Nhắc tới các Các Đại Danh Y Trung Hoa thời xưa người ta sẽ dễ dàng nhớ tới những cái tên như Biển Thước, Hoa Đà, Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân.. Và trong số đó công chúng ít biết tới một đạo sĩ kỳ tài đã từng khổ luyện đắc đạo thành thiên, phi thăng giữa ban ngày và để lại những thành tựu y học to lớn cho nhân loại ngày nay đó là Thần Y Cát Hồng. Gần 1.700 năm trước, Cát Hồng biên soạn “Chẩu Hậu Phương”, một y thư quý báu ghi chép về dược thảo và phương pháp chữa bệnh. Thế kỷ XXI, nữ khoa học gia Đồ Uu đã tìm thấy trong đó gợi ý để chiết xuất hoạt chất Artemisinin từ thanh hao hoa vàng, mở ra bước ngoặt trong điều trị sốt rét, cứu sống hàng triệu người và mang về giải Nobel Y học. Từ một đạo sĩ luyện đan cầu trường sinh, Cát Hồng vô tình trở thành người đặt nền tảng cho một thành tựu y học mang tầm thế giới. Trong Video hôm nay, Ngẫm sẽ cùng quý vị tìm về những thành tựu mà vị Đạo Sĩ Siêu Phàm này đã để lại ----------------- Kênh Ngẫm Radio được lập ra với mong muốn chia sẻ với quý khán giả những kiến thức mới mẻ từ nhiều góc độ về những chủ đề như: dự ngôn, bí ẩn, lịch sử, tâm linh huyền bí cùng những câu chuyện nhân sinh cảm ngộ, khám phá thế giới. Hy vọng sẽ mang đến cho quý vị những phút giây thư giãn đầy ý nghĩa, đồng thời được truyền cảm hứng để luôn sống tích cực và thiện lương.
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Để không bỏ lỡ những nội dung thú vị khác, hãy kết nối với chúng tôi qua: ✿ YouTube: / ngẫmradio ✿ Liên hệ và góp ý qua hòm thư: [email protected]
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Ngẫm Radio! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người! #NgamRadio#bian#tientri
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Chuyên kỳ về Thần Y Cát Họng, Đạo sĩ siêu phạm Bạch Nhật Phì Thằng.
Nhập tới các đại gia nghị Trung Hoa thời xưa,
người ta sẽ dễ dàng nhớ tới những cái tên như Biển Thước, Hòa Đà, Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân.
Và trong số đó, công chúng ít biết tới một đạo sĩ kỳ tài
đã tuyên khổ luyện đắc đạo Thành Thiên, Phì Thằng giữa ban ngày
và để lại những thành tựu y học to lớn cho nhân loại ngày nay.
Đó là Thần Y Cát Họng.
Gần 1.700 năm trước, Cát Họng biên soạn Chầu Hậu Phương,
một y thứ quý báu ghi chép về dược thảo và phương pháp chữa bệnh thế kỷ 21.
Nữ khoa học gia Đồ Ú đã tìm thấy trong đó gợi ý để triết xuất hoạt chất.
Artemis Sinin từ thanh hoa hoa vàng mở ra bước ngoặt trong điều trị số Z,
cứu sống hàng triệu người và mang về giải thưởng Nobel Y học.
Từ một đạo sĩ luyện đàn cầu trường sinh,
Cát Họng vô tình trở thành người đặt nền tảng cho một thành tựu y học mang tầm thế giới.
Trong video hôm nay, Ngẫm sẽ cùng quý vị tìm hiểu những thành tựu
mà vị đạo sĩ siêu phàm này đã để lại.
Ông sinh năm 283, dĩ thời Tây Tấn, niên hiệu Thái Khang IV.
Cát Họng là con trai thứ ba trong một gia đình quàn lại ở Giang Tô.
Thuổi nhỏ, ông được cha vô cùng yêu thương.
