Hán Minh Đế Lưu Trang - Vị Hoàng Đế Tài Giỏi Của Nhà Đông Hán, Sau Hán Quang Vũ Đế

Đình Sự
537 người theo dõi
Hán Minh Đế Liêu Trang, vì hoàng đế thứ hai của nhà Đông Hán, cũng như là hoàng đế thứ 17 của triều đại nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Ông chỉ vì, từ ngày 29 tháng 3 năm 57 đến khi qua đời, tổng cộng 18 năm.
Trong lịch sử nhà Đông Hán, Minh Đế được coi là một hoàng đế tài giỏi, không chỉ giữ được sự hương thị từ cha mình là Hán Quang Vũ Đế mà còn phát huy cùng phát triển thêm nữa.
Khi ông chấp chính, tuy không theo chủ trương dựa vào Nhu để trị nước như cha mình Hán Quang Vũ Đế mà thi hành sự thống trị hạ khắc,
nhưng vẫn có những công lao nhất định.
Ông củng cố chính quyền, thu phục được Khung Nô và Tây Vực, mở đường cho Phật giáo phát triển, mở ra sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Tây Á.
Hành trình lên ngôi hoàng đế
Liêu Trang là hoàng đế thứ hai của triều Đông Hán, được kế vị Ngai Vàng nhờ vào may mắn.
Liêu Tú vốn đã lập Liêu Cương, con của Quách Hoàng Hậu làm thái tử.
Sau này, do sủng ái âm lệ hoa, mẹ của Liêu Trang nên phế bỏ Liêu Cương, lập Trang làm thái tử.
Liêu Tú luôn hành sự theo tiêu chuẩn nho học, coi trọng danh phận, do vậy việc thay đổi danh vị thái tử không phải việc dễ dàng.
Nhưng chính sự thiền cận của Quách Hoàng Hậu đã giúp ông.
Quách Hoàng Hậu vốn là người hẹp hỏi, thấy Liêu Tú sủng ái âm lệ hoa thì ghen ghét, thường xuyên trừ chó mắng mèo, kiếm cớ gây sự.
Liêu Tú dựa vào cớ đó để phế bỏ Quách Hoàng Hậu, lập âm lệ hoa làm hoàng hậu.
Liêu Cương cảm thấy ngôi thái tử của mình khó giữ nên chủ động đề nghị được nhượng vị.
Liêu Tú nhân đó lập Liêu Trang làm thái tử.
Liêu Trang từ nhỏ đã thông minh lanh lợi, rất được Liêu Tú yêu quý.
Sau khi lập Liêu Trang làm thái tử, Liêu Tú lệnh cho Liêu Trang hàng ngày cùng ông Thượng Triều, tiếp kiến quần thần để rèn luyện khả năng chấp chính.
Liêu Trang tuy tuổi nhỏ nhưng thường xuyên có những việc làm vượt qua dữ liệu của mọi người, khiến bá quan văn võ hết lời khen ngợi.
Một lần, khi đang phê duyệt công văn, Liêu Tú nhất thời không hiểu được một câu văn trong đống tấu thư cũ, các vị đại thần cũng không giải thích được.
Vậy mà Liêu Trang khi đó 12 tuổi ngồi sôi liền ngắt lời, nói rằng đây là quan huyện dạy Trần Liêu Ly cách xác minh đất đai.
Liêu Tú hỏi lại tại sao Nam Dương, tỉnh Hà Nam không hỏi được.
Liêu Trang cũng cho biết Hà Nam là Hoàng thành và Nam Dương là thị trấn Hoàng gia.
Diện tích đất và nhà cửa ở hai nơi này chắc chắn đã vượt quá giới hạn nên không thể xác minh kỹ càng.
Sau đó, Liêu Tú yêu cầu tướng Hồ Sơn thẩm vấn Trần Liêu Ly và những lời của Trần Liêu Ly quả thực giống với lời của Liêu Trang.
Kể từ đó, Liêu Tú ngày càng yêu quý cậu con trai 12 tuổi của mình.
Năm Kiến Vũ Trung Nguyên thứ 2, tức năm 57, ngày 29 tháng 3, Hán Quang Vũ Đế Liêu Tú băng hà Thái tử Liêu Trang lên nối ngôi,
tức là Hán Minh Đế, khi đó ông đã 29 tuổi.
