*Donate ủng hộ đội ngũ Ekip để có thểm kinh phí phát triển kênh: Vietcombank - 1014891977 - Vũ Bá Tiến Ekip Radio Suy Ngẫm trân thành cảm ơn quý thính giả.
*Link Full - Cuộc đời Đức Phật và Phật Pháp: • Full - Cuộc Đời Đức Phật và Phật Pháp
*Link Full - Bí Mật Cổ Xưa Phương Đông • Bí Mật Cổ Xưa Phương Đông - Full
*Linh Full - Kinh Mi Tiên Vấn Đáp: • Kinh Mi Tiên Vấn Đáp- Full
Mời quý vị theo dõi video vô cùng ý nghĩa ngày hôm nay!
*Video có thể chứa nội dung bản quyền dựa trên luật sử dụng hợp lý Fair Use https://www.youtube.com/about/copyright/ *Mọi vấn đề vi phạm chính sách Nguyên tắc cộng đồng, Luật bản quyền xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi. *Gmail: [email protected]
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo, có những câu chuyện giản dị mà sâu thẳm,
nơi mà con rồi biết nói một vị tỷ kheo mất mình vì lời ác
hay một hạt nhân nhỏ của nghiệp gieo mà thành địa ngục.
Đó không chỉ là chuyện để kẻ nghe, mà là tấm gương soi chiếu đời sống con người.
Nói sai một lời, khởi sai một niệm cũng đủ khiến phước tiêu và nghiệp trổ.
Những câu chuyện cổ Phật giáo được truyền qua hàng ngàn năm
là những bài học sống động về nhân quả, trính tuệ và sự tỉnh thức.
Mỗi câu chuyện như một hạt minh châu nhỏ bé,
giúp ta soi lại chính mình trong cõi đời nhiều vọng động này.
Để biết rừng, biết lặng và biết chọn điều thiện trong từng lời nói, từng ý nghĩ, hành động.
Hôm nay, mời bạn cùng lắng nghe những câu chuyện cổ Phật giáo gieo trính tuệ gặp bình an,
cùng đuôi đôi suy ngẫm, giữ gìn ngũ canh lành.
Một lần đó, khi Đức Phật đang ở tỉnh xá Kỳ Viên,
có năm vị tì kheo cùng tụ tập tại đây.
Mỗi người chọn rèn luyện một giác quan của mình.
Người thì giữ tâm không chạy theo mắt.
Người thì tu tập lắng nghe.
Người thì điều phục vị giác, xúc giác, hay tâm ý.
Một hôm, năm thầy ngồi lại bàn chuyện.
Thầy thứ nhất nói,
Trong năm giác quan, tôi thấy mắt là khó kiểm chế nhất.
Thầy khác lại cười,
Không đâu, chính tay mới khó nhất.
Cứ thế ai cũng cho rằng giác quan của mình đang tu là điều khó điều phục nhất.
Cuối cùng họ quyết định đến gặp Đức Phật
để xin Ngài phân định xem ai trong họ đang làm việc khó hơn cả.
Đức Phật miệng cười.
Ngài không trả lời thẳng mà nói,
Này các tì kheo!
Thật ra tất cả các canh đều có canh phòng.
Mắt, tay, mũi, lưỡi, thân và ý.
Canh nào cũng có thể khiến con người sa ngã nếu không tỉnh thức.
Và đây cũng không phải lần đầu các ông thất bại trong việc giữ diện ngũ canh.
Trong một kiếp xưa,
Các ông cũng từng bị mê hoạc vì không nghe lời Bậc Hiển Chí.
Đẻ rồi phải chịu hậu quả đau đớn.
Rồi Ngài lại kể câu chuyện quá khứ.
Chuyện kiếp xưa
Hành trình đến thành Hoa Thị
Họ hín Đức Phật là một vị Bồ Tát,
Giữ trước Đại Thần, dân theo năm vị quan thân tín đến thành Hoa Thị để nhận ngôi vua.
Vương chiều trước đã bị bọn quỷ dạ xoa toàn sát,
Nên họ phải vượt qua khu rừng đầy hiểm nguy để đến nơi.
Trên đường đi, bọn dạ xoa hiện ra khắp nơi,
Dùng đủ mọi cách để quyến rũ họ.
Âm thanh ngọt ngào, mùi hương mê hoạc,
Thức ăn thơm lừng,
Và cả những bóng hình mỹ nữ tuyệt đẹp.
Bồ Tát, vị lãnh đạo đã khuyên.
Các người hãy giữ vững tâm của mình,
Đừng để mắt, tai, mũi, lưỡi, thân bị lùi cuốn,
Bằng không sẽ mạng mất.
Nhưng rồi từng người một trong năm vị quan đều bị mê hoạt,
Người thì dừng lại nghe tiếng hát,
Người thì bị cám rỗ bởi sát đẹp,
Người khác lại mãi mê với hương thơm hay vị ngọt.
Cuối cùng họ bị quỷ dạ xoa giết hại.
Chỉ riêng Bồ Tát vẫn giữ vững tâm không giao động.
Dù con quỷ có hóa thân thành một người phụ nữ,
Ngài vẫn không động lòng.
Ngài tiếp tục tiến bước,
Đến nơi an toàn và được tôn làm vua của thành hoa thiệt.
Trong ngày đăng quan,
Ngồi chanh ngay vàng dưới chức lọng trắng,
Ngài chặt nghĩ,
Người ta chỉ thật sự chiến thắng khi chiến thắng được chính mình.
Ngài nói kể,
Kiên trì theo loại bậc trí,
Lòng can đảm chẳng lung lay,
Dạ xoa chẳng thể khống chế,
Vì tâm ta chẳng sợ, chẳng lo.