Nhưng đến năm 13 tuổi, cha ông đột ngột qua đời, gia đình rơi vào cảnh khốn khó.
Không lâu sau, một trận hòa hoạn đã thiêu dụi toàn bộ gia sản,
biến cậu bé sống trong nhung lụa thành một thiếu niên trắng tay.
Trong nghịch cảnh ấy, Cát Họng lập trí học hành, đỗ đạt và làm quan để khôi phục danh dự gia tộc.
Từ đó, dân làng thường thấy hình ảnh cậu bé áo vải đơn sơ, ôm sách đi khắp nơi.
Khi trưởng thành, ông còn từng ra trận nơi Biên Cương, là một tướng lĩnh quả cảm, quyết đoán.
Khi thời thế trở lại hòa bình, Cát Họng từ quan, ẩn cư nơi núi Non,
bắt đầu một trường mới, nghiên cứu y học, luyện đàn và tu đạo.
Tác phẩm y học nổi tiếng của ông, Bảo Phác Tử, không chỉ ghi chép thào dược và phương pháp chế thuốc,
mà còn mô tả hai liệu pháp điều trị.
Mãi mùa 1756 mới được khoa học công nhận và trao giải Nobel.
Đồng thời, ông cũng là người nâng tư tưởng tu tiên trong đạo giáo lên tầm cao mới,
đặt nền tảng cho hệ thống lý luận mà các thế hệ sau tiếp tục kế thừa.
Không chỉ lý thuyết, Cát Họng còn trực tiếp luyện đàn, tọa thiền,
thấu triệt âm dương ngũ hành và cuối cùng phi thăng giữa ban ngày,
trở thành chân tiên lưu danh sửa sách.
Năm 17 tuổi, ông gặp được người thầy đầu tiên và có ảnh hưởng sâu sắc nhất đời mình, Trình Ẩn.
Dù đã hơn 85 tuổi, Trình Ẩn vẫn cường tráng phi thường,
có thể bắn trăm phát trăm trúng và thích uống rượu.
Mỗi khi uống rượu, ông chờ cơ thể nóng lên rồi nhảy xuống hồ bằng lạnh giá,
lặn thật sâu rồi nổi lên như một cách gian luyện thể chất và tinh thần.
Tầm tù đạo của Cát Hồng vốn có cội rễ sâu xa.
Chú ông là Cát Huyền, một trong tứ đại trân sự đạo giáo,
được xếp ngang hàng với Trương Đạo Lăng, Hứa Huấn và Tả Thủ Kiên,
là những người bên cạnh Ngọc Hoàng Đại Đế.
Ông còn được tôn xưng là Thái Cực Tiền Ông.
Điều kỳ diệu là Trình Ẩn, thầy của Cát Hồng, lại chính là truyền nhân trực tiếp của Cát Huyền.
Mà Cát Huyền cũng từng học đạo từ một nhân vật kỳ bí hơn nữa, Tả Tư.
Đạo sĩ sống cuối thời Đông Hán, xuất hiện cả trong thiểu thuyết Tàm Quốc Diện Nghĩa.
Ông nổi danh với nhiều phương thuật kỳ dị, đến bức các trừ hầu cũng phải kiêng rè.
Một giải thoại nổi tiếng kể rằng, trong một bữa tiệc do Tào Tháo Bày Mưu hãm hại,
Tả Tư đã dùng một cọng cỏ mảnh cắt đôi chiếc chén rượu, mỗi nửa vẫn đầy rượu.
Uống hết cả hai phần, ông ném chén lên xà nhà, chén không rơi xuống mà lơ lửng giữa không trung,
rồi ông biến mất như làn khói tan vào hư không.
Chính dòng truyền thừa Tả Tư, Cát Huyền, Trình Ẩn, Cát Hồng,
đã tạo nên căn cờ đạo Pháp vững chắc cho ông,
biến ông thành nhân vật kiệt xuất của cả thế tục lẫn tiên môn.
