ cúi đầu im lặng rất lâu.
Nàng nôn nóng hỏi tiếp, lòng bàn tay siết chặt.
Huynh im lặng, chẳng lẽ, chẳng lẽ Huynh không thích Tiếp?
Một lúc sau, chàng mới cất giọng khẽ như gió thoảng.
Ta, trong lòng thực sự rất cảm kích và quý mến nàng.
Nhưng, ta đã có hôn ước từ thủa nhỏ.
Mẫu thân ta vì bệnh mà lập lời giao ước với một nhà họ phùm.
Chờ ta thi xong sẽ thành thân.
Dù đỗ hay không, cũng không thể nuốt lời.
Lời nói như lưỡi dao lặng lẽ xuyên tim.
Liêu thôn cô đứng lặng người như tượng đá.
Hai mắt mở lớn, môi run run, rồi nước mắt lã trã rơi xuống.
Từng giọt như thiêu đốt ngực áo.
Nàng chẳng nói thêm lời nào.
Chỉ quay người chạy vào phòng, đóng cửa lại.
Tiếng nước nở văng vọng qua bức tường gỗ lạnh léo.
Khoa vạn liễu đứng đó hồi lâu, ánh mắt nặng chiểu.
Cuối cùng chỉ thở dài một tiếng.
Cúi đầu, cầm tay nải lặng lẽ rời đi, không ngoảnh lại.
Thời gian thấm thoát như nước trôi qua kẽ tay.
Vài tháng sau, liêu thôn cô vẫn canh cánh trong lòng.
Không sao người ngoài.
Nàng đội nón ra chợ phiên tìm lại thầy bói năm xưa.
Vừa gặp, nàng vội bước đến, ánh mắt chứa đầy chất vấn,
như muốn biết rõ lẽ trời.
Thầy bói không kinh ngạc, chỉ bình thản lấy lại bát tử,
tay lần chuỗi hạt, miệng niệm chú, rồi gieo quẻ ba lần.
Sau đó, ông nhìn nàng, gật đầu chậm rãi.
Quả thật, nam tử kia là phu quân trong mệnh số của cô.
Quẻ trùng không sai.
Nhưng vì sao sự tình lại nghịch lý như vậy?
Thì ta cũng không biết.
Thiên cơ huyền diệu, âm dương biến hóa vô thường,
không phải người phàm có thể đoán hết.
Nàng nghe xong, không nói lời nào, chỉ nhẹ gật đầu,
ánh mắt kiên định như mặt hồ không gợn sóng.
Từ đó, nàng khép lòng mình lại, giữ chọn một chữ, chở.
Hết có người mai mối, nàng đều lắc đầu từ chối.
Ba năm liền, xuân đến xuân đi,
lời hứa nào không hẹn mà như khắc vào tim.
Người trong làng nói nàng ngốc, cha mẹ than thở phiền lòng.
Nhưng nàng chỉ mỉm cười, nhìn xa xăm về hướng kinh thành,
nơi có người từng nằm dưới gốc liễu năm xưa.
Cho đến một ngày trời quang mây tảnh,
trong lúc gia đình đang tất vật lo bữa cơm chiều,
bỗng có tiếng vó ngựa dừng trước cổng.
Hai người đàn ông vẫn y phục tùy tùng, chỉnh tề,
bước xuống với vẻ mặt nghiêm trang.
Một người lấy trong tay áo ra một phong thư có đóng dấu đỏ.
Kính cẩn, trao tận tay phụ thân cô gái.
Cả nhà ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì,
chỉ thấy trên thư đề rõ tên người gửi.
Khoa Vạn Liễu
Thì ra, sau bao năm đèn sách vùi đầu,
Khoa Vạn Liễu cuối cùng cũng đã thi đỗ tiến sĩ.
Được triều đình bổ nhiệm làm huyện lệnh một châu lớn.
Vinh quy bái tổ song,
chàng được ban hôn với con gái một gia đình vọng tộc,
rồi mang vợ về nhiệm sở để cùng chung sống.
Nhưng trớ triêu thay, vợ chàng vốn quen khí hậu mát mẻ quê nhà,
lại không thể thích nghi với thổ nhưỡng phương Nam ẩm thấp.
Chỉ trong vòng một năm,
bệnh tình dai rẳng không thiên giảm, nàng mệnh yếu,
chút hơi thở cuối cùng khi tuổi đời còn xuân sắc.
Đêm nọ, Khoa Vạn Liễu ngồi bên ngọn đèn dầu,
tay cầm nhành hoa cúc khô mà năm xưa nàng Liêu từng tặng trong một ngày thu lặng lẽ.