Vượt qua mọi hiểm nguy,
Cuối cùng đạt đến an toàn.
Kết thúc câu chuyện,
Đức Phật nhìn năm tí kheo và nói,
Những vị quan thỏ ấy chính là các ông bây giờ.
Người giữ được tâm,
Đến được thành hoa thị và trở thành vua,
Chính là ta.
Ngài dạy thêm,
Một tí kheo phải luôn cảnh tỉnh,
Giữ gìn tất cả các căn.
Nếu để mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý,
Bị cuốn theo trần cảnh,
Khổ não sẽ không bao giờ rớt.
Rồi Đức Phật đọc kẻ,
Lành thay phòng hộ mắt,
Lành thay phòng hộ tai,
Lành thay phòng hộ mũi,
Lành thay phòng hộ lưỡi,
Lành thay phòng hộ thân,
Lành thay phòng hộ lợi,
Lành thay phòng hộ ý,
Lành thay phòng tất cả.
Ai biết giữ tất cả căn,
Người ấy sẽ thoát mọi khổ đau.
Ngũ căn, mắt, tai, mũi,
Mắt, lưỡi, thân,
Chính là năm cánh cửa mở ra thế giới.
Nhưng nếu ta không tỉnh thức,
Năm cánh cửa ấy cũng là năm lối dẫn
Vào cạm bẫy của tham, sân và si.
Người tu hay người sống dưới đời,
Chỉ khi biết giữ riêng tâm mình,
Mới có thể đi qua cám rỗng,
Mà không đánh mất chính mình.
Câu chuyện Người chế ngự tay chân
Một ngày đó,
Khi Đức Phật đang trúng tại tỉnh xá Kỳ Viên,
Có một sự việc xảy ra
Khiến cho Ngài phải dạy các đệ tử
Về sự tự chủ của thân tâm.
Họ ở hí ở thanh xá vệ,
Có hai thành niên cùng rời bỏ thế tục để xuất ra.
Cả hai đều trẻ tuổi,
Tinh tấn,
Lại thân thiết như huynh đệ,
Thường cùng nhau học đạo,
Cùng nhau khất thực,
Cùng nhau đi thiền hành mỗi ngày.
Một hôm, họ ra bờ sông Asiravati tắm.
Sau khi tắm xong,
Hai thầy ngồi phơi nắng,
Vừa trò chuyện, vừa ngắm bầu trời xanh.
Bỗng có hai con ngỗng trắng
Bay ngang qua.
Một thầy nói cười,
Này huynh, tôi cá là tôi có thể
Ném trúng một mắt
Của con ngỗng kia.
Thầy kia bật cười,
Huynh đừng có nói đùa,
Làm sao mà ném trúng được?
Tôi sẽ ném trúng cả hai mắt nó cho mà xem.
Huynh chẳng làm được đâu.
Hai người trẻ tuổi,
Trong phút giây bốc động,
Xem việc ấy như một trò đùa.
Theo là vị tỷ kheo thứ nhất,
Nhặt một viên xoài nhỏ,
Ném lên trời, về phía hấp của đàn ngỗng.
Nghe tiếng đá rít lên,
Con ngỗng giật mình quay đầu lại.
Ngay khoảnh khắc ấy,
Vị tỷ kheo thứ hai nhanh tay nhặt thêm một viên đá khác,
Ném thật mạnh.
Viên đá xuyên qua một bên mắt,
Rồi xuyên sang bên kia.
Còn ngỗng đau đớn kêu lên,
Trao đảo rồi rơi thẳng xuống đất,
Ngay trước chân của hai người.
Một số tỷ kheo khác
Đang ở gần đó chứng kiến cảnh tượng,
Kinh hoàng và quả trách.
Này các huynh, các huynh đã xuất ra,
Rời bỏ đời sống thế tục rồi,
Đi theo con đường tử bi của Đức Phật,
Xào lại nhân tầm giết hại sinh linh,
Chỉ vì một trò đùa.
Sự việc được bẩm báo lên Đức Phật,
Khi hai vị tỷ kheo được đưa đến,
Ngài hỏi,
Có phải ông đã giết con ngỗng ấy không?
Vị tỷ kheo quý đầu đáp nhỏ,
Thưa vâng, Bạch Thế Tôn.
Đức Phật nghiêm nghị,
Nhìn họ và nói,
Này tỷ kheo,
Các ông đã bỏ gia đình,
Từ bỏ rụng lạc,
Đến với Đạo Pháp của Như Lai,
Để cầu giải thoát,
Nhưng các ông lại vô tâm,
Sát hại một sinh vật.
Thật đáng tiếc thay,
Người chính, dù sống giữa đời,
Khi Phật chưa ra đời,
Vẫn còn biết e rẻ,
Giữ tâm cẩn trọng,
Trong từng hành động nhỏ.
Còn các ông,
Những người đã khoác áo giải thoát,
Lại dễ dãi buông lung đến thế sao?
Rồi Đức Phật,
Kể cho đại chúng nghe,
Một câu chuyện tiền thân.
Chuyện tiền thân,
Nhà vua giữ giới,
Ở xứ Cô Rô.
Thỏa xa xưa,
Dưới chiều vua Hanayiya,
Ở vương quốc Cô Rô,
Đức Phật từng là vị Thái tử.
Khi trở thành,
Ngài sang thành hoa thị học nghệ thuật bán cung.
Học thành nghề,
Trở về nước,
Ngài được vua cha phong làm phó vương.
Sau khi vua cha băng hả,
Ngài kế vị trở thành vua Cô Rô,
Một vị minh quân đạo đức.