Sau khi bái Trình Ẩn làm thầy, Cát Hồng từ bỏ ước mơ làm quan,
chuyên tâm cầu đạo, bắt đầu luyện đan, tìm thuốc trường sinh, băng rừng vượt suối để tìm dược liệu.
Trình Ẩn không chỉ dạy đạo mà còn dạy võ cho Cát Hồng.
Ban đầu, ông thắc mắc, tu đạo là để dưỡng sinh và trường sinh, sao lại học võ công sát sinh?
Trình Ẩn liền tiên đoán, thiên hạ sắp đại loạn, 4 năm nữa người sẽ thấy.
Quả nhiên, đến năm 303, thiền tài dữ dội, dân tình khốn đốn, nông dân khởi nghĩa.
Cát Hồng gia nhập quân đội, dùng tài trí và võ nghệ lập nhiều chiến công, được phòng làm phó ba tướng quân.
Sau khi dẹp loạn, ông được tấn huệ đế trọng dụng, gia tộc họ Cát càng hiền vinh.
Nhưng khi mọi người tưởng ông sẽ tiếp tục thang tiến, thì Cát Hồng lại tử quan,
chia hết bồng lộc cho đồng đội, cởi chiến bào quát đạo bào, bước vào con đường tu tiền cứu thế.
Ông nhận ra, nhập thế để bình thiên hạ, xuất thế để cứu thế nhân.
Nhiều năm chiến tranh khiến dân chúng lầm than, bệnh tật khắp nơi.
Ý niệm hành y cứu người trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng ông.
Đạo ra quan niệm, người tu tiên trước hết phải có sức khỏe, bởi chưa giữ được mạng sống thì khó nói đến trường sinh.
Những năm tháng theo trình ẩn, Cát Hồng được truyền thủ y thuật căn bàn, đặt nền tảng cho việc viết y thừ và cứu người sau này.
Về sau, Cát Hồng được người bạn thân là Cư Hàm, cháu nội của danh sĩ Cư Khang, chồng Thất Hiền Trúc Lâm mời đến Quảng Châu.
Nhưng trên đường, Cư Hàm bị kẻ thù chính trị sát hại, khiến Cát Hồng đau đớn như xét đánh ngang tay.
Từ đó, ông quyết định từ bỏ quan lộ hoàn toàn.
Nghe nói ở Quảng Đông có núi La Phủ được mệnh danh là Đông Phủ Thần Tiên, từng là nơi an thất sinh, đời tần hóa tiên, ông bèn tìm đến.
Năm 306, ở tuổi 23, Cát Hồng quyết định cư trú tại núi La Phủ, bắt đầu hành trình vĩ đại, viết sách, luyện đàn, hành y cứu người, tu đạo thành tiên.
Tại đây, ông kết giao cùng Bảo Lượng, thái thú Nam Hải, người mến mộ Đạo Pháp.
Bảo Lượng gả con gái là Bảo Cô cho ông, Bảo Cô thông tuệ, tinh thông y thuật, được ghi vào lịch sử như nữ danh y đầu tiên của Trung Hoa.
Khoảng năm 306, vợ chồng Cát Hồng Bảo Cô cùng ẩn cư tại núi La Phủ, vừa hành y cứu dân, vừa nghiên cứu y thuật và Đạo Pháp.
Người đời kính xưng họ là Cát Tiên Ông và Bảo Tiên Cô, cặp đôi y đạo nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Đông Y.
Nền năm 316, niền hiệu kiến hương thứ tư, Cát Hồng trở về cố hướng.
Sau khi nhà Đông Tấn được thành lập, Tấn Nguyên Đế Tư Mã Duệ nhớ đến công lao cũ, phòng cho Cát Hồng thước nội hầu và ban thường hàng trăm ước.
Triều Đình nhiều lần phái người mời ông tái xuất làm toan, nhưng ông kiên quyết từ chối, chọn ẩn cư trong núi, chuyên tâm tu đạo, luyện đàn và viết sách.