Chính sách cai trị, củng cố chính quyền
Thời Hán Quang Vũ Đế sẽ thấy vương mãn xoắn vì tất cả là vì ngoại thích,
nên Quang Vũ Đế luôn dùng hết mức hạn chế ngoại thích nhưng đồng thời lại lợi dụng ngoại thích để phòng bị tôn thất.
Sau khi đại tư mã Ngô Hán mất, Quang Vũ Đế muốn dùng cậu em vợ âm hương thay thế chức đại tư mã mà không thành,
thế nhưng vẫn dùng con rể lương Tùng làm phụ chính cho tân hoàng đế.
Sau khi Liêu Trang kế vị, xây dựng vân đài nhị thập bát tướng mà không đem cha vợ là má viện đưa vào danh sách tranh vẽ,
đối với các đại thần mà nói, điều này chứng tỏ Liêu Trang muốn phát tín hiệu, tiếp tục kiềm chế ngoại thích.
Tiếp theo đó, ông bắt đầu đối phó với các đại thần không ủng hộ mình,
tức là những nhóm cường hào có thế lực.
Liêu Trang tự mình quyết định tập trung quyền lực vào bản thân, nắm toàn bộ quyền bính,
không cho phép bất kỳ cường hào hay ngoại thích có thể lợi dụng chính mình.
Sau khi suy tính, Liêu Trang trong vài tháng sẽ nắm lấy binh quyền về Kinh Đô,
từng bước khống chế những huyện ở xung quanh Kinh Đô, thế lực của ông càng lớn mạnh.
Ông áp dụng ba chiến lược.
Một là quy tụ những láo thần trung thành như Đặng Vũ làm Thái Phó,
Triệu Hí làm Thái Úy, hình thành trung tâm quyền lực.
Hai là ra sức lôi kéo những anh chị em ủng hộ mình.
Làm như vậy thì trong họ hàng thân thích sẽ không còn kẻ thù địch nữa.
Trong đó phải kể đến em trai cùng mẹ với Liêu Trang là Đông Bình Vương Liêu Thương,
được phong chức phiêu kỵ tướng quân quản lý một đài lượng binh quyền.
Ba là Đại giá Thiên Hạ, tiếp tục thi hành chính sách quan thư sức dân của Hán Quang Vũ Đế Liêu Tú.
Đối với quan viên, Liêu Trang cực kỳ nghiêm khắc,
chính bởi vì phụ thân Quang Vũ Đế thi hành biện pháp chính trị mềm dẻo phù hợp với thời gian đầu,
đến khi Liêu Trang lên ngôi đã là không phù hợp.
Hơn nữa các đại lão thần quy phục chính là vì Quang Vũ Đế,
còn bản thân Liêu Trang chưa thực sự được đại bộ phận trong chiều ủng hộ cùng quy thuận.
Ông tiến hành nghiêm khắc khảo sát cùng chốt chắc, mọi việc từ Thượng Thư Đài Quản lý quan viên,
Liêu Trang luôn có giám sát chật chẽ,
lại quy định ra điều mục mỗi năm sẽ khảo sát quan lại địa phương,
cực kỳ nghiêm ngặt không hề lơi lỏng.
Đối với việc tuyển quan lại, Liêu Trang nghiêm khắc dựa vào tài cán mà không lựa chọn xuất thân.
Em gái ông là quán đào công chúa Liêu Hồng Phu từng xin cho một người con trai làm chức câu lan,
cũng bị Liêu Trang cử tuyệt, chỉ thường vàng và tiền mà thôi.
Đối với dân chúng, Liêu Trang quan tâm giúp dân nghèo, người ốm.
Đồng thời, ông Hà Lệnh giảm tổ thuế cho những nơi bị thiên tài mất mùa,
mang một phần ruộng công gia phát cho những người không có ruộng.
Ông quan tâm sửa sang, đáp thêm đê điều, trọng dụng vương cảnh, vương ngô vào việc trị thủy.
Vương cảnh đã chỉ huy đảo con kênh hơn một nghìn dặm từ Vinh Dương đến Hải Khẩu,
có tác dụng đảm bảo tưới tiêu, phân dòng chống lũ lụt, khắc nghiệt với thân tộc.