Nhớ lại ánh mắt ấy, giọng nói ấy,
nỗi lòng xưa cũ lại trào dâng như sóng.
Chàng không khỏi khắc khoại tự hỏi,
không biết nàng này đã yên bề ra thất hay vẫn còn ở nơi xóm nhỏ ấy?
Nghĩ rồi, chàng cầm bút viết thư, lời lẽ trân trọng.
Nếu nàng vẫn chưa lập gia đình,
xin nàng cho ta một cơ hội,
để danh chính ngôn thuận cưới nàng về làm vợ,
cùng nhau sống đến đầu bạc răng long.
Thư đến tay cô gái,
hai người tùy tùng đọc to từng chữ trước mặt cả nhà.
Cô lặng im không nói,
rồi bất ngờ ôm mặt nức nở,
như chút bỏ mọi nỗi tuổi hờn năm xưa.
Khóc một hồi lâu,
bỗng dưng cô ngẳng mặt cười tươi như hoa,
nụ cười dạng dỡ chưa từng thấy kể từ ngày biết yêu.
Hôm sau, cô ăn vận đoan trang,
áo lụa hồng phấn,
tóc cải trâm bạc, ánh mắt,
chan chứa niềm tin.
Hai người tùy tùng thuê xe ngựa đến tận nơi,
đón cô lên đường về phủ huyện nơi trang làm quan.
Ngày thành thân,
trời xanh ngắt không gợn mây,
pháo nổ vang trời,
người người xúm lại chúc phúc cho cặp đôi xứng lứa vừa đôi.
Không lâu sau,
cô chính thức bước vào cửa nhà quan,
trở thành hiền thê của khoa vạn liễu.
Trang là người làm quan thanh liềm,
tận tụy với dân,
hết lòng vì công việc,
không vì chức vị mà cao ngạo,
không vì tài năng mà kiêu cẳng.
Còn nàng,
dù xuất thân nơi thôn giá,
nhưng phẩm hạnh đoan chính,
trí tuệ nhu mỉ,
sự sự nhã nhận,
được lòng mẹ chồng,
cảm mến gia nhân,
kính trọng hàng xóm.
Thời gian trôi qua,
quan trường thăng tiến,
khoa vạn liễu càng thêm tiếng thơm
được triều đình tin tưởng giao phó trọng trách lớn hơn.
Gia đình ngày một hưng thỉnh,
vợ chồng sống tràn hòa,
nương tựa lẫn nhau như cặp chim uyên ương giữa biển đời.
Họ sinh được 5 người con,
trai, hiền gái thảo.
Người nào người nấy,
đều có tài có đức,
khiến ai nghe qua cũng tấm tắc ngợi khen.
Từ một mối tình âm thầm trong gian khổ,
trải qua bao dâu bể cuộc đời,
cuối cùng cũng kết thành một gia đình đầm ấm viên mãn,
như đóa xen nở muộn,
nhưng thanh khiết lạ thường,
giữa trốn bùn nhơ trần thế.
Nghe xong câu chuyện này,
lòng người khó tránh khỏi rung động.
Một mối nhân duyên tưởng chừng do trời xe sợi,
lòng người đã quyết,
vậy mà vẫn hóa thành giang rở.
Phải chăng,
chỉ có duyên mà không đủ nợ?
Hay bởi chữ nguyện chưa đủ sâu,
nên chẳng thể giữ người ở lại?
Phật giải
Vạn pháp do duyên sinh,
vạn sự bởi duyên diệt.
Duyên đến,
ta hoan hỉ đón nhận.
Duyên đi,
ta buông xả không ràng buộc.
Nhưng trong cõi nhân sinh,
không phải ai cũng đủ lòng buông.
Cũng như Liêu Thôn Cô,
biết là vô vọng,
nhưng vẫn một lòng chờ đợi,
không phải vì si mê,
mà vì chân tình không dễ đổi thay.
Có khi,
gặp đúng người,
nhưng sai thời điểm,
thì tất cả nỗ lực
cũng chỉ là hữu hạn.
Nhưng chính trong sự đợi chờ đó,
ta tu tâm dưỡng tánh,
ghen lòng nhẫn nải,
gieo hạt nhân lành
cho những kiếp lai sinh.
Trong Kinh Pháp cũ,
Đức Phật có giải
Giữa muôn ngàn người,
gặp được nhau là hữu duyên.
Sống với nhau trọn kiếp,
là phước duyên.
Mà giữ được nhau,
là tâm duyên.
Duyên là do trời định,
nhưng giữ được duyên hay không
là do tâm người.