Nhà vua giữ nghiêm năm giới cấm,
Không xác sinh,
Không trộm cắp,
Không tà dâm,
Không nói dối,
Không uống rượu,
Và thực hành đủ mười hạnh của bậc vua hiền.
Không chỉ nhà vua,
Mà tất cả trong hoàng cung,
Từ hoàng hậu, thái hậu, hoàng đệ,
Quan cận thần, người giữ ngựa,
Người giữ kho, thậm chí cả người gác cộng,
Đều giữ giới thanh tỉnh.
Lúc ấy,
Ở vương quốc Kalinka,
Trời hạn hán nhiều năm liền,
Dân đói khổ, ruộng đông nứt đẻ.
Nghe danh của vua Cô Rô là bậc hiền đức,
Họ tin rằng nếu mượn được thớt voi
Anja-Nasa-Niba
Của nhà vua,
Trời sẽ mưa.
Vua Kalinka liền sai sướng
Sang Cô Rô cầu xin thớt voi ấy.
Ở vua Cô Rô thì hoan hỉ cho mượn voi,
Nhưng mà khi đem về,
Trời vẫn không mưa.
Vua Kalinka suy nghĩ,
Không phải vì thớt voi,
Mà vì vua Cô Rô giữ giới thanh tỉnh,
Nên đất nước này luôn được phước lành
Mưa thuận gió hỏa.
Thế là vua Kalinka sai người,
Sang xin năm giới cấm, khắc lên đĩa vàng,
Đem về để thả phục.
Nhưng mà khi đến nơi,
Cả triều đình đều từ tố nói,
Chúng tôi không dám nhận,
Là giữ giới hoàn toàn thanh tỉnh.
Sau khi nghe họ năn nỉ,
Vua Cô Rô đích thân giảng năm giới cấm,
Truyền cho họ cách hành trí chân thành.
Khi người Kalinka trở về,
Họ bắt đầu thực hành giới luật,
Sống thiện lành, tử bi.
Chỉ ít lâu sau,
Mưa liền rơi xuống khắp nơi,
Đất nước hồi sinh.
Kết thúc câu chuyện,
Đức Phật nói với các vị tỉ kheo,
Này các ông,
Người trí thời xưa,
Chỉ một lỗi nhỏ, họ cũng biết hổ thẹn và dẻ dật,
Huống chi là tội sát sinh.
Còn các ông,
Đã đi theo con đường giải thoát,
Mà lại buông lung thân tâm,
Không biết kiểm chế tay chân,
Thật đáng thương xót thai.
Rồi Ngài đọc bài kể,
Người biết chế ngự tay chân,
Biết giữ gìn lời nói,
Tâm an trú trong thiền định,
Biết đủ sống một mình,
Người ấy thật xứng gọi là tỉ kheo.
Người tu hành hay bất kỳ ai sống giữa đời,
Đều cần tự chủ thân,
Khẩu và ý.
Không phải chỉ khi làm điều ác,
Mới là tội,
Mà ngay trong ý niệm,
Trong một hành động nhỏ vô tâm,
Cũng đủ giao mầm khổ đau.
Người khôn ngoan,
Là người giữ tâm mình trước khi hành động,
Giữ lời mình trước khi nói,
Và giữ thân mình trước khi khởi động niệm.
Đó mới là con đường
Đi đến thanh tịnh và an lạc thật sự.
Khi Đức Phật còn trốn
Tại tỉnh xá kỷ viên,
Trong tăng đoạn,
Có một vị tỉ kheo tên là Cô Ca Ly Ca.
Ông vốn có tính nóng nảy
Và tự cao,
Nên thường để những lời nói
Đi trước suy nghĩ.
Một ngày nọ, vì tâm canh tịnh,
Cô Ca Ly Ca đã buông những lời phỉ bán
Hai đệ tử của Đức Phật
Là tôn giả xá lợi phất
Bậc trí tuệ đệ nhất
Và tôn giả mục kiển niên
Bậc thần thông đệ nhất.
Chính vì lời ác ấy,
Ông đã tạo ra khẩu nghiệp nặng nề
Và ngay trong đời ấy,
Bị đọa xuống địa ngục.
Cuộc bàn tán trong tăng đoạn
Khi nghe tin Cô Ca Ly Ca mất và bị đọa,
Các vị tỉ kheo tụ họp
Trong pháp đường bàn tán xôn xao.
Thật đáng buồn thay,
Vì không giữ gìn miệng lưỡi,
Cô Ca Ly Ca đã rơi vào cảnh khổ vô cùng.
Chỉ trong một lời phỉ bán,
Ông đã tự trôn mình vào địa ngục
Ngay khi còn đang sống giữa đời.
Lúc ấy Đức Phật đi đến,
Nhìn thấy các tỉ kheo
Đang bản luận, liên hỏi
Này các ông,
Các ông đang nói chuyện gì vậy?
Khi được các thầy kể lại,
Ngại điềm tĩnh nói
Các ông,
Đây không phải lần đầu tiên Cô Ca Ly Ca bị đọa
Vì không biết giữ gìn lời nói.
Trong quá khứ xa xưa,
Ông ta cũng đã từng tự hại mình
Chỉ vì cái miệng.
Các tỉ kheo im lặng lắng nghe,
Đức Phật bắt đầu kể chuyện tiền thân.
Chuyện tiền thân
Con rùa ham nói,
Họa xưa,
Trong một hồ nước trên giãi hiếm Á Lạp Sơn,
Có một con rùa sống ung dung,
Giữa giọng nước mát.
Một ngày đó,
Có hai con ngỗng trời bay ngang qua,
Hạ xuống hồ nước để uống.