Nhiều tác phẩm của ông để lại ảnh hưởng sâu rộng đến hậu thế, đặc biệt trong lĩnh vực y học.
Một trong những di sản y học vĩ đại nhất của Cát Hồng là Cuốn Chầu Hậu Cấp Yêu Phương.
Được xem là cuốn sổ tay cấp cứu lâm sàng đầu tiên trong lịch sử y học Trung Hoa.
Không chỉ mang giá trị thực tiễn trong thời đại của ông, tác phẩm này còn để lại dấu ấn vượt thời gian, ảnh hưởng trực tiếp đến những bước ngoặt y học hiện đại tầm cỡ quốc tế.
Y Thư Nghìn Năm Đến Nobel Y Học Hiện Đại
Năm 2015, tại lễ trao giải Nobel Y Học ở Stockholm, Thụy Điển, nữ dược học gia Trung Quốc Đổ Ú Ú đã được vinh danh với công trình nghiên cứu tách chiết hoạt chất Artemisinin
từ cây thanh hoa hoa vàng, một loại dược liệu được ghi chép trong y thư cổ, trong đó có cả sách của Cát Hồng.
Phát hiện này mở ra hướng điều trị đột phá cho bệnh SOS-Z, cứu sống hàng triệu người trên toàn thế giới.
SOS-Z vốn là cạnh bệnh truyền nhiễm gây tử vong hàng đầu.
Việc phát hiện Artemisinin trở thành bước hoạt, bởi nó diệt ký sinh trùng ngay từ giai đoạn đầu, được chọn làm phác đồ tiêu chuẩn trong điều trị SOS-Z toàn cầu.
Hành trình tìm ra hoạt chất này không hề dễ dàng.
Trong một cuộc phỏng vấn, Đỗ Ú kể rằng chính một đoạn ghi chép trong Chầu Hậu Cấp Yêu Phương của Cát Hồng đã mang đến cho bà nguồn cảm hứng quan trọng.
Trước đó, nhóm nghiên cứu từng dùng phương pháp đun nóng bằng nước để chiết xuất thanh hào, nhưng kết quả không ổn định.
Sau khi đọc cổ thư, bà phát hiện đoạn ghi rằng dùng hai phần nước sống ngâm thanh hào, sau đó ép lấy nước mà uống.
Chi tiết này gợi ý rằng quá trình chiết xuất phải tránh nhiệt độ cao, từ đó nhóm chuyên sang dùng mồi có điểm sôi thấp và thành công.
Có thể hình dung rằng, từ thế kỷ thứ tư, giữa núi rừng xanh thằm, vợ chồng Cát Hồng Bảo Cô đã miệt mài luyện đan, báo chế thuốc cứu người.
Cát Hồng để lại rất nhiều trước tác, tổng cộng trên 500 quyền.
Về y học có Kim Quỹ Dược Phương 100 quyền, Thần Tiên Phục Thực Phương 10 quyền, Hàn Ngọc Tiễn Phương 5 quyền.
Trong đó, một phần của quyền Bảo Bọc Tử và Chầu Hậu Cấp Yêu Phương đối với y dược học Trung Quốc có công đóng góp rất lớn.
Tuy nhiên, ông nhận ra bộ sách lớn này tùy hữu ích cho nghiên cứu, nhưng khó để dân thường học hỏi và áp dụng.
Vì vậy, ông chọn lọc nội dung cốt lõi, viết lại thành phiên bản rút gọn 8 quyền mang tên Chầu Hậu Cấp Yêu Phương, nghĩa là phương thuốc mang theo bên mình để cấp cứu.
Cuốn sách phản ánh mục đích thiết thực, dễ trà cứu, dễ áp dụng, ghi chép nhiều phương thuốc dân gian từ thảo dược dễ kiếm, giúp người dân trong tình huống nguy cấp.