Có người yêu thương ta chân thành,
nhưng nếu ta không trân trọng,
ta sẽ mất trong biển đời mênh mông.
Có người đến bên ta
như món quà của định mệnh.
Nếu không đủ trí để giữ,
cũng sẽ biến thành
nỗi tiếc nuối suốt một đời.
Bạn có tin vào điều đó không?
Nếu đã tin,
thì xin đừng phụ lòng
người thương mình chân thành.
Nếu chưa tin,
hãy một lần ngồi lại
thật sâu trong im lặng,
lắng nghe trái tim mình.
Bạn sẽ biết,
có những người,
một khi bỏ lỡ,
sẽ là kiếp kiếp
không gặp lại nữa.
Vào thời Nam Tống,
vùng đất Ngo Châu
nổi tiếng với
núi rừng hoang dã,
có một người tiểu phu
tên là Lâm Lương.
Nhà ông nghèo
rớt mỏng tơi,
quanh năm ăn cơm độn sắn,
áo vá chồng áo vá,
nhưng người trong thôn
ai cũng kính nể
vì cái tính ngay thẳng,
thật thà
và giàu lòng trượng nghĩa.
Lâm Lương sống bằng
ngày đốn củi,
ngày ngày lên rừng
từ tinh mơ,
gánh củi về bán
ở chợ,
khi mặt trời
còn chưa khuất núi.
Hôm ấy,
trời vừa hừng nắng,
sau cơn mưa dai rẳng
suốt ba ngày liền.
Lâm Lương gánh
hai bó củi nặng chĩu,
vài áo ướt sủ mồ hôi
lẫn xương sớm,
lầm lũi bước qua
cầu Thanh Thạch
để vào thành.
Khi đến giữa cầu,
ông chợt nghe
tiếng thở rốc khó khè.
Quay đầu nhìn lại,
thì thấy một cụ ông
gục bên lề,
mặt mài trắng bệch
như giấy,
thân thể run dày,
co quắp như chiếc lá
cuối mùa sắp lìa cảnh.
Không kịp suy nghĩ,
Lâm Lương đặt
gánh củi sang một bên,
Vào đến nơi,
ông đặt cụ
nằm xuống thềm đá,
lấy tay áo
lau mặt cụ,
rồi lục túi
tìm thức ăn.
Toàn thân chỉ còn đúng
hai chiếc bánh gạo
từ sáng sớm
chưa kịp ăn,
Lâm Lương thoáng
ngập ngừng,
nhưng cuối cùng
vẫn bẻ vụn
từng miếng nhỏ,
đút cho cụ
từng chút một.
Cụ ông nuốt chậm rãi,
hồi lâu mới mở mắt ra,
ánh nhìn
đục mờ lộ
vẻ xúc động.
Cụ khan giọng hỏi,
chàng trai trẻ,
ánh mắt hiền hòa,
đáp gọn.
Cứu người là chuyện
không thể chậm trễ.
Con còn khỏe,
chịu đói được,
nhưng người già
một hơi thở
cũng đáng quý.
Cụ ông chăm chú
nhìn ông hồi lâu,
rồi bất ngờ
rút từ trong áo
ra nửa mảnh
ngọc bội cụ kỹ,
đưa cho Lâm Lương
giọng nghiêm nghỉ.
Ta vốn là
ẩn sĩ ẩn tu
trên núi Trung Nam.
Hôm nay hữu duyên gặp con,
thấy tướng mạo đoan chính,
tâm địa thiện lương.
Nhưng mệnh con
có ba kiếp nạn sinh tử,
không dễ vượt qua.
Hãy giữ lấy
nửa mảnh ngọc này,
khi hoạn nạn đến
sẽ tự có người
đưa con mảnh còn lại,
giúp con tai qua nạn khỏi.
Lâm Lương vội vàng từ chối,
nói mình là kẻ quê
mùa nghèo hèn,
đâu dám nhận vật quý.
Nhưng cụ ông
nghiêm sắc mặt,
bắt ông phải cầm lấy.
Trước khi rời đi,
cụ đưa tay
nắm lấy bàn tay Lâm Lương,
dùng ngón tay
run run
viết vào lòng tay 7 chữ.
Tích đức 3 năm,
Viết xong,
cụ như tan vào làn gió sớm,
thoát cái đã không còn bóng dáng.
Từ ấy về sau,
Lâm Lương vẫn sống như cũ,
chặt củi,
giúp người,
không mong bao đáp.
Ba tháng sau,
trời nổi cơn mưa lớn,
mây đen vần vũ
kéo dài mấy ngày không dứt.