Chúng làm quen với con rùa,
Rồi dần dần trở nên thân thiết.
Rồi một hôm,
Ngỗng nói,
Này bác rùa, quê chúng tôi là ngọn núi Sitakuta,
Có hang động bằng vàng,
Phong cảnh tuyệt đẹp.
Nếu bác đến đó sống cùng,
Bác sẽ thích lắm.
Rùa thở dài,
Tôi cũng muốn đi,
Nhưng mà tôi đâu có cánh như hai anh để bay được.
Không sao,
Ngỗng nói,
Chúng tôi có cách,
Nếu bác chịu ngậm chặt miệng,
Chúng tôi sẽ giúp bác bay lên trời,
Tha bác đến nơi ấy.
Rùa mừng rỡ,
Đồng ý ngay.
Tốt quá, tôi hứa sẽ im lặng.
Hai con ngỗng lên tìm
Một thanh gỗ dài,
Bảo rùa ngậm chặt vào giữa,
Rồi mỗi con nắm một đầu,
Tùng cánh bay lên.
Thế là thật lạ lùng,
Một con rùa đang bay giữa trời xanh,
Trèo lơ lửng
Giữa hai con ngỗng.
Khi mà chúng bay ngang qua một ngôi làng,
Đám trẻ con dưới đất
Thấy cảnh kỳ lạ ấy,
Lên chỉ trỏ reo lên.
Này, nhìn kìa,
Hai con ngỗng đang mang một con rùa bay qua trời,
Chưa thấy bao giờ.
Nghe tiếng cười chọc gẹo,
Rùa tức giận nghĩ thầm,
Đám trẻ ngu ngốc này,
Ta đang được bạn tốt
Đưa đến nơi tuyệt đẹp,
Liên quan gì đến chúng mà dám chế diễu?
Trong cơn bực tức,
Nó quên mất lời hứa,
Hái miệng định nói,
Tụi bay im đi,
Có biết gì đâu.
Vừa mở miệng,
Thành gỗ tột khỏi miệng,
Và rùa rơi thẳng xuống đất,
Tàn sát ngay trong sân của một cung điện
Ở thành Ba Lan lại.
Đức Phật dừng lại,
Nhìn các tế khéo và nói,
Cũng như con rùa kia,
Cô Kalika trong nhiều đời,
Đã tự làm hại mình chỉ vì không giữ được miệng lưỡi.
Người trí thì khác,
Họ biết khi nào nên nói,
Khi nào nên im lặng,
Vì lời nói không chỉ phản ánh trí tuệ,
Mà còn tạo nghiệp cho chính mình.
Rồi ngài đọc kể,
Rùa ham nói tự hại thân,
Gậy ngậm rồi vẫn nắm lời,
Rơi xuống đất,
Tan thay mất,
Kẻ trí xem đó giữ mình,
Nói đúng lúc, đúng chỗ thôi,
Bằng lời ai ngữ dịu êm,
Thấy gương rùa ai có trí,
Biết im lặng để yên tâm.
Đức Phật nói,
Này các tế khéo,
Người thu hành phải biết chế ngự lời nói,
Chỉ nói những gì đem lại lợi ích,
Nói bằng tâm từ bi,
Không cống cao,
Không kêu mạc.
Khi giảng pháp,
Lời phải nhẹ nhàng,
Trong sáng, dễ nghe.
Vì đó là lời từ trong thiền định,
Chứ không phải lời từ ngã mạn mà ra.
Ngài nói kể,
Tì khéo chế ngựa miệng,
Lời vừa phải không kêu,
Khi trình bày tránh pháp,
Lời nói dịu chân thành.
Một lời nói có thể xây,
Hay phá cả đời người,
Khổ nghiệp không nặng bằng gươm giáo,
Nhưng cũng có thể giết chết niềm tin,
Tinh thần và cả phước báo.
Người biết tu,
Trước hết phải tu nơi cái miệng,
Vì đó là cánh cửa đầu tiên,
Dân tâm giang hoài,
Cũng là nơi đầu tiên,
Cần canh giữ.
Giữ miệng là giữ tâm,
Giữ tâm là giữ nghiệp,
Mà giữ được nghiệp,
Thì giữ được cả con đường giải thoát.
Bằng sự tinh tấn,
Làm vinh dự cho Phật.
Thỏa Đức Phật còn ở tỉnh xá Kỳ Viên,
Có một vị tì khéo tên là Hamarama,
Nghĩa là chú pháp hỷ,
Người lấy niềm vui trong giáo pháp,
Làm trỗ nương.
Khi ở hít Đức Phật tuyên bố với cả đại chúng rằng,
Bốn tháng nữa,
Nhừa Lai sẽ nhập Niết Bản.
Cả hội chúng tì khéo trấn động,
Người chưa chứng quả, thì khóc than nước nở.
Người đã chứng thánh quả,
Thì cũng nghẹn ngào xúc động.
Tất cả đều tụ họp bản với nhau.
Thế tồn sắp rời xa rồi,
Chúng ta phải làm gì bây giờ đây?
Ai nấy đều tìm cách hầu cận Phật,
Mong được ở bên Ngài giây phút cuối cùng.
Chỉ riêng Hamarama,
Là khác.
Thầy nghĩ thầm,
Phật đã nói bốn tháng nữa sẽ nhập Niết Bản,
Mà ta vẫn còn bị rằng buộc trong tham ái.
Nếu không tinh tấn ngay bây giờ,
Làm sao mà xứng đáng là đệ tử của Ngài đây?
Trong khi Phật còn tại thế,
Ta phải nỗ lực tu tập,
Cho đến khi chứng quả.
