Du lịch thông minh: Cụm di tích Đình - Đền - Chùa Cầu Muối điểm đến tâm linh nổi tiếng xứ Chè

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#phubinh #diemthuy #chuacaumuoi #tanthanh
#sudiaphuongthainguyen #lehoi #lehoiboichai
#GDDP8 #gddp8 #vanhoadantoc
#Giaoducdiaphuong #songcau
#phongtuctapquan #dulichthainguyen
Phú Bình (Thái Nguyên) mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, sớm có các phong trào đấu tranh yêu nước, được Đảng-Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang”. Cụm di tích Đình-Đền-Chùa Cầu Muối là một trong 70 di tích lịch sử văn hóa của toàn huyện được xếp hạng. Tại đây có 2 ngôi Đền nổi tiếng linh thiêng “Cầu gì được đấy – ước thỏa lòng thành” có tên Đền Công Đồng và Đền Thượng, nằm tại xóm Cầu Muối xã Tân Thành (Phú Bình).
Đình, Đền, Chùa Cầu Muối nằm ở trung tâm làng Cầu Muối, thuộc xã Tân Thành, Phú Bình.
Đây là cụm di tích gồm Đình Cầu Muối, Chùa Cầu Muối và Đền Cầu Muối,
hay còn được gọi là Đình Muối, Chùa Muối và Đền Muối.
Đây là nơi thở cúng Thiên Liêng, là địa điểm tham quan nổi tiếng của Việt Phú Bình.
Cụm di tích này cách thủ đô Hà Nội chừng 70 km về phía Đông Bắc,
cách thành phố Thái Nguyên khoảng 40 km về phía Đông Nam và cách trung tâm huyện Phú Bình 11 km về phía Đông.
Theo sử sách ghi lại, làng Cầu Muối có từ thế kỷ XVIII, thời hậu Lê,
đời vua Lê Dụ Tông, năm 1705-1729.
Trong nội dung văn bia khắc trên cây hương đá Tứ Diện, Linh Sơn Tự tại Chùa Cầu Muối cho biết,
vào năm 1719, tức năm kỳ hợi, nền hiệu Vĩnh Thịnh, Đình, Đền,
Chùa Cầu Muối được xây dựng ở trung tâm làng Cầu Muối,
xã Tân Thành, huyện Tìn Nông, phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên, gồm 1 đình, 2 đền và 1 chùa.
Cụm di tích nằm ở Thế Tọa Sơn, trên 3 quả đồi rộng khoảng hơn 3 ha,
với cảnh mây núi bao phủ, gió mát quanh năm tạo nên môi trường tĩnh mịch, thanh bạch, cổ kính và uy nhiêm.
Truyền thuyết kể rằng, sự kia vào thời hậu Lê,
có 2 mẹ con bà bán muối ở Tiên Du, Bắc Ninh, đi cung cấp muối để nuôi quân và nuôi dân trong vùng.
Khi ngang qua khu vực này thì thấy không khí trong lành, núi non hùng vĩ và nhiều cây xanh tốt,
bèn dừng chân tại đây để nghỉ ngơi. Người con thấy khát nước nên đòi người mẹ đi lấy nước.
Người mẹ xuống khe suối ngay dưới chân núi lấy nước rồi mang lên cho con,
nhưng lúc quay lại thì không thấy người con đâu. Lo lắng, người mẹ và dân làng đi tìm xung quanh.
3-4 ngày sau mới tìm thấy xác người con bị hổ vổ chết.
Nhưng kỳ lạ, hổ đói lại không ăn thịt.
Và cũng kỳ lạ hơn, không biết từ đâu muối đã đùn đất, chê kín người con chỉ để hở 2 bàn chân.
Dân làng thấy lạ, bèn làm lễ cúng, đắp mộ và trôn khách người con.
Mỗi ngày, mỗi tháng qua đi, phần mộ đó được muối đùn đất lên ngày một to hơn và thành một gò đất cao.
Lúc đó, dân làng được mẫu báo mộng cho biết đó là vùng đất thiêng.