Nước từ trên núi
ào ạt tràn xuống
như thác vỡ,
nhấn chìm cả vùng ven sườn.
Ngôi nhà tranh siêu vẹo,
mà Lâm Lương
dựng bằng tay trần
cũng không thoát khỏi tai hỏa.
Một đêm nọ,
tiếng nước gào rú
trong bóng tối như thú dữ.
Chỉ trong khoảnh khắc,
căn nhà nhỏ
cùng chăn chiếu,
nồi niu,
hòm gỗ,
tất cả bị cuốn trôi sạch.
Lâm Lương chỉ kịp ôm
theo chiếc tay nải,
lấy bước trong mưa bão,
phát thân thể run dậy,
chân dẫm bùn đất lạnh như băng,
hướng về nhà
người anh họ
mong được nương nhở.
Nào ngờ,
anh họ thấy
ông áo quần ướt sũng,
dáng vẻ khổ sở,
liền nhíu mẩy,
chẳng thèm hỏi hàn.
Bữa cơm chưa kịp mời,
lời đã buông lạnh lùng.
Chuyện nhà chú,
tôi không quản được.
Ở đây trật,
người thì đông,
chú về đi thôi.
Lâm Lương lặng thinh,
không cãi một lời,
lặng lẽ quay đi,
lòng đau như dao cắt.
Bước chân vô định
dẫn ông tới miếu thành hoàng,
cũ kỹ nơi đầu chợ.
Ông rũ người dưới mái hiên,
lấy áo che gió,
kê tay làm gối,
nằm co ro
suốt đêm mưa gió lạnh,
Trời vừa tờ mờ sáng,
tiếng chiêng trống vang dội,
dền vang như xấm động.
Lâm Lương giật mình tròn dậy,
ngơ ngác nhìn dòng người
kéo nhau xếp hàng hai bên đường.
Từ xa,
kiệu rồng rực rỡ tiến đến,
cờ lỏng phất phới.
Là tân tri châu ngô châu,
trương đại nhân đi tuần tra dân tỉnh.
Trong lúc hỗn loạn,
nhà sai quát tháo,
không để ý mà sô mạnh,
khiến Lâm Lương ngá lan xuống bậc thềm.
Áo rách bươm,
tay nải bung ra,
mảnh ngọc bội giấu kĩ
trong ngực rơi lộ
một góc lấp lánh dưới nắng mai.
Trương đại nhân tình cờ vén dèm kiệu nhìn ra,
vừa trông thấy ánh ngọc bội liền biến sắc,
lập tức ra hiệu rừng kiệu bước xuống.
Ông chỉ tay,
hòn ngọc kia,
từ đâu mà có?
Lâm Lương vội vàng nhặt ngọc,
cuối đầu kể lại chuyện năm xưa
bên cầu Thanh Thạch,
từng cứu một cụ già lạ mặt,
được tặng nửa mạnh ngọc này
làm kỳ vật.
Trương đại nhân nghe đến đó,
đôi mắt đỏ hoe,
xúc động khôn cùng,
tiến tới nắm lấy tay Lâm Lương.
Hai mươi năm trước,
ta bị kẻ gian truy đuổi,
trọng thương gần chết bên đường,
chính của ông ấy xuất hiện,
cứu ta,
rồi tặng một nửa ngọc bội.
Không ngờ,
hôm nay gặp được người giữ nửa còn lại.
Ông lập tức mời Lâm Lương về phủ,
đích thân sắp xếp nơi ăn chốn ở,
hậu đái như thượng khách.
Biết Lâm Lương từ nhỏ đã quen sông nước,
lại thật thà,
chăm chỉ,
trương đại nhân liên giao trọng trách,
quản lý công trình thủy lợi,
mong ông giúp dân vượt qua nạn hạn
kéo dài ba năm qua.
Lâm Lương không phụ lòng tri ngộ,
ông cùng dân phu lội bùn vác đá,
đo đạc dòng chảy.
Đắp đập,
đào mương không quản nắng mưa.
Một buổi trưa oi bức,
đang dọn bùn nơi hạ lưu,
ông bỗng phát hiện dưới lớp đất ẩm
có khắc dấu văn tự cổ.
Sau khi cùng dân công đào bới,
hiện ra một tấm bia đá phủ đầy rêu phong,
mặt bia lờ mờ khắc hàng chữ.
Mở cánh cửa quạt,
nước tự chảy.
Câu văn tưởng mơ hồ,
nhưng Lâm Lương suy ngẫm hồi lâu rồi,
quyết định cho người đào rộng quanh khu vực đó.
