Bi Kịch Nam Hán – Triều Đại Kinh Dị Nhất Trung Hoa: “Cắt Của Quý” Tập Thể, Tự Hoạn Mới Được Làm Quan

Đình Sự
537 người theo dõi
Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, có không ít triều đại rối loạn, có những vị vua tàn bạo, có kẻ mê tín, lại có kẻ sống trụy lạc. Nhưng hiếm có thời nào mà triều chính lại được thiết lập trên một nguyên tắc kỳ dị đến mức khiến người đời sau không khỏi sửng sốt: “Muốn làm quan, trước tiên phải tự hoạn.” Đó là sự thật tại vương triều Nam Hán
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Chiều đại kỳ quai nhất trong lịch sử Trung Quốc, muốn làm quan thì trước tiên phải làm thái giám.
Trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, có không ít chiều đại dối loạn, có những vị vua tàn bạo, có kẻ mê tín, lại có kẻ sống trụi lạc,
nhưng hiếm có thời nào mà chiều chính lại được thiết lập trên một nguyên tắc kỳ dị, đến mức khiến người đời sau không khỏi sửng sốt, muốn làm quan trước tiên phải tự hoạn.
Đó là sự thật tại vương chiều Nam Hán dưới thời Lưu Sưởng, vị hoàng đế cuối cùng, và cũng là người đưa chiều đại này đến bờ sụp đổ bằng chính những quy định quái gỡ của mình.
Lưu Sưởng, tên húy là Lưu Kế Hưng, sau đổi thành Sưởng khi lên ngôi, kế vị ngay vàng Nam Hán năm 958 khi mới chỉ 16 tuổi.
Lẽ ra với tuổi trẻ và cơ hội cải cách, ông có thể vực dậy một quốc gia nhỏ đang suy yếu,
nhưng trái lại, những gì Lưu Sưởng để lại trong sử sách không phải là chính sách trị quốc, mà là một chiều đình đầy rễ hoạn quan, tịnh phòng và phóng đẵng vô độ.
Ngay sau khi lên ngôi, Lưu Sưởng ban bố một quy định chưa từng có trong lịch sử, mọi người muốn được cất nhắc vào chiều làm quan phải tự nguyện trở thành thái giám.
Lý do hoang đường của ông là người thương, có gia đình riêng sẽ lo toan tư lợi, không trung thành với vua, còn hoạn quan, không vướng bật tình thân sẽ trung thành tuyệt đối.
Hệ quả là một làn sóng tự thiến diễn ra trong xã hội, những kẻ có học thức, những trạng nguyên, thậm chí các nhà sư muốn được tin dùng đều lần lượt vào phòng thiến.
Nhiều người không dám làm nhưng vẫn tìm cách mưu mẹo trá hình để được vào cung.
Dưới thời Lưu Sưởng, số lượng hoạn quan đã lên đến hàng ngàn người, áp đảo toàn bộ giới quan lại bình thường.
Sử sách mô tả rằng nhà vua thậm chí cho lập riêng các sưởng thiến gọi là nhà tầm, với hàng trăm thợ chuyên làm công việc cắt bỏ bộ phận sinh dục Nam.
Người dân gọi thời ấy là vương chiều hoạn hóa, một triều đình bị bùa vây bởi những kẻ đã tự biến mình thành vô năng sinh học nhưng lại được trao cho quyền lực chính trị tối cao.
Từ duy cai trị của Lưu Sưởng không chỉ đi ngược đạo lý mà còn phản lại toàn bộ truyền thống trọng sĩ phu, trọng hiền tài của nho giáo.
Trong khi các chiều đại khác vinh danh người có học, khuyến khích nhân tài ra phò tá đất nước thì Nam Hán biến thành sân khấu của những chó hoang đường và lố bịch.
Điều đáng sợ là Lưu Sưởng không làm điều này trong mê sảng, ông làm với toàn bộ sự tin tưởng vào chủ đích,
xây dựng một thể chế dựa trên sự ngờ vực kiểm soát tuyệt đối bằng cách cắt đất huyết mạch nam tính của chiều thần.
Một kiểu quản trị bằng thiến, mà hậu quả về sau chính lịch sử đã phán xử bằng cái giá khôn lường.
Chiều đại của Lưu Sưởng không chỉ kỳ quái bởi quy định bắt buộc tự hoạn để làm quan mà còn bởi sự thao túng hoàn toàn của giới thái giám đối với bộ máy chính trị.
Trong khi các quốc gia khác trọng sĩ phu, nho sĩ, văn thần và võ tướng thì Nam Hán trở thành sân khấu chính trị cho lực lượng đặc biệt là hoạn quan.
Lý lẽ của Lưu Sưởng nghe qua có vẻ có lý, theo kiểu hoang tưởng, là những người có vợ con thì sẽ phân tâm, dễ bị lung lay bởi tình thân,
còn hoạn quan không còn ham muốn hay trách nhiệm gia đình sẽ tuyệt đối trung thành.