Bèn lập đền thờ công đồng Cầu Muối, thờ mẫu liệu hạnh ngay trên gò đất đó và trông coi cẩn thận từ đó đến bây giờ.
Cũng từ ngày đó, biết đây là vùng đất thiêng, dân làng dựng thêm lên một ngôi đình, một ngôi chùa và một ngôi đền,
đều đặt tên là Cầu Muối, chính là dựa theo truyền thuyết kể trên.
Hiện nay, đền công đồng Cầu Muối nằm trên một quả đồi hình bán nguyện, cao chừng 50 mét,
là nơi thờ mẫu liệu hạnh, quan trần triều và bà chú muối, nơi được tương truyền là rất lĩnh ứng và thiên liêng.
Bên trong hậu khung của đền công đồng, ngay dưới tượng và bàn thờ ngũ hổ thần quan là mộ của bà chú muối,
có trong truyền thuyết, được nhân dân truyền miệng tới ngày nay.
Đình và chùa Cầu Muối cùng nằm trên một quả đồi thoai thoai rộng khoảng hơn 1 ha,
có thế tựa sơn, xung quanh có đổi cây từ tốt, khuân viên rộng rãi và thoáng đẳng.
Đình Cầu Muối thờ thành hoàng làng là Cao Sơn Quý Minh Đại Vương,
tức Đức Thánh Đuổm Dương Tự Minh, thủ lĩnh Phủ Phú Lương, một vị tướng tài dưới thời nhà Lý.
Ông là một sanh nhân lịch sử, người có công lớn, giúp vua chỉ huy đánh đuổi giặc tống,
bảo vệ vững chắc vùng biên cương phía bắc của đất nước Đại Việt.
Ông còn có công lớn trong việc khai khẩn điện địa, phát triển kinh tế
và đã đưa Phủ Phú Lương, trong đó có vùng đất Thái Nguyên trở nên chủ phú,
đem lại bình yên cho nhân dân vùng biên viễn phía bắc.
Sau khi mất, dân tự mình được triều đình nhà Lý phòng là
Quy Viễn Đôn Tĩnh Cao Sơn Quảng Độ Tri Thần.
Các triều đại về sau đều có sắc phòng ông là Cao Sơn Quý Minh Thượng Đảng Thần.
Dọc theo dải sông cầu tới Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang,
nhân dân lập đền, miếu, đình để thơ cúng, tôn ông là thành hoàng làng
và được xem như là vị thần hộ mệnh cho nhân dân.
Chùa Cầu Mũi quay về hướng Nam là nơi thở Phật,
hướng Nam đón gió mát, tránh gió tây nóng,
vừa là hướng thuận với chất lý âm dương ngũ hành,
vừa có ý nghĩa là các đức Phật và Bồ Tát
ngồi quay hướng Nam để phổ độ và cứu vất chúng sinh.
Đền Thượng tọa lạc trên một quả đồi cao chừng 100 mét,
trông xa như hình một con voi phủ phục.
Đền Thượng thờ mẫu Thượng Ngàn,
một vị thánh mẫu trong Tứ Bất Tử của Đạo Tứ Phủ.
Đình, Đền, Chùa Cầu Mũi
không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa của nhân dân từ xưa đến nay,
mà còn là di tích lịch sử,
nơi ghi dấu những sự kiện lịch sử hào hung của dân tộc ta
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược như
Năm 1948, Đình, Đền, Chùa Cầu Mũi là nơi dạy chữ quốc ngữ,
xóa nạn mùi chữ cho nhân dân địa phương.
Năm 1950, một số đơn vị của Đại đoàn 308 trong kháng chiến chống Pháp
chọn nơi đây để làm việc và hội họp.
Năm 1951, Đình, Đền, Chùa Cầu Mũi còn là nơi cắt giấu lương thực của huyện Phú Bình.
Năm 1970, một số đơn vị chỉ huy của Sư đoàn 304 đã đóng quân tại đây.
Với ý nghĩa văn hóa tâm linh và chứa được những giá trị lịch sử đó,
Đình, Đền, Chùa Cầu Mũi đã được UBND tỉnh Thái Nguyên
xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp tỉnh vào năm 2005.