Sau khi Liêu Trang kế vị, rất nhiều kẻ âm mưu cướp ngồi.
Bởi ông là con trai thứ tư mà được làm hoàng thái tử nên rất nhiều anh em của ông cho là không hợp lễ,
hầu như đều rất bất mãn.
Lúc này, em trai của Liêu Trang là Quảng Lăng Vương Liêu Kinh cũng đối kỵ với ông.
Quảng Lăng Vương Liêu Kinh là em cùng mẹ của Liêu Trang.
Khi còn trẻ cũng là người có tài cán, do không chịu phục bởi anh trai nên luôn dòm ngó hoàng vị.
Bấy giờ, Liêu Kinh sai người bắt trước nét chữ của anh trai Quách Hoàng Hậu là Quác Uống,
viết thư cho Đông Hải Vương Liêu Cương khuyên Cương Giế Binh làm loạn,
nên nói Gương hán cao tổ Giế Binh mà đoạt được thiên hạ.
Đông Hải Vương Liêu Cương là người nhút nhát,
sợ hái chạy đến Thắng Minh với Liêu Trang, giao nộp bức thư.
Sau khi Liêu Trang tra xét biết được là do Liêu Kinh làm thì ông vẫn không trách cứ,
chỉ lưu đẩy Liêu Kinh đến đất phong Quảng Lăng.
Đi đất phong, Liêu Kinh hỏi tướng sĩ ta lớn lên giống tiên đế,
mà tiên đế năm 30 tuổi làm hoàng đế,
nay ta cũng 30 tuổi nên hay không khởi binh giấy nên cơ nghiệp.
Tướng sĩ Hoàng sợ báo lên cho cuộn quốc quan viên,
tấu trình lên Liêu Trang những lời nói này của Liêu Kinh,
thế nhưng Liêu Trang lại không có truy cứu.
Về sau, Liêu Kinh phạn tội trong việc hiến tế,
bị quan viên của cuộn quốc truy cứu nên sợ hái mà tự xác.
Năm Vĩnh Bình thứ 13, tức năm 70,
có người tố cáo sở vương Liêu Anh mưu phản.
Sở vương Liêu Anh là người anh khác mẹ của Liêu Trang.
Đường khi Liêu Trang còn là thái tử thì Liêu Anh đối với ông tương đối không tội,
còn giúp Liêu Trang trong rất nhiều công vụ.
Nhưng từ khi Liêu Trang kế vị,
Liêu Anh luôn tỏ ra bất mãn,
cho khắc kim Quy Ngọc Hạc tích cực chuẩn bị tạo phản.
Có người tố cáo Liêu Anh lên,
nhưng Liêu Trang không đành lỏng nên chỉ liêu đẩy Liêu Anh.
Bị liêu đẩy, Liêu Anh tự xác,
Liêu Trang liền tìm được danh sách kết giao của Liêu Anh đối với các nhân sĩ khác.
Liêu Trang dựa vào quyền sổ này của Liêu Anh,
ghép tội cho tất cả những hoàng thân,
vương hầu, quan lại mà ông muốn báo thù,
tạo thành một vụ án lớn liên quan đến mấy ngàn người.
Sau khi xem xét hồ sơ vụ án,
biết rằng có rất nhiều người bị oan nhưng Liêu Trang vẫn phê chuẩn.
Chỉ một bước mà Liêu Trang đã hoàn thành mục đích của mình.
Sau này, hai người con trai của Quách Hoàng Hậu là Tế Nam Vương Liêu Khang
cùng Trung Sơn Vương Liêu Yên tụ tập khách khứa,
miêu đồ phản nghịch,
nhưng tính chất lại không nghiêm trọng như Liêu Kinh cùng Liêu Anh,
nên chỉ bị cắt đất phong.
Tiếp theo đó, em trai của Âm Thái Hậu là Âm Tự,
có một con trai tên Âm Phong,
đã lấy em gái út của Liêu Trang là Lý ấp công chúa Liêu Thụ,
thế nhưng trong một lần đã ra tay hại chết công chúa,
Liêu Trang tức giận,
mặc kệ cho lúc đó vẫn còn có Âm Thái Hậu,
Liêu Trang sử tử Âm Phong.
Hai vợ chồng Âm Tự cũng theo đó mà tự sát.