Dựa trên lập luận ấy, ông ta ra toàn bộ chính sự vào tay những người từng cắt bỏ bản năng nam nhì,
mà ông xem là đáng tin hơn cả trung thần có học thức.
Hoạn quan Cung Trường Xu, Trân Diên Thọ, Lê Quỳnh Tiên, Hứa Nhan Trân, Lý Thác là những tay sai thân tín và trở thành những người đứng đầu các cơ quan then chốt của triều đình.
Họ quyết định việc bổ nhiệm quan chức, nắm binh quyền, thao túng ngân khố và thậm chí là có tiếng nói quyết định trong các vụ án cung đình.
Cái hệ thống chính trị dị dạng ấy sớm biến triều đình thành một vũng lầy của bé phái, su nịnh và phản chắc.
Không có cơ chế phản biện, không có trí thức thực sự tham gia chính sự nên các quyết định trị quốc đều dựa vào lời si sao của các thái giám,
những kẻ chỉ biết mưu cầu lợi ích cho phe nhóm riêng.
Đáng nói hơn, không chỉ trong nội các mà đến cả quân đội cũng bị hoạn hóa.
Những tường lĩnh từng có chiến công bị hạ bệ, thay vào đó là các hoạn quan không có kỹ năng cầm quân.
Họ cầm gươm nhưng không biết cách đánh trận, mang danh chỉ huy nhưng sợ ra chiến trường.
Kết quả là đội quân của Nam Hán ngay càng dễ dã, mất hết tinh thần chiến đấu,
khi chỉ biết phục vụ lễ nghi và phục tùng mệnh lệnh từ những kẻ yêu đuối cả về thể chất lẫn chiến lược.
Xã hội Nam Hán thời lưu sường lâm vào cảnh đảo điên.
Các quan đại thần, ngoài hoạn quan đều chỉ mang chức hư danh không thực quyền,
kẻ sĩ thì hoặc bỏ trốn hoặc cam chịu thiến thân để giữ lấy cơ hội tiến thân.
Không khí học đường, nền nếp nho giáo vốn là trụ cột xã hội dần tan giã trong im lặng.
Một triều đại mà khái niệm trung quân ái quốc bị biến dạng thành
chung với người cắt gốc sinh tồn thì tất yếu sẽ rơi vào hỗn loạn.
Tình trạng ấy không phải một năm hai năm mà đã kéo dài gần suốt triều đại của lưu sường.
Những kẻ quyền hành nhất trong cung không còn là các đại thần lão luyện
mà là các thái giám đầu triều chuyên vô cáo, bày trò, hại trung lương và củng cố vị trí bằng thủ đoạn.
Đã vậy nhà vua còn ưa nghe lời giềm pha
Khi quyền lực đặt vào tay những kẻ không đủ cá nhân cách lẫn trình độ
thì không chỉ chính sự mà cả vận mệnh quốc gia cũng bị đẩy đến bờ vực.
Và Nam Hán, không nằm ngoài quy luật đó,
lịch sử đã không ít lần ghi nhận những vị hoàng đế chìm đắm trong tiểu sắc bỏ bê triều chính.
Nhưng lưu sường, vị vua cuối cùng của Nam Hán có lẽ là một trong những điển hình hiếm hơi
biến hoang dâm thành phương châm trị quốc và lấy khói lạc làm mục đích tồn tại của vương triều.
Nếu việc biến các triều đình thành sân khấu cho thái giám là một sự kỳ quái
thì lối sống trụy lạc của chính nhà vua là dấu chấm hết cho mọi hy vọng cải cách.
Không chỉ trao quyền cho đám hoạn quan, lưu sường còn xây dựng một hậu cung xa hoa bậc nhất
với hàng trăm mỹ nữ được đưa vào làm công cụ hưởng lạc.
Điều đặc biệt là dưới tay ông, các cung nữ không chỉ là người hầu hạ
mà còn được phong tức vị như quan lại
Người làm ấm dường thì được phong thái phó, kẻ biết chiều trụng hơn thì có thể thành thái sư.
Chưa từng có trong lịch sử một vị vua nào trao danh hiệu cao quý quốc gia
cho những kẻ chỉ biết làm vua vui lòng.
Để phục vụ cho đời sống chắc táng của mình, ông ra lệnh xây dựng điện Vạn Chính
một cung điện lộng lẫy và tốn kém, chỉ để làm nơi hưởng lạc.
Toàn bộ ngân khố quốc gia bị vắt kiệt cho những trò xa xỉ.
Trong khi đó, quân lính ngoài Biên Cương đói rết, dân chúng khổ cực
triều đình thì mục ruộng vì không còn ai chăm lo quốc sự.
Cũng chính lối sống này đã khiến lưu sửng dễ dàng bị thao túng bởi đám hoạn quan và tì thiếp.
Trong một lần, thái giám Lý Nhan Trân, biết rõ khẩu vị của vua
đã tìm kiếm tận phương Tây một cô gái ba tư có thân hình đẩy đà để dâng lên hoàng thượng.