Trước khi vào thăm quan Đình, Đền, Chùa Cầu Mũi,
du khách sẽ gửi xe tại bãi gửi trong xe ở phía trước cụm di tích.
Vì theo tiếng ngưỡng, hành trình thăm quan của du khách có thể khác nhau.
Thông thường, du khách sẽ đến Đình Cầu Mũi thắp hương đầu tiên,
nơi thờ thanh hoàng làng, đức thánh đùm dưng tự minh.
Một lưu hương đá được đặt trước cửa Đình để du khách thắp hương,
xin phép trước khi vào Đình lễ thánh.
Hai bên cửa Đình có ban thở hai võ sĩ cành cửa.
Bên phải Đình, nhìn từ ngoài vào có miếu thờ Sơn Thần là nơi thờ Thần Núi.
Bên trái có miếu thờ Thổ Kỳ là nơi thờ Thổ Địa.
Theo dân gian, Sơn Thần, Thổ Địa là Thần Núi, Thần Đất,
vị thần cai quản vùng đất, đổi núi nơi đó, sẽ phù hộ cho nhân dân.
Du khách thắp hương có được công việc làm ăn may mắn,
thuận buồn xui gió, mọi việc thành công tốt đẹp.
Đình Cầu Mũi có kiến trúc hình chữ Đinh, gồm tiền đình và hậu cung,
mái uốn vòm, lập ngói mũi cổ.
Tiền đình có diện tích khoảng 70m2, có ban thờ sứ giả ở giữa.
Hai bên là ban thờ voi thần và ngựa thần, là linh vật của Đức Thánh Đuổng.
Theo quan niệm của nhân dân, đây là nơi thờ những người bảo vệ cho Đức Thánh.
Tiền đình còn là nơi để họp bàn các công việc quan trọng,
là trung tâm sinh hoạt văn hóa chính trị của làng.
Hậu cung gồm hai gian dài 6m, rộng 4,5m, có bộ khung bằng gỗ lim.
Tường xây ba phía theo kiểu tường hồi biết đóc,
nơi thờ thành hoàng làng Đức Thánh Đuổng Sơn Tự Minh nằm ở san thứ hai trong hậu cung,
lùi về phía sau và nâng cao lên trên một cái gác lửng trăn trọc mà không đóng kín cách biệt.
Phía trước là ban thờ công đồng, thờ quan văn, quan võ, người giúp việc cho Đức Thánh Đuổng.
Trước cửa hậu cung có hai câu đối được ghi,
Trưởng phù Việt địa Trung Hưng Thánh, sanh chấn Nam Bang thượng Đảng Thần.
Có nghĩa Trung Hưng Thánh công phủ đất Việt.
Thần thượng Đảng tiếng khóc trời nam.
Hiện nay, trước đình có cây châm chai cổ thụ đã hơn 300 năm tuổi, cành lá xum xuê toảng bóng mát.
Trong hậu cung của đình cầu mối đang lưu giữ hương án,
ngài thờ và một số hiện vật gốc khác có giá trị nghệ thuật và niên đại cổ xưa.
Tiếp theo, du khách tới tháp hương, lễ phật tại chùa cầu mối hay linh sân tự.
Nằm trên cùng quả đồi và kề phía sau, bên trái đình cầu mối,
cách một khoảng sân rộng rợp bóng cây xanh.
Trước đây, linh sân tự có chiều dài 7 mét, chiều rộng 5 mét, diện tích 35 mét vuông.
Khung trự lực được làm bằng ngỗ liêm đen, kết cấu vì kèo theo lối, trồng, quá giang, kẻ truyền,
mái lập ngói đáp cầu.
Nhưng do thời gian và qua hai cuộc kháng chiến, chùa bị hư hại và súng cấp.
Nên vào năm 2015, chùa cầu mối được xây mới với tổng diện tích 520 mét vuông
lập bằng ngói mũi hải mài uốn phòm với những chót đào còng vút cổ kính, uy nghi và bề thế.
Bộ khung trự lực và kết cấu bộ vì kèo được làm bằng bê tông.
Gác trống và gác chuông nằm ở hai bên bậc thang lên chùa.