Quả nhiên,
dưới lòng đất,
lộ ra một hang ngầm,
thông với hồ nước lớn bị vùi lấp.
Cửa quạt mở,
dòng nước mát lành tuôn trào,
khắp cánh đồng hạn hán
hóa thành ruộng lúa xanh dị.
Dân chủ Ngô Châu gieo mừng như gặp kỳ tích,
người người kéo đến cạm tạ.
Trương Đại Nhân lập tức tấu trình triều đình.
Vài tháng sau,
thánh chỉ ban xuống,
phong cho Lâm Lương chức,
hợp thủ ti thất phẩm,
vinh danh công khai thông dòng nước,
cứu dân khỏi đại nạn.
Đêm trước ngày nhậm chức,
trong giấc mộng mơ màng,
Lâm Lương thấy cụ ông năm xưa
trống gậy tiến tới,
tóc bạc phơ,
nét mặt từ hòa.
Năm ấy,
người bẻ bánh cho người bị rắn cắn.
Nay trời chẳng phụ lòng,
thiện niệm là bảo vật quý nhất nhân gian,
giữ lấy mà truyền cho con cháu.
Suốt nhiệm kỳ,
Lâm Lương không màng danh lợi.
Ông cùng dân xây hơn 30 dặm canh mương,
dựng 12 cây cầu lớn nhỏ,
đưa nước về từng thôn xóm.
Khi tuổi già sức yếu,
ông dân sớ tử quan,
bán hết tài sản,
dựng trường làng nơi chân núi,
dạy trẻ con học chữ,
học lễ nghĩa.
Trước lúc nhắm mắt xuôi tay,
ông truyền lại nửa mảnh ngọc cho con trai trưởng,
dặn rõ,
gia sản không bằng nhân đức,
giữ được một tấc lòng thiện,
mới để phúc cho trăm đời về sau.
Cổ nhân dạy rằng,
Người làm điều thiện,
dù phúc chưa tới,
họ đã rời xa.
Người làm điều ác,
dù họ chưa tới,
phúc đã không còn.
Đây không chỉ là một lời dân,
mà còn là minh chứng chống cho quy luật nhân quả,
mà nhà Phật đã chỉ rõ từ ngàn xưa.
Mỗi hành động,
mỗi suy nghĩ của con người,
đều như một hạt giống gieo xuống ruộng tâm.
Hạt thiện sẽ nảy mầm trong ánh sáng,
hạt ác sẽ mọc lên trong bóng tối.
Dù chưa thấy kết quả tức thở,
nhưng quả báo không sai một ly,
chỉ là đến sớm hay muộn mà thôi.
Trong câu chuyện của Lâm Lương,
người tiều phu nghèo khổ nhưng có tâm bồ tác,
sẵn sàng chia sẻ miếng ăn cuối cùng
để cứu mạng một người xa lạ.
Cứ chỉ nhỏ bé đó,
chính là tu hành giữa đời thường,
là hành trì bắt nhá giữa chợ đời đầy bon chen.
Ông không chờ đợi quả báo,
nhưng thiện nhân đã âm thầm nở rộ,
đưa ông từ mái hiên miếu thành hoàng
lên đến vị trí giúp dân cứu hạn,
mang lại an lành cho môn người.
Nhà Phật dạy rằng,
tâm sinh vạn pháp,
nếu trong tâm có thiện, cuộc đời sẽ thuận,
nếu trong tâm có tử bi,
tai ương tự lui.
Bởi chính tâm niệm mới dẫn đường cho nghiệp báo,
không có Phật hay trời nào thưởng phạt ta
ngoài quy luật chính mình đã tạo ra.
Phúc không phải là thứ ban phát từ bên ngoài,
mà là hoa trái do chính ta vun trồng mỗi ngày.
Một lời tốt lành,
một hành động nghĩa khí,
một sự giúp đỡ không toan tính,
tất cả đều là những viên ngọc trong vô hình,
mà khi đủ duyên sẽ hóa thành cầu phúc đổ ta vượt qua khổ ái.
Vàng bạc có thể mất,
nhưng thiện tâm sẽ luôn hồi sinh.
Lấy lâm lương làm gương,
ta học được rằng,
dù thân nghèo cũng không nghèo lòng thiện,
dù không cầu danh lợi,
cũng có thể gieo nên nghiệp lành cho cả một vùng đất.
Xin nguyện mỗi người giữa biển người mênh mông
đều có thể giữ cho mình một tất lòng sáng như ngọc.
Tâm an thì đời an,
thiện hạnh thì phúc đến,
tránh niệm thì quả lành theo sau.