Thế là Thầy chọn sống một mình,
Chuyên tâm thiền định,
Ôn lại giáo pháp, lặng lẽ hành trí.
Khi có ai hỏi,
Thầy chỉ mỉm cười, không bàn chuyện thế gian.
Thầy cũng chẳng lùi tới hậu hạ Phật,
Như những người khác.
Một số tì kheo thấy vậy lên nghi ngờ,
Rồi đến bạch với cả Phật rằng,
Bạch Thế Tôn,
Thầy Hamarama không kính trọng Ngài.
Khi mọi người đã đang đau buồn,
Thầy ấy chẳng hề tham dự.
Phật liền gọi Hamarama đến rồi hỏi,
Thầy thành thật thưa.
Bạch Thế Tôn,
Con chỉ muốn nỗ lực chứng quả A-la-hán,
Trước khi Ngài nhập Niết.
Con nghĩ,
Đó mới là cách để đáp ân Đức lớn nhất của Phật.
Nghe xong,
Đức Phật hoan hỉ, mỉm cười và dạy,
Lành Thay,
Hamarama,
Các ông hãy biết,
Không phải ai ở gần ta,
Hay dân hoa cúng dường ta,
Mới là người kính Phật.
Người thật sự tôn kính ta là người thực hành đúng theo giáo Pháp.
Bởi chính việc hành trí ấy,
Mới là cúng dường cao quý nhất.
Ngài dạy bài kể,
Vị Thị Kheo thích Pháp,
Mến Pháp, suy từ Pháp,
Tâm hồn luôn nhớ tránh Pháp,
Ấy là người tôn kính ta thật sự.
Ngày khi nghe xong,
Hamarama tâm trí khai sáng,
Chứng quả là Hán.
Còn các Thị Kheo khác,
Thế cũng cảm động sâu sắc,
Hiểu ra rằng,
Kính Phật không chỉ ở lời nói hay hình thức,
Mà ở chỗ lấy Pháp làm đường,
Lấy tu lạc lễ.
Thầy Thị Kheo lạc bày,
Một lần khác,
Khi Đức Phật Đăng Chú ở Trúc Lâm,
Có một vị Thị Kheo lạc mất phương hướng tu học,
Thầy này kế thân
Với cả một Thị Kheo trong nhóm của Đệ Bà Đạt Đa,
Người từng chống đối
Và ly khai tăng đoàn.
Một hôm, sau khi đi cất thực về,
Thầy gặp lại người bạn cũ,
Người bạn hỏi,
Huỳnh đi đâu về đó?
Tôi vừa đi cất thực xong,
Ở chỗ của tôi có nhiều đồ ăn ngon
Và tặng phẩm quý,
Huỳnh đến ở chơi vài hôm đi.
Thầy Thị Kheo nghe vậy
Liên nhận lời,
Đến nhóm của Đệ Bà Đạt Đa ở vài ngày.
Sau đó thầy về tăng đoàn
Như không có chuyện gì.
Các thầy Thị Kheo thấy thế,
Liên đến Bạch Phật.
Bạch Thế Tôn,
Vị ấy đã nhận vật thực
Và ở trong nhóm của Đệ Bà Đạt Đa.
Có lẽ thầy ấy đã theo tả kiến rồi.
Phật cho gọi thầy đến hỏi,
Điều các Thị Kheo nói có đúng không?
Thầy đáp,
Bạch Thế Tôn,
Đúng là con có đến đó,
Nhưng mà con không theo quan điểm sai lầm của họ.
Con chỉ ở vài ngày rồi trở về.
Phật ôn tổn nói,
Ta biết ông không theo tả kiến.
Nhưng ông không có lập trường vững vàng
Nên dễ bị giao động trước loài người khác.
Đây không phải lần đầu ông như vậy.
Trong quá khứ,
Ông cũng từng lạc lối như vậy.
Các Thị Kheo nghe vậy
Liên Thịnh cầu Phật kể chuyện xưa.
Phật dạy,
Chuyện quá khứ,
Con voi Đam Xeo Phay
Phỏ xa xưa,
Có con voi tên là Đam Xeo Phay,
Rất hiền lành và thuần thục.
Mỗi ngày,
Nó được người giữ voi dắt ra tắm,
Ăn uống đầy đủ,
Và chẳng bao giờ làm hại ai.
Một hôm trong lúc đi ngang qua khu rừng,
Nó nghe bọn trộm cướp ngồi chửi bới,
Nói năng thô tục,
Bàn chuyện giết chóc, cướp bóc.
Nghe mãi thành quen,
Tâm của nó dần trở nên hung hăng dữ tận,
Bắt đầu phá phách,
Giết hại cả người.
Người chủ kinh hoàng,
Nghĩ mãi không hiểu vì sao con voi hiền lành,
Lại hóa dữ.
Một vị bà Lamôn hiểu chuyện bèn khuyên,
Đừng cho nó nghe lời ác nữa,
Hãy để nó gần những người hiền,
Nói lời đạo lý.
Thế là,
Người chủ cho voi nghe
Các vị hiền giả bàn đạo,
Tụng kinh,
Nói lời tử bi.
Chẳng bao lâu sau,
Tâm của voi trở lại hiền hòa,
Thần thục như xưa.
Phật kể xong liền nói,
Con voi đàn sao phây thỏ ấy,
Chính là thầy tỷ kheo này,
Vì thiếu lập trường,
Dễ bị ảnh hưởng bởi loài người khác,
Mà tự làm hại mình.
Rồi Phật kết luận,
Này các tỷ kheo,
Hãy biết bằng lòng với những gì mình có,
Đừng ham muốn vật thực,
Hay lợi lọc của người khác.