Nằm ở trong, chính giữa chùa, ban tàm bảo hay còn gọi là đại hùng bảo điện
được bài trí tượng thờ theo chức lý của Đạo Phật.
Các lớp tượng được bố trí từ thấp lên cao gợi không khí thanh bình, an lạc, thanh thoát,
linh nghiêm và tứ bi hì xả.
Hàng dưới cùng là tòa cửu Long có tượng thích ca sơ sinh.
Hàng thứ hai có tượng Ngọc Hoàng.
Hàng thứ ba có tượng Phật Bà Quan Thế Âm, Phật Đạt Thế Chí Bồ Tát.
Phật Tổ ở giữa.
Hàng tượng trên cùng cao nhất là bộ tượng Tam Thế Phật
gồm ba phó tượng Phật tượng trưng cho Tam Thế Tăng Thiên Phật
tức là ba ngã đức Phật trong ba đời là hiện tại, quá khứ và vĩ lai.
Theo tục lệ từ xa xưa của người phương Đông nói chung
và của người dân Việt Nam nói riêng
thì chúng ta đi lễ chùa sẽ tới ban tàm bảo để cầu tài lọng, bình an cho bản thân, gia đình,
những người làm ăn xa hay kinh doanh muôn bán hoặc đang công tác
sẽ tới đây để mong muốn mọi việc được thuận lợi, xuân sẻ và hoàn hỉ.
Ở phía trước hai bên tàm bảo có tượng và ban thờ hai vị hộ pháp.
Nhìn từ ngoài vào, ngoài cùng bên phải là nơi đặt ban thờ Đức Ông
bên trái là nơi đặt ban thờ Đức Thánh Hiền.
Theo tài liệu ghi lại, Đức Ông là một doanh nhân giàu có và có tấm lòng quảng đại
luôn rộng vòng tay giúp đỡ người nghèo khó và một lòng hướng thiện.
Với tấm đức trong sáng, tấm lòng nhân hậu
nên Đức Ông luôn được thờ tại các ngôi chùa.
Ông được phong là long thần hộ pháp, đồng thời lúc sinh thời
Ông hay làm việc thiện, giúp đỡ trẻ em, nên được coi là vị thần bảo vệ trẻ em.
Cho nên ngày nay, với những đứa bé khó nuôi, ốn đau hay cuối khóc
thì thường được cha mẹ làm lễ bán vào cửa Đức Ông, nhận làm đệ tử của Ngài
để mong con cháu mình khỏe mạnh và thông minh.
Khi hết hạn bán khoán, sau 13 tuổi, gia đình làm lễ lên chùa để chuộc lại.
Đức Thánh Hiện là đệ tử đệ nhất Đa Văn của Đức Phật.
Ngài đã tái sinh nhiều lần để cứu vứt chúng sinh.
Các hoành phi câu đối trong Chùa Cầu Mũi đều được sơn son, thép vàng,
chạm khắt tinh xảo và truyền tải những nội dung nhiều ý nghĩa giáo dục của Đạo Phật.
Hiện nay, Chùa Cầu Mũi còn lưu giữ 23 phò tượng cổ
và cây hương đá tứ diện Linh Sơn Tự, được lập vào năm Hòn Triều Vĩnh Thịnh 14 năm 1719
ghi lại lịch sử của cụ di tích đình, đền Chùa Cầu Mũi.
Nằm bên phải, kề phía sau đình Cầu Mũi, nhà thờ tổ được xây 2 tầng,
mái uốn vòm, lợp ngói mũi cổ, với diện tích mũi sàn khoảng 80m2.
Khánh thành vào năm 2016.
Tầng 1 được dùng làm nhà kho và nơi làm việc của Ban Quản lý cụ di tích này.
Tầng 2 là nơi thờ Phật tổ.
Các hoành phi câu đối trong nhà thờ tổ đều được sơn son, thép vàng, chạm khắt tinh xảo.
Đây là điểm dừng chân không thể bỏ khoa của mỗi Phật tử
hoặc du khách khi tham quan và thắp hương bài Phật.