Nó thể hiện trọn vẹn tấm lòng nhân ái của một đạo sĩ, y gia, học giả, người dành cả đời không mang danh lợi, chỉ mong cứu người, truyền đạo, và để lại di sản vượt thời gian.
Ông viết, ở nơi thôn cùng xóm vắng, người bệnh không có thầy thuốc, có phương mà không có dược, những ai còn sống sót trong đau đớn, rút cuộc được mấy người.
Vì thế, ông dốc tầm tổng hợp tinh hoa y học cổ kim đưa ra những phương pháp giàn dị, dễ thực hành để cứu người ngay trong cảnh khốn cùng giữa sống và chết.
Sau khi ra đời, chầu hậu cấp yêu phương không chỉ được dân gian đón nhận nồng nhiệt mà còn được các danh y đời sau tiếp tục phát triển.
Danh y đào hoang cảnh, triều lương, bổ sung thêm 101 phương thuốc, đổi tên thành Bổ khuyết Chu Hậu Bách Nhất Phương.
Hơn 900 năm sau, danh y dưng dụng đạo thời tống lại triệt lục, thêm phụ phương, đặt tên Phục Quảng Chu Hậu Phương.
Đến thời Minh Thanh, sách này vẫn lưu truyền với hơn 10 phiên bản khác nhau.
Chúng ta không thể thống kê chính xác chầu hậu cấp yêu phương đã cứu sống bao nhiêu sinh mạng, nhưng rõ ràng một cuốn sổ tài y học cấp cứu có thể vượt qua hơn 1.000 năm lịch sử,
vẫn còn giá trị ứng dụng và thậm chí dẫn đến giải Nobel y học năm 2015.
Thì bản thân Cát Hồng hẳn khi còn sống cũng không bao giờ tưởng tượng nổi.
Thậm chí những gì ông viết trong sách còn liên quan đến một giải Nobel khác.
Năm 1928, bác sĩ người Pháp Charles Nicolle đã nhân giải Nobel y học nhờ phát hiện con đường lây lan cô bệnh thường hản Phát Ban,
một bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm từng gieo rác nỗi sợ hãi khắp châu Âu và châu Á.
Từ sa thị độc đến bệnh dạy, bí ẩn trong y thư cổ của Cát Hồng.
Nhưng điều kinh ngạc là hơn 1.700 năm trước, Cát Hồng đã bố tà chính xác căn bệnh này trong chầu hậu cấp yêu phương.
Ông gọi nó là sa thị độc hoặc dạng trùng bệnh.
Ghi chép rằng, dù trên núi hay dưới nước đều có loài trùng cực nhỏ, mặt thường khó thấy.
Khi bám vào người, nó sẽ chui vào da thịt, giết người vô hình.
Ông còn bố tà triệu chứng, suốt cào, đong dứt, sau 3 ngày xuất hiện bàn đỏ, loét da, lây lan nhanh.
Phương pháp điều trị, dùng kim lấy trùng ra, sau đó đắp tỏi nóng để sát quần, ngăn nhiễm trùng.
Sự chính xác đến kinh ngạc trong bố tà ấy cho thấy người xưa không chỉ nhận biết bệnh truyền qua ký sinh trùng mà còn có cách cấp cứu kịp thời.
Có lẽ vì vậy mới có câu chào cổ, biệt lai, vô dạng, nghĩ là lâu rồi không gặp,
hy vọng không mắc bệnh dạng trùng, phản ánh nỗi ám ảnh của căn bệnh trong lịch sử trung nguyên.
Không dừng ở đó, ông còn bố tà nhiều căn bệnh mà hậu thế liên tường đến lao phổi và bệnh dại.
Về bệnh dại, ông viết,
Người bị chó điên cắn sẽ sợ nước, nghe tiếng nước chảy hay nghĩ đến nước cũng phát cơn co giật.
Đây chính là bệnh dại mà Y học hiện đại xác nhận.
Một khi phát bệnh, tỷ lệ phát bệnh gần như 100%.