Đối với các cường hào ý vào chiến công mà hống hách,
Liêu Trang cũng đặc biệt thẳng tay.
Khi đó, Đậu Dung vốn là hậu ruệ bảy đời của Đậu Quảng Quốc,
em trai của Hiếu Văn Đậu Hoàng Hậu thời Tây Hán.
Vì có công lao thời gian đầu khai quốc,
nhà họ đậu leo lên đến vị trí cực cao,
khó tránh khỏi ra môn tử đệ cậy quyền mà làm bậy.
Từ thời quang vũ đế, Đậu Dung đã có công mà phong làm đến tận đại tư không,
thuộc hàng tam công trong triều,
lại ra thêm tức hiệu An Phong Hậu,
thực ấp bốn huyện lớn.
Nhà họ đậu một muôn có tới ba người,
với công chúa là Đậu Mục, Đậu Huân, Đậu Hố.
Đậu Huân cùng Đậu Hiến,
cậy sủng mà kiêu, ý thế hiếp người.
Năm 59, con trai của người anh trong họ của Đậu Dung là Đậu Lâm bị tội sử tử.
Liêu Trang nhân đó xuống chiếu mắng Đậu Dung,
lại dẫn việc Đậu Anh cùng điền phấn khi trước,
ép Đậu Dung cáo bệnh mà bị tạm giam trong phủ đẻ, tạm treo ấn và dây triện.
Năm 61, Đậu Mục vì muốn lấy đất Lục An,
bèn giả mạo ý chỉ của âm Thái Hậu,
khiến Lục An hầu cưới con gái mình để lấy đất.
Sự việc bị phát hiện, Đậu Mục bị bái miễn,
cả nhà họ đậu trừ Đậu Dung đều bị trục xuất khỏi Lạc Dương mà quay về cố hương Phủ Phong.
Đậu Dung cũng bị Liêu Trang trách cứ,
sợ tới mức phải tử quan, không lâu sau thì chết.
Đậu Mục nhân có đại xá, được quay lại kinh sư,
nhưng Liêu Trang phái người nghiêm khắc giám thị bọn họ.
Cảm thấy chán nản, Đậu Mục có lời oán trách,
tìm cách hối lộ quan lại để mở đường công danh.
Thế là Liêu Trang cho người bắt Đậu Mục cùng hai con trai là Tuyên và Huân vào ngục mà chết ở đấy.
Thời Hán Quang Vũ Đế còn tại vị,
do chính sách bình ổn đóng cửa với bên ngoài đã làm hung nô trỗi dậy,
chia làm Bắc hung nô cùng Nam hung nô.
Trong đó Nam hung nô chủ động yêu cầu nội phụ,
Quang Vũ Đế sắp phong Nam hung nô,
còn thực hiện chính sách hòa thân.
Bắc hung nô nhìn Nam hung được lợi từ nhà Hán,
cũng yêu cầu hòa thân.
Quang Vũ Đế vì thế cùng nhóm công khanh thương lượng,
nhất thời khó có thể quyết định.
Khi ấy Liêu Trang còn là thái tử,
chủ trương không nên hòa hảo với Bắc hung nô,
chỉ ra rằng bởi vì Bắc hung nô thấy Hán
chiều cùng Nam hung nô giao hảo,
sợ bị cô lập, này đáp ứng yêu cầu của họ.
Ngược lại càng khiến Bắc hung nô không còn tâm thế kiêng rẻ.
Hán Quang Vũ Đế thấy thái tử nói có lý,
bèn không đáp ứng yêu cầu của Bắc hung nô.
Từ năm 65 đến năm 72,
Liêu Trang bãi bỏ chính sách hạ khắc
của nhà thân,
đại bộ phận cư dân không còn sự ràng buộc,
mối quan hệ giữa Hán và hung nô lại trở nên tốt đẹp.
Thế nhưng Liêu Trang vẫn còn tâm lý
tiêu chử Bắc hung nô để đạt được kết cục toàn vẹn.
Nên năm 73,
Liêu Trang phái Đậu Cố cùng Cảnh Bình
trinh phạt Bắc hung nô.
Sau khi đến Thiên Sơn,
Đậu Cố và Cảnh Bình đồn trú
tại Lương Châu rồi liên minh với các dân tộc
như Nam hung nô, Âu Hoàng,
tiên ti xuất quân tấn công Bắc hung nô
liên tiếp giành thắng lợi.