Sau khi thắp hương, lễ thánh, lễ Phật tại đình, Chùa Cầu Mũi,
du khách đàn bộ khoảng 150m là tới đền Công Đồng, nằm trên quả đồi cao khoảng 50m,
với nhiều cây xanh và 3 tán cây sao sao cổ thu,
chừng 200 năm tuổi, tỏa bóng tạo không khí trong lành và thoáng mát cho ngôi đền.
Đền Công Đồng, theo truyền thuyết, nằm trên mộ Bà Châu Mũi,
nơi được coi là vùng đất thiêng, không được xâm phạm,
được nhân dân gìn giữ và bảo vệ từ xưa tới nay.
Bước qua các bậc thăng đá để dẫn lên, du khách sẽ đến khoảng sân rộng và thoáng mát trước đền.
Nơi đây có một án hương thở mẫu bán thiên,
hay còn có tên khác như mẫu cửu trùng thiên, hay lục cung vương mẫu, hoặc thiên thanh công chúa.
Tường truyền, mẫu cửu trùng không ráng trần, nên không có sự tích về mẫu.
Mẫu cửu trùng là vị thánh mẫu ngự trên 9 tầng mây,
2 quản tiên cung, lục cung 6 viện và các thiên thanh trên trời.
Bởi vậy, bàn thở mẫu cửu trùng thiên luôn được đặt ở ngoài trời.
Theo quan điểm về tâm linh và chết học,
việc thở mẫu bán thiên chính là mong muốn sự kết nối giữa trời và đất,
giữa cõi âm và cõi dương, để ước mong mơ thuận gió hòa,
cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến với cuộc sống con người.
Nhìn từ ngoài vào, nằm ở phía trước 2 bên đền công đồng
có am thở quan sơn thần ở bên trái và am thở mẫu mẹ ở bên phải.
Am quan sơn thần là nơi thở thần núi ở vùng này,
am thở mẫu mẹ là nơi thở mẫu thân của bà Chô Mũi.
Từ sân đền, du khách bước tiếp bậc thang là tới đền công đồng.
Hai bên cửa đền có tượng và bàn thở 2 võ sĩ bảo vệ đền,
với kiến trúc hình chữ Đinh, đền công đồng của 3 gian tiền tế và 1 gian hậu cung.
Các hương án, bàn thở, hoành phi, câu đối tại tiền tế và hậu cung
đều được sơn son thiếp vàng và chạm khắc hình dòng chầu nguyệt rất tinh xảo và đầy uy linh.
Tòa tiền tế Ba Gian có chiều dài 9m, rộng 4m với diện tích 36m2.
Tại đây, nhìn từ ngoài vào, ở chính giữa có bàn thở công đồng hay còn gọi là cung công đồng.
Bên trái có bàn thở bà Chúa Sơn Trang và bàn thở cô bé Bản Đền.
Bên phải có bàn thở quan Trần Triệu, hưng đại vương Trần Quốc Tuấn,
là vị tướng tại Ba, có công lớn nhất trong 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông.
Tiếp đến là bàn thở cô bé Bản Đền.
Cung công đồng là nơi thở ngũ vị tôn ông hay còn gọi là ngũ vị quan lớn,
gồm quan đệ nhất áo đỏ, quan đệ nhĩ áo xanh,
quan đệ tam áo trắng, quan đệ tứ áo vàng, quan đệ ngũ áo xanh ra trời đâm.
Tương truyền các ngài đều là con trai của Ngọc Hoàng Thượng Đế,
cai quản bốn phủ gồm thiên phủ, địa phủ, thoải phủ, nhạc phủ.
Thông thường, du khách đặt lễ vật, thắp hương và hành lễ tại bàn công đồng trước khi vào hậu cung làm lễ.
Tòa hậu cung dài 5 mét, rộng 4 mét, với diện tích 20 mét vô là nơi thở Mẫu Liễu Hạnh.
Theo truyền thuyết, Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh tứ bất tử.
Bà là công chố Quỳnh Hoa, con gái thứ hai của Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Với 3 lần giáng trần độ thế, bà đã được các triều đại phong kiến
từ thời hậu Lê đến thời nhà Nguyễn cấp nhiều sắc.