Phương pháp mà ông đề xuất, giết con chó dại, lấy não đắp vào viết cắn,
tuy thô sơ nhưng có phần tương đồng với nguyên lý vaccine hiện đại.
Cát Hồng vẫn để lại kho tàng kiến thức y rực khổng lồ.
Sự nghiệp chính của ông là tu đạo, luyện đàn và triệt lý.
Các tác phẩm như Thần Tiên Truyện, Bảo Pháp Tử đặt nền móng lý luận cho đạo giáo Tù Tiên,
có phần đưa đạo giáo phát triển rực rỡ, ngang hàng với Phật giáo trong lịch sử Trung Hoa.
Ở tuổi 35, với khát vọng để lại hệ thống học tuyết riêng,
ông biên soạn Bảo Pháp Tử, triết thành Nội Thiên 20 quyền, Ngoại Thiên 50 quyền.
Nội dung bao chủng triết học, dưỡng sinh, y học, quân sự, thể dục được mệnh danh là Tiểu Đạo Tàng.
Trong Ngoại Thiên, ông bàn thế sự, bình luận nhân vật lịch sử,
khảo cứu quy luật hương vong của chiều đại và tự nhận mình thuộc Nho Gia.
Còn trong Nội Thiên, ông tổng hợp phương pháp luyện đàn, Tù Tiên, dưỡng sinh
và khẳng định bản thân thuộc về Đạo Gia.
Ngay ở quyền đầu tiên của Nội Thiên, mang tên Sướng Nguyền, Cát Hồng khẳng định
nguyên đạo là khỏi nguyên của tự nhiên, là căn nguyên của vạn vật,
tồn tại khắp nơi nhưng ít ai có thể lấy ngộ.
Cát Hồng chia người tu đạo thành ba cấp độ.
Khi luận về việc tu đạo, ông đã nhận định người tu có ba cấp độ.
Cấp độ cao nhất là những người đã đắc đạo thành tiên.
Họ siêu việt, thần bí, có thể cưỡi ánh sáng sao trời,
dù hành các vũ trụ, hấp thụ tinh hòa nhật nguyệt giữa tầng mây,
nhấm nháp khí thiêng trời đất trong ánh hoàng hôn.
Đó là canh giới của những vật đã thực sự thấu triệt huyền đạo.
Cấp độ thứ hai là những vật chân trí túc, tức là những người biết đủ.
Họ không bằng danh lợi, lạng lẽ sống gần cư nơi núi rừng thâm sâu.
Dù nghèo khổ, rách dưới, nhưng vẫn giữ khí tiết hào sàng,
đạo đức vẹn toàn và ý chí sắt đá.
Dù bị phỉ bán hay chém đầu cũng không giao động.
Cấp độ thứ ba là phần đông thế nhân, những người mê muội,
chạy theo danh lợi, sống cuộc đời vô định,
lãng phí cả thân xác lẫn linh hồn mà không rõ mình tồn tại vì điều gì.
Vậy những tiên nhân mà Cát Hồng nói đến liệu có thật sự tồn tại?
Câu trả lời của ông trong luận tiên là chắc chắn có.
Ông phản bác bằng cách đặt câu hỏi ngược.
Người chưa từng tu tiên sao dám nói trên trời này không có thần tiên.
Cũng như kẻ chưa từng ra đường ban đêm thì tưởng rằng đêm không có ai cả.
Người ngu muội thì không tin có thánh nhân như tru công, không tử.
Chẳng cách nào kẻ điếc không nghe được sống, kẻ mù không thấy mặt trời.
Con người dù có thính lực hay thị lực tốt đến bấy cũng không thể nghe thấy
và nhìn thấy hết vạn vật trong vũ trụ.
Vậy tại sao lại phủ nhận rằng thuật trường sinh, phép tu tiên là không thể có?
Trong báo Pháp Tử, Cát Hồng còn phân loại tiên nhân thành 3 bậc.