Nhân đó, đậu cảnh hai vị tướng quân
còn đánh đến xa sư quốc, khiến quốc vương đầu hàng.
Từ năm khiến Thủy quốc nguyên niên,
tức năm 9 của nhà thân đến nay,
qua 65 năm,
cuối cùng nhà Hán đã khôi phục lại sự liên kết
giữa Trung Nguyên và Tây Vực.
Liêu Trang phái bàn siêu đi sứ Tây Vực,
tuyên truyền chính sách Tây Vực của nhà Hán
để các quốc gia Tây Vực quy thuận nhà Hán.
Bàn siêu dẫn 26 người đến Thiên Thiện quốc,
tiêu diệt tản dư Bắc hung nô,
còn thiết lập lại Tây Vực đô hộ.
Theo sự điều lệnh của bàn siêu,
các quốc gia Tây Vực phải thân phục,
nếu không bàn siêu sẽ dùng đại quân đội
tập kích bất kỳ thành quốc nào không tuân phục.
Thời đại của Liêu Trang đã tiêu diệt Bắc hung nô,
tiến đến từng bước hoàn thành
việc khống chế Tây Vực của nhà Hán.
Tôn giáo
Liêu Trang tôn trọng nho giáo,
ông cho mở trường thái học dạy con em
quý tộc và tự mình giảng sách cho
thái tử Liêu Đát và các thân vương.
Ông cũng thường tiễn lễ khổng tử
và 72 vị tiên hiền đất lỗ.
Bên cạnh đó, Phật giáo bắt đầu du nhập
vào Trung Quốc cũng trong thời kỳ này.
Nói về sự kiện Phật giáo được truyền vào Trung Quốc,
có một ý kiến mà xưa nay các sử gia thường công nhận,
đó là vua Minh Đế nhà Hán nằm mơ,
Phật giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc.
Các bộ quốc sử và lịch sử
Phật giáo Trung Hoa đều cho rằng
khi Liêu Trang nằm mơ,
thấy một người thân bằng vàng dòng,
thân hình tỏa sáng rực rỡ và bay khắp cung điện.
Sáng ra, ông hỏi khắp quần thần,
đấy là vị thần tiên nào?
Có vị quan thông nhân tên Phó Nghị Tâu,
thần nghe bên nước thiên trúc
có một người tu hành đắc đạo,
gọi là Phật.
Vị ấy có thể bay trong hư không?
Toàn thân tỏa ra ánh sáng rực rỡ,
có lẽ ấy là vị thần trong mơ.
Nghe thế, Liêu Trang trật tỉnh ngộ,
rồi sai sái âm, trương khiên
tổng cộng 12 người sang tận Tây Trúc
mang tượng Đức Phật Thích Cà Môn Ni và Kinh sách về.
Ông cho dựng Chùa Bạch Mã
ở Kinh Đô để đặt tượng Kinh và Thở Phật
và mời hai vị khao tăng từ Tây Trúc
đến hành lễ. Chùa Bạch Mã là
ngôi chùa đầu tiên ở Trung Quốc.
Tuy Đạo Phật được tôn sùng, Đạo Nho
vẫn có vai trò lớn trong xã hội qua đời.
Năm Vĩnh Bình thứ 18,
tức năm 75, Liêu Trang băng hà
tại Đông Cung ở Lạc Dương,
hưởng Dương 47 tuổi.
Hán Minh Hoàng Đế, an táng tại Hiền Tiết Lăng
nay nằm ở phía đông nam quận Mạnh Tân,
thành phố Lạc Dương.
Hán Minh Đế có 20 người con,
Thái tử Liêu Đát năm đó 18 tuổi lên ngôi,
tức là Hán Trương Đế.
Trong thời chỉ vị của Liêu Trang,
ông đã tuyển mộ những người tị nản,
giúp đỡ nông dân nghèo, xây dựng các công trình
chữ nước và cai trị thanh minh, lãnh thổ ổn định,
người dân có thể đảm bảo công việc của mình,
hộ khẩu được nhân lên
và những người man ri đã bị thu phục.
Người thời bấy giờ thường hát,
nhà Hán vĩ đạng và thịnh vượng,
nước nào cũng phải kín sợ.