Tôn phong là Mẫu Nghi Thiên Hạ, mẹ của môn dân.
Bà chính là vị thánh mẫu đứng đầu hệ thống tam phủ, tứ phủ thần đạo mẫu.
Nhiều làng xã và các đô thi ở Việt Nam đều có đền thở Mẫu Liễu Hạnh.
Cùng mẫu đặc trính giữa hậu cung, trên hương án thở Mẫu Liễu Hạnh
có một phò tượng với thần thái đẹp, hiên từ, phúc hậu và tử bi.
Đó chính là quan điện nhất, người hậu của mẫu.
Ở phía sau và cao hơn một chút là 3 tòa thánh mẫu
gồm tượng Mẫu Thoải Cung, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Liễu Hạnh.
Hạ bàn là nơi thờ quan Ngũ Hổ và Bà Chua Mũi.
Nơi đây chính là mẫu của Bà Chua Mũi hay gọi là Đức Thánh Bà.
Phía sau ban thở mẫu, ở trên cao nhất có ban thở Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát.
Trên hương án thở có phò tượng của Phật Bà với nét mặt tử bi, hiền hậu.
Khi nhìn ngắm sẽ đem lại cho chúng ta cảm giác dễ chịu, an lành và bình an.
Đền thở công đồng được nhân dân trong vùng và du khách thập phương tin rằng
đây là nơi rất linh ứng và thiên liêng để nguyện cầu các việc như làm ăn, công tác, đi lại, bình an, buôn bán.
Sau khi thăm quan đền công đồng, du khách sẽ đi tiếp khoảng 300 mét về phía tây bắc
để đến đền thượng là nơi thở Mẫu Thượng Ngàn.
Theo truyền thuyết ghi lại, Mẫu Thượng Ngàn là một trong ba vị tàm tòa thánh mẫu,
con gái đầu tiên của Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Mẫu Thượng Ngàn là vị chúa cai quản trốn rừng xanh, đồi núi.
Mẫu giúp cho nhân dân mùa màng bộ cu, đời sống ấm no, dạy dân cách dùng lửa và nấu ăn
nên người dân hết lòng tôn kính, thờ phục Mẫu cho tới ngày nay.
Trong dân gian có câu trên khẩu,
Thượng cầu mũi, hạ lục đầu.
Đâu đâu cũng đều lập đền thờ thánh Mẫu Thượng Ngàn, nằm trên quả đồi cao hơn 100 mét,
được phủ xanh bởi cây keo và một số cây gỗ quý, trông xa như hình voi phủ phục.
Đền Thượng cầu mũi có kiến trúc hình chữ Đinh, hồn tiền bái và hậu cung.
Mái đền uốn phòm được lập ngói mũi hải, từng hồi biết đốc.
Trước cửa đền có cây hương đá thờ mẫu bán thiên.
Hai bên cửa đền có tượng hai võ sĩ bảo vệ.
Tiền bái Ba Gian có chiều dài 7 mét, rộng 4 mét, diện tích 28 mét vuông.
Tại đây có ban thờ cung công đồng ở chính giữa.
Từ ngoài nhìn vào, bên trái có ban thờ tứ phủ Châu Bà và tứ phủ Thánh Cô.
Bên phải có ban thờ tứ phủ Ông Hoàng và tứ phủ Thánh Cậu.
Hậu cung có chiều dài 5 mét, rộng 3 mét, diện tích 15 mét vuông, là nơi thờ mẫu Thượng Ngàn.
Cùng mẫu đặt chính giữa hậu cung, trên hương án thờ có 3 tỏa thành mẫu,
gồm tượng mẫu Thoải Cung, mẫu Thượng Ngàn, mẫu Thượng Thiên.
Hạ ban là nơi thờ quan mũ hổ.
Theo dân gian, mẫu Thượng Ngàn rất linh thiêng,
phù hộ, độ trì các việc như lọc làm, lọc ăn, cầu tài, cầu con, cầu bùa, mua xe, đi lại thượng lộ bình an.