Kẻ ganh tị, không bao giờ đạt được thiền định,
Hay trí tuệ.
Người biết đủ, mới thật giàu có.
Người an định,
Mới thật tự do.
Ngài nói kể,
Không khinh điều mình được,
Không ganh người khác hơn.
Ai ganh tị người khác, không thể trứng thiền định.
Giàu nhận được ít thôi,
Không khinh điều mình có.
Sống thanh tịnh,
Hai câu chuyện này cũng chỉ về sự tự chủ nội tâm.
Một người lấy nỗ lực tinh tấn
Làm cúng dường Phật.
Một người khác,
Vì thiếu vững tâm mà suýt lạc đường.
Cả hai đều nhắc ta rằng,
Phật không ở đâu xa.
Phật ở trong tránh niệm,
Tinh tấn và biết đủ.
Người Bà Lam Môn cúng dường 5 lần,
Thành quả đầu tiên.
Ngày ấy,
Khi Đức Phật còn ở tỉnh xá Kỳ Viên,
Có một Bà Lam Môn làm nghề nông.
Ông là người hiền lành, chân chất
Và đặc biệt rất có lòng kính ngưỡng tam bạo.
Khi mùa gạt đến,
Lúa chín vàng giật cả cánh đồng.
Ông làm một việc
Mà ít ai để ý.
Mỗi bước đầu tiên trong công việc của mình,
Ông đều dâng lên
Làm của cúng Phật.
Hế vừa cắt những bông lúa đầu tiên,
Ông đem ngay phần ấy đi cúng dường.
Lúa đập xong,
Ông lại dâng những hạt đầu tiên.
Khi mang lúa vào kho,
Ông tiếp tục lấy phần lúa,
Đổ vào bộ đầu tiên để cúng.
Lúc nấu cơm,
Ông dành bát cơm đầu tiên
Bới ra trong nổi dâng cúng.
Và khi bày ra cơm đĩa,
Những hạt cơm đầu tiên được múc ra
Cũng là để cúng dường.
Ông chưa bao giờ nếm trước một miếng nào,
Cho đến khi lễ cúng xong.
Bởi vậy,
Mọi người đều gọi ông là
Người cúng năm lần thành quả đầu tiên.
Một buổi trưa,
Đức Phật dùng tuệ quán
Nhìn khắp thế gian,
Thấy hai vợ chồng người Palamon này
Có căn lành sâu dày,
Đủ khả năng trứng quả Anaham,
Bất lai, không còn tái sinh cõi dụng.
Ngài liền ôm bát đến nhà họ khất thực.
Lúc đó,
Người chồng đang ngồi ăn cơm,
Quay lưng về phía cửa,
Nên không hề thấy được Phật đến.
Còn người vợ,
Đang dọn thức ăn cho chồng,
Vừa ngẩn lên thì trông thấy Đức Phật.
Trong lòng bà thoáng lo lắng.
Nếu chồng ta mà thấy
Salmon cổ đàm đứng đây,
Chắc chắn ông ấy sẽ đem hết phần cơm của mình dân cúng.
Mà ta thì không còn gì
Để nấu lại.
Ta phải làm sao đây?
Thế là bà đứng tránh phía sau lưng chồng,
Định che khuất tầm nhìn.
Tưởng rằng như vậy có thể che được hình bóng của Phật.
Giống như một người muốn lấy tay
Che cả vầng trăng tròn.
Bà cứ len liếc nhìn ra cửa thầm nghĩ.
Không biết ngài đi chưa?
Nhưng Đức Phật vẫn đứng yên đó.
Trong lòng bà cầu khẩn.
Xin ngài đi đi.
Vì sợ chồng nghe thấy
Bà chỉ nói thầm trong lòng.
Xong Đức Phật lại hiểu rõ.
Lên khởi niệm.
Ta không đi.
Và khi Phật khẽ lắc đầu,
Bà vợ không kìm được bật cởi cốt khích.
Ngày giây phút ấy,
Đức Phật nên phóng hảo quang sáu sắc,
Hiện thần sáng rực ngay trong nhà.
Người chồng đang quay lưng.
Vừa nghe tiếng cười của vợ.
Vừa thấy ánh sáng rực rỡ chiếu quanh.
Lên quay lại.
Trước mắt của ông là hình bóng của Đức Thế Tôn
Bậc Đạo Sư của Chư Thiên và Loài Người.
Người bà Lamôn kinh ngạc,
Vừa mừng, vừa hối hận trách vợ.
Bà thật dại giọt.
Khi Thái tử Dòng Thích đứng trước nhà ta.
Sao không báo cho ta biết?
Bà lại để ta phạm lỗi lớn rồi.
Rồi ông vội vàng bưng đĩa cơm đang ăn dở.
Bước đến trước Phật.
Chắp tay nói.
Bạch Samôn của Đàm.
Con vừa hoàn tất 5 lần cúng giường đầu tiên.
Và đang dùng cơm.
Này thấy Ngài đến.
Con xin chia phần cơm này làm 2.
Một nửa con xin dân cúng.
Một nửa con sẽ dùng.
Xin Ngài hoan hỉ nhận cho.
Lẽ ra.
Nếu theo thế gian.
Phật có thể nói.
Ta không nhận phần cơm thừa của ông.
Nhưng Đức Phật mỉm cười tử bi.
Dạy rằng.
Này bà Lamôn.
Dù là phần đầu, phần giữa, hay phần còn lại.
Người khất thực đều hoan hỉ nhận.
Vì Bạch Samôn sống nhờ vào lòng bố thí của chúng sinh.