Hậu quả là nhà vua mê mẩn người con gái ấy
đến độ bỏ mặc triều chính nhiều ngày chỉ quanh quẩn trong hậu cung.
Trong khi Nam Hán ngày càng xa suốt thì nhà Tống
với Tống Thái Tổ và sau đó là Tống Thái Tông
lại đăng từng bước thống nhất Trung Hoa tiêu diệt các tiểu quốc phương Nam.
Năm 970, quân Tống do ngự sử phan Mỹ chỉ huy bất ngờ tiến đánh Đàm Châu
một căn cứ trọng yếu của Nam Hán.
Khi tin báo về đến cung đình, đám hoạn quan vốn chỉ quen hưởng thụ và miu mẹo trong cung
hoàn toàn không biết cách đối phó trước tình hình chiến sự.
Họ cuống cuồng, tranh cãi rồi bỏ trốn.
Không ai đủ khả năng cầm quân, không ai đủ dũng khí ra trận.
Quân sĩ vốn đã đói khổ, mất nhuệ khí, nay lại bị lãnh đạo
bởi những kẻ chưa từng bước chân ra chiến địa.
Trong lúc thành trì nguy cấp, đám hoạn quan giữa đêm đã tháo chạy
bỏ mặc vua Lưu Sưởng ở lại.
Sáng hôm sau, biết không còn đường lui, vị vua từng ngồi trên điện Vạn Chính
giờ đây đốt hết cung điện rồi tìm đường bỏ trốn bằng thuyền.
Nhưng ngay cả chiếc thuyền ấy cũng đã bị hoạn quan lấy mất.
Không còn lựa chọn, Lưu Sưởng buộc về đầu hàng
khép lại vương chiều Nam Hán kéo dài hơn nửa thế kỷ
bằng một kết thúc nhục nhã chưa từng có trong sử sách.
Sau khi đầu hàng, Lưu Sưởng, vị hoàng đế từng ép cả thiên hạ thiến thân
để trung thành, trở thành một tù nhân thất thế bị áp giải về Biện Kinh,
thủ đô của Triều Tống.
Cảnh tượng ngày ấy theo ghi chép của sử quan là một ông vua sách dưới
thân thể tiêu thụy, lấm lét như một kẻ trộm bị bắt.
Không còn vẻ gì của một thiên tử từng sống trong nhung lụa và quyền uy tột định.
Bị giam tại vườn Ngọc Tân, Lưu Sưởng không còn quân thần,
không còn hoạn quan nịnh bợ, không còn cung nữ uốn éo quanh mình.
Tuy nhiên vẫn chưa hết miêu mẹo, ông dâng lên Tống Thái Tổ một món quà đặc biệt
là những viên trông ngọc quý giá kết thành hình dông tinh xảo như thật
mong giữ được mạng sống.
Cử chỉ ấy vừa nịnh bợ vừa tự nhục đã trở thành một biểu tượng
của sự suy tàn vương quyền.
Sự chấp thuận tha mạng của Triều Tống dành cho ông,
suy cho cùng cũng là sự thương hại dành cho một con rối lịch sử,
người từng cầm vận mệnh của cả một triều đại
nhưng cuối cùng không cứu nổi chính mình.
Sau gần một thập kỷ sống trong cảnh lưu đầy,
năm 1980, Lưu Sưởng chết trong đau đớn vì bị bệnh nứt ra toàn thân,
hậu quả của một đời trụi lạc, diệu trè và dục vọng không kiểm soát.
Ông bắt khi mới 38 tuổi,
cái tuổi đáng ra phải là đỉnh cao của một đế vương
nếu không tự đẩy mình xuống vực sâu bằng những quyết định kỳ dị và mù quáng.
Sự sụp đổ của Nam Hán dù là một trong nhiều nước nhỏ thời ngũ đại thập quốc
nhưng lại là một trường hợp hiếm hoi bị tiêu diệt
không bởi chiến tranh khốc liệt mà bởi sự mục dũng từ bên trong.
Một triều đại được điều hành bởi hoạn quan,
dẫn dắt bởi dục vọng,
bỏ mặt nhân tài và xây dựng quyền lực trên nền tảng của thiến thân
thì tất yếu sẽ diệt phong mà không cần đến đại quân.
Lịch sử đã ghi lại Nam Hán như một bài học cay đắng về sự lệch chuẩn thể chế
nơi những kẻ không đủ tư cách làm người lại được giao quyền trị quốc
và lưu sưởng dù chỉ là một mảnh ghép nhỏ trong thời kỳ loạn lạc
vẫn luôn được hậu thế nhắc đến như vị vua kỳ quái bậc nhất Trung Hoa
người dám đặt dao kéo lên cơ thể thần dân để chứng minh lòng trung thành.
Hơn cả một giai thoại hoang đường
câu chuyện về triều đại hoạn hóa này
là một lời cảnh báo thẳng thưng của lịch sử
rằng quyền lực không được xây dựng bằng sự ngờ vực và kiểm soát bản năng
và một đất nước không thể tồn tại nếu trị quốc bằng nỗi sợ hãi và tình dục.