Các hương án, ban thờ, hoành phi, câu đối tại tiền tế và hậu cung của đền thượng đều được sơn son thiết vàng
và chẳng khác hình dòng chầu nguyệt sức tinh xảo và đẩy huy linh.
Với khuân viên rộng rãi, thoáng đẳng, không khí trong lành,
hòa với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ, núi rừng bao quanh trùng điệp
cho thấy khung di tích đình, đền, chùa cầu múi có những nét đẹp độc đáo và sự uy nghiêm của vùng địa linh hội tụ lập mạnh.
Lễ hội đình, đền, chùa cầu múi gồm lễ khai xuân bắt đầu từ ngày 4 tháng riêng âm lịch
và kéo dài đến hết tháng riêng và lễ tất niên vào ngày 10 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Lễ hội khai xuân là dịp để nhân dân tưởng nhớ tới công lao của các anh hùng
đã có công đánh đuổi rạc ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc, cũng như cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hòa,
mùa mảng tốt tươi, đời sống nhân dân được ấm no và hạnh phúc.
Ở những ngày này, người dân trong vùng tưng bừng khai hội tổ chức nhiều tiết mục văn nghệ,
múa hát, múa lân đem lại không khí đầu xuân năm mới tưng bừng, phấn khởi.
Cùng với các nghị lễ như sân hương, thịt chuông đã thu hút hàng triệu du khách thập phương về tham quan.
Câu nói trong dân gian, đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi đã gắn liền với cụ dị tích này
để nói về phong tục tập quản của người Việt.
Bởi trong tâm thức của mình, từ xưa đến nay, muối luôn là thành phần không thể thiếu
và rất quan trọng trong mỗi gia đình, tương trình cho sự mặn mà và nó ấm.
Nền tục mua muối đầu năm mà khí nghĩa nhân văn được lưu truyền như là ước nguyện của người dân
cầu mong năm mới được đủ đầy và may mắn.
Ngày nay, nhiều gia đình, du khách thập phương khi tới tham quan đỉnh, đền, chùa cầu muối
đều mua những túi muối, túi gạo được đóng nhỏ như là một phần lễ vật không thể thiếu
khi làm lễ dâng lên Phật, thánh nơi đây.
Những túi gạo, muối sau khi làm lễ xong sẽ được mang về
và đặt trang trọng trên bàn thờ mỗi gia đình như là một lễ vật
với ý nghĩa cầu mong mọi thành viên trong gia đình sẽ ngo ấm, đầy đủ, phấn khởi, may mắn
đậm đà trong các quan hệ làm ăn như vị đậm đà của muối.
Trước đây, cụm di tích chỉ mở cửa, đón nhân dân địa phương vào ngày lễ, hội, mùng 1 và ngày rằm theo lịch trăng hàng tháng
nhưng những năm gần đây, với hệ thống giao thông thuận lợi, theo nguyện vọng của người dân trong vùng
và du khách thập phương, đình, đền, chùa cầu muối mở cửa vào tất cả các ngày trong tuần.
Khi tới đây, du khách có thể chuẩn bị sáng lễ vật trước
hoặc có thể đến đây mua lễ vật được bày bán đầy đủ
tùy theo tín ngưỡng, lễ vật của du khách có thể là lễ chay, lễ mặn hoặc lễ đồ sống.
Lễ chay gồm vật phẩm như hoa tươi, quả chín, trầu cao, bánh, quản, kẹo, xôi, chè, một vài túi gạo và túi muối
Chỉ được dân lễ chay lên chùa và có thể đặt ở ban đàm bảo, ban đức ông hoặc ban đức thánh hiền.