Quan trọng không phải là hình thức.
Mà là tấm lòng thanh tịnh.
Khi cho đi.
Rồi Ngài nói bài kể.
Dù phần đầu, phần giữa, phần giữa.
Người khất thực đều vui lòng nhận.
Không phiền hạ.
Chẳng thể trách móc.
Người trí ấy thật bậc tránh chi.
Nghe xong người bà Lamôn xúc động vô cùng.
Ông thưa.
Thật nhiệm màu thay, thái tử.
Là bậc tôn quý nhất thế gian.
Mà Ngài vẫn khiêm nhượng.
Không chê phần dư thừa.
Thật xứng đáng là bậc đại giác.
Rồi ông hỏi tiếp.
Bạch Thế Tôn.
Con nghe Ngài gọi các đệ tử của mình là tì kheo.
Xin cho con được biết.
Thế nào mới thật sự là một vị tì kheo?
Đức Phật lặng yên trong dây lát.
Rồi nghĩ thầm.
Trong đời Phật Ca Diếp.
Ta từng giảng cho hai vợ chồng này nghe
về thân và tâm.
Nên cũng nên giảng như vậy.
Để họ sớm được giác ngộ.
Ngài nói.
Này bà Lamôn.
Một vị tì kheo chân chính là người không còn bị giảng buộc
bởi danh và sắc.
Tức là tâm và thân.
Người ấy không chấp cái thân này là ta.
Không chấp cả thọ.
Ý nghĩ hay vật chất là của ta.
Không còn chấp thủ.
Không còn sầu não.
Thì mới thật sự xứng danh là tì kheo.
Ngài đọc bài kể.
Hoàn toàn đối danh sắc.
Không chấp ta của ta.
Không chấp không sầu não.
Thật xứng danh tì kheo.
Nghe Phật thuyết xong.
Hai vợ chồng người bà Lamôn nên khai mở trí tuệ.
Đoạn trừ ngã chấp.
Trứng quả Anaham.
Câu chuyện này dạy ta hiểu rằng
Cúng dường không nằm ở hình thức
mà ở tấm lòng chân thật
và sự buông bỏ cái ngã khi cho đi.
Người biết dân hiến
với tâm thanh tĩnh
dù ít hay nhiều
đều gieo trồng phước báu vô lượng.
Và hơn hết, người tu chân thật
không chỉ cúng Phật bằng vật thực
mà bằng chính đời sống tỉnh thức.
Không chấp thân.
Không dính tâm.
Bởi vì Đức Phật đã dạy
Khi tâm không còn ta và của ta
thì đó là lúc
con người thật sự giải thoát.
Câu chuyện Đảng cướp đi tu.
Hỏa xưa
khi Đức Phật đang ngự tại tỉnh xá Kỳ Viên
có một vị đại đệ tử
là Thượng Tòa Kakana
sống gần tu trên một ngọn núi
gần thành Kudadahara, nước Avati.
Ở đó có một cư sĩ
tên là Sona Kutikana.
Sau khi nghe pháp
của Ngài Kakana rằng
lòng vô cùng cảm động liền thương
Bạch Thầy còn muốn được
xuất ra tu học.
Thượng Tòa từ tốn đáp
Sona, con ạ, đời sống thanh tịnh
không dễ dàng đâu.
Người tu phải biết sống một mình, ăn một mình
tư duy một mình
còn nên suy nghĩ kỹ.
Nhưng mà Sona rất quyết tâm
đến xin lần thứ hai rồi lần thứ ba
và cuối cùng được cho phép
gia nhập tăng đoàn.
Ba năm sau, sau khi đã hoàn thành
mọi bổn phận của người tu,
Thầy xin phép sư phụ lên đường
đến kỳ viên để được diện kiến
Đức Thế Tôn, Thượng Tòa Kakana
dặn giỏ kỹ lưỡng rồi
tiến đệ tở đi.
Khi đến kỳ viên, thì kheo
Sona đảnh lễ Đức Phật.
Ngài đón tiếp rất ân cần và cho phép
Thầy nghỉ trong hương thách của mình.
Thầy Sona thường đi kinh hành
ngoài trời suốt đêm, gần sáng
mới nằm nghỉ một chút.
Khi bình minh lên, Đức Phật
bảo Thầy tụng bài kinh 16 tuần.
Thầy tụng xong,
Đức Phật hoan hỉ khen.
Hay lắm, hay lắm Sona!
Tiếng khen ấy vang đến
tận cõi trời. Các vị
thiên, long, dạ soa, thậm chí
chư phạm thiên đều đồng thanh
tán thán. Lục ấy cách đó
hơn trăm rầm. Trong ngôi nhà
của mẹ Sona, vị thần hộ pháp
cư ngụ tại nhà cũng đã vang tiếng
khen ngợn. Nghe thấy là
ba hỏi, ai đang ca tụng
vậy? Thần đáp,
dạ là tôi, vị thần
của nhà này. Sao bấy lâu
ông không khen ngợi, hôm nay
lại hân hoan đến như vậy?
Không phải tôi khen bà đâu,
mà là tôi khen con trai bà, tỷ Kheo Sona.
Hôm nay,
Thầy đang tụng kinh cho Đức Thế Tôn
trong hương thất. Được Ngài khen ngợi,
nên tôi cũng tán tán theo.
Bà nghe vậy mừng khôn siết,
nghĩ thầm. Nếu
con ta tụng kinh cho Phật nghe được,
thì chắc chắn cũng có thể tụng cho ta nghe.
Và bà hẹn
khi nào con trở về,
sẽ thỉnh con giảng pháp tại nhà.