Nếu chỉ có một lễ, thì du khách nên đặt lễ vật ở ban đàm bảo
Thứ tự hành lễ ở chùa như sau, đặt lễ vật nếu có, thắp hương và làm lễ tại ban thờ đức ông trước
Sau khi đặt lễ ở ban đức ông, đức chúa xong, đặt lễ lên hương án của chính điện
Ban đàm bảo, thắp đèn nhang nếu được phép, thỉnh ba hồ chuông, rồi làm lễ chư phật, bổ tác
Sau khi hành lễ ở chính điện xong, thì đi thắp hương, hành lễ ở các ban khác như ban đức thánh hiền, ban hộ pháp
Cuối cùng, du khách dân hương hành lễ ở nhà thờ tổ
Lễ chay hay lễ mặt đều có thể dân ở đình, đền cầu múi
Lễ mặn gồm các vật phẩm như xôi, gà, dự thịt, giò, chả, trầu cao, hoa tươi, quả chính, bánh kẹo, tiền vàng, một vài túi gạo và túi muối
Lễ mặn hay lễ chay đều có thể dân các ban ở đình và đền cầu múi
Riêng lễ đồ sống gồm trứng, gạo, muối hoặc thịt, một miếng thịt lợn khoảng vài lạng và có thêm tiền vàng chỉ dành riêng cho dân cúng ở ban thờ quan nữ hồ
Trình tự hành lễ ở đình, đền cầu múi như sau
Đặt lễ vật nếu có, thắp hương và hành lễ tại lưu hương trước cửa đền, đình
Sau đó có thể đặt lễ vật và thắp hương hay hành lễ tại ban sứ giả
Tiếp theo, đặt lễ vật ở ban Tông Đồng hoặc ở trong hộng tung
Nếu có một lễ thì du khách thường đặt ở ban Tông Đồng
Sau khi đặt lễ vật xong thì hành lễ tại ban Tông Đồng và hộng tung
Cuối cùng, du khách đi thắp hương, hành lễ ở các ban còn lại trong đình, đền cầu múi như
Ban thờ Tứ Phủ Châu Bà và Tứ Phủ Thánh Cô
Ban thờ Tứ Phủ Ông Hoàng và Tứ Phủ Thánh Cậu
Ban Trần Triều
Ban thờ Sơn Thần
Ban thờ Bộ Mẹ
Ban thờ Võ Sĩ
Ngoài ra, tùy theo tiếng ngưỡng của mình, du khách có thể làm lễ theo đoàn
Để sân những lễ vật được thầy hướng dẫn
Để sân lên thánh, mẫu, phật, ở đình, đền, chùa cầu múi
Với mong muốn, phù tri về công việc thăng tiến, học hành đỗ đạt
Cầu về bản mệnh an lành, cầu tự và lọc làm ăn
Sức khỏe dồi dào, phúc thọ kháng ninh, tài lộc, bình an, gặp nhiều may mắn
Với du khách riêng lẻ thì lễ vật có thể đơn giản và tùy tâm
Hoặc có thể đặt lễ đen tiền dương
Tại các ban, hoặc để bầu hồng công đức, hay phiếu ghi công đức
Hiện nay, đa phần các đình, đền, chùa đã thắp hương vòng
Nên chúng ta có thể bỏ qua nghi lễ thắp hương
Sau khi thắp hương và đặt lễ xong
Thì thực hiện lễ khấn với các bài khấn có thể tham khảo trên ứng dụng du lịch thông minh thái nguyên
Ngày ngay, với khuân viên rộng rãi, yên bình
Quyện với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ, không khí trong lành
Cùng những công trình có kiến trúc điều khắc cân linh, có giá trị văn hóa và lịch sử đặc sắc
Cùng di tích đình, đền, chùa cầu mũi
Trở thành một địa điểm sáng về du lịch
Là điểm thăm quan nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Và cả nước nói chung
Hàng năm, đình, đền, chùa cầu mũi
Thu hút hàng triệu lượt khách thập hương về thăm quan, chiêm bái
Cũng như tìm hiểu về truyền thuyết bà chùa mũi
Cùng thân thế, sự nghiệp của vị anh hùng dân tộc
Đến với cụm di tích đình, đền, chùa cầu mũi
Dù khách không chỉ được hòa mình vào cảnh quan của làng quê bình dị, êm ả
Mà còn được lĩnh hội nhiều nội dung ý nghĩa giáo dục nguyên văn
Đem lại trong lòng mỗi dù khách
Những dấu ấn đậm sâu, tâm hồn thanh thản, thanh tịch, an nhiên và nhẹn lòng
So nữ phiền lo của cuộc sống
Để hướng tới một ngày mai tươi sáng hơn