Một thời gian sau,
tỷ Kheo Sona xin Phật trở về
thăm quê, ghé lại nhà mẹ.
Bà vô cùng vui mừng đón tiếp
con bằng tất cả lòng kính trọng.
Bà hỏi, con à,
nghe nói con đã tụng kinh cho Đức Thế Tôn
nghe, có thật không?
Thưa mẹ, ai nói vậy?
Chính vị thần trong nhà kể lại mà.
Bà năn nỉ.
Nếu con đã tụng kinh cho Đức Thế Tôn,
thì xin con hãy tụng cho mẹ nghe nhé.
Mẹ sẽ chuẩn bị
chai lễ, thỉnh chư tăng
để nghe con thuyết pháp.
Sona hoan hể nhận lời.
Bọn cướp định
cướp nhà.
Đến ngày giảng pháp, bà chuẩn bị
long trọng. Cả nhà đều đi nghe,
chỉ thừa lại một cô tớ gái
trong nhà. Không ai biết rằng,
trong vùng có một băng cướp gồm
900 tên đang nhắm đến nhà bà
từ lâu. Vì nhà bà có
7 lớp tưởng kiên cố, kho báu
đầy vàng bạc. Chúng biết
hôm nay bà sẽ đi nghe pháp,
bèn đào hầm xuyên qua mương trì
và hàng cọc sắt lén lỏi
vào bên trong. Tên đầu đảng
ở lại giảng đường, giả làm
người dân thượng đứng gần bà để canh chừng.
Trong khi đó, đồng bọn của hắn
mở kho tiền trong nhà.
Cô tớ gái thì hốt hoảng chạy đến báo.
Thưa phu nhân, bọn cướp
vào nhà rồi, đang phá kho tiền đồng.
Bà bình thản đáp lại.
Cứ mà kệ đi,
ta đang nghe pháp, đừng có làm phiền.
Một lát sau cô lại chạy đến.
Thưa phu nhân, chúng
đang lấy hết bạc rồi.
Bà vẫn điểm tĩnh. Đừng có
bận tâm, của cải có thể mất.
Nhưng pháp âm chỉ có một lần.
Đến lần thứ ba,
cô tớ hốt hoảng.
Chúng sắp lấy cả vàng phu nhân ơi.
Bà nghiêm dọng.
Con à, ta đã nói rồi.
Đừng quấy dậy ta nữa.
Đang nghe pháp, đừng
làm động tâm ta.
Tên đầu đã nghe vậy trong lòng chấn động.
Người như bà lòng chân thật
và tâm an tĩnh đến như vậy.
Nếu ta cướp của bà, chắc chắn
trời đế thích sẽ đánh vỡ đầu ta mất.
Hắn vội quay về
ra lệnh cho cả bọn trả lại toàn bộ của cải.
Họ xếp lại
từng kho tiền đồng, bằng,
vạt, như ý cũ.
Khi tới thời pháp kết thúc,
thì Kheo Sona bước xuống.
Tên đầu đảng lệnh quỳ xuống trước mặt bà
rồi nói,
xin phù nhận tha thứ cho tôi.
Bà dịu dàng hỏi,
có chuyện gì vậy?
Tôi vốn đến đây để giết bà.
Nhưng nhờ nghe pháp
và thấy tâm lòng của bà, tôi hối hận vô cùng.
Không sao cả.
Ta tha thứ cho các anh.
Những tên cướp khác
cũng lần lượt đến xin giám hối.
Xin cho chúng con được xuất ra
theo thầy Sona để học đạo và tu hành.
Bà vui vẻ nói với con,
Con à,
những người này đã hối cãi rồi,
hãy độ cho họ đi.
Thì Kheo Sona lên cắt áo cho họ,
nhộm vàng đất,
truyền giới và chỉ giải.
Sau đó mỗi người được giao một đẻ mục thiền quán riêng,
rồi tất cả 900 vị
cùng lên núi nhập định tu tập.
Đức Phật ở kể viên,
quán thấy căn cơ của 900 vị ấy
đã chín mùi,
liền hiện thân trên núi để giảng pháp.
Ngài nói,
Này các tỷ Kheo,
người tu hành chân chính,
hãy lấy tử bi làm cốc,
diệt trời tham sân si,
buông bỏ mọi giảng buộc của ngũ rụng
và dùng thiền định cùng trí tuệ
để đến gần nhiết bản.
Ngài dạy thêm qua những bài kể.
Tỷ Kheo an trú tử bi,
giữ lòng tin trọn pháp nghi,
đạt cảnh giới tịch tịch,
sống đời am lạc rượu kì.
Hãy tát cạn con thuyền này,
khi thuyền nhẹ,
vượt sông ngay,
rứt tham, lìa xuân hận,
nhiết bản bở rác trong tay.
Không trí, không thiền,
khổ thôi,
có trí, có định, nhiết bản gần kề.
Ai thân thiện, sống đoan trang,
gần bạn lành,
giữ giới hẳn,
người ấy sẽ rất khổ đau,
hưởng niềm vui giữa thế gian.
Nhờ nghe Pháp,
mà cả 900 vị
đều chứng đắc quả là Hán,
giải thoát khỏi luân hồi.
Đức Phật kết luận,
người sống chân thật, lòng không gian dối,
thì chính sự chân thật ấy sẽ bảo vệ họ.
Người ấy dù ở giữa hiểm nguy,
cũng được bình an,
như giữa ánh sáng của Tránh Pháp.
Quý vị thân mến,
và video ngày hôm nay đến đây xin phép để khép lại.
Hẹn gặp lại quý vị ở những video sau.
Chân thành cảm ơn sự lắng nghe của quý vị.