Thiên tiên, địa tiên và thần tiên.
Trong đó thiên tiên là cấp bậc cao nhất.
Người đắc đạo khi còn sống có thể mang thân phàm mà bay lên trời giữa ban ngày.
Đó là canh giới kết hợp hoàn bỉ giữa linh hồn và thể xác, hòa nhập cùng vũ trụ vô biên.
Với trí tuệ vượt thời đại, Cát Hồng đã để lại một hệ thống tư tưởng vừa thâm sâu, vừa thực tiễn, vừa siêu hình.
Giúp hậu thế không chỉ trị bản cứu người mà còn mở rộng tầm nhìn về cội nguồn,
ý nghĩa và mục đích của đời sống con người.
Canh giới cao nhất trong đạo giáo mà ông luôn hướng đến chính là cùng nhau thành tiên.
Điều đặc biệt là Cát Hồng không chỉ tin vào sự tồn tại của tiên nhân mà còn khẳng định rằng bất kỳ ai cũng có thể thu thành thần tiên.
Chính vì vậy, ông viết riêng tác phẩm Thần Tiên Chuyện,
ghi chép tiêu sử của 92 vị tiên nhân từ thời Thượng Cổ đến Tần Hán.
Tất cả đều là nhân vật có thật trong lịch sử.
Dù ngày nay Thần Tiên Chuyện được xếp vào loại tiểu thuyết trí quái,
nhưng vào thời Cát Hồng đây là một tác phẩm tiêu sử nghiêm túc,
ghi lại quá trình các bậc tiên bối tu luyện để đắc đạo thành tiên.
Ông kể lại rằng Trường Đạo Lăng từng luyện thành tiên đan nhưng không uống ngay,
bởi nếu uống, ông sẽ phi thang lên trời, không thể tiếp tục giúp đời.
Vì thế Trường Đạo Lăng đã chọn ở lại thế gian,
giúp nước, cứu dân, dẹp loạn an dân.
Chỉ đến khi đất nước thái bình, ông mới lựa chọn phi thang.
Đây chính là tinh thần vị thà đặc trưng của Đạo Gia.
Cát Hồng đúc kết ra rằng, nếu không hành thiện thì tu đàn cũng vổ ích.
Ông viết, muốn làm đại tiên phải hành thiện 300 đời,
muốn làm thiên tiên phải hành thiện đến 1.200 đời.
Chỉ một việc ác cũng đủ xóa sạch công đức trước đó.
Điều này lấy dài vì sao?
Tân Thủy Hoàng hay Hán Vũ Đế dù cả đời truy tìm tiên dược,
cuối cùng vẫn không thoát khỏi cái chết.
Khi chỉ tu ngoại pháp mà quên tu nội tâm,
tham quyền cố vị trái với đạo.
Cuối đời, Sẹch Lạc Phủ Ký chép rằng,
Ông sống đến 61 tuổi.
Còn Tấn Thư, vì là năm ông 80 tuổi,
đột nhiên gửi Thư tới thướng sử nghiệm trầu tên Đạng Nhạt,
nói rằng muốn đi xa tìm Thầy, thời gian đã quyết định.
Đạng Nhạt vội vãn chạy tới cáo biệt,
nhưng không kịp gặp lần cuối.
Cát Hồng ngồi đà tọa tới giữa trưa,
và từ từ nhẹ nhàng ly khai trần thế.
Ông chạy tới nhìn sắc mặt thì giống như khi sống,
thân thể rất mềm,
khi đưa vào quan tài thì nhẹ nhàng như chỉ còn một quần áo.
Dù việc tu tiên thành thần có thể khiến hậu thế cảm thấy huyền hoặc,
nhưng cậu thế phủ nhận rằng suốt cuộc đời mình,
Cát Hồng đã sống trọn vẹn với chiếc lý thiền nhân hợp nhất của đạo gia.
Khi thời gian loạn lạc thì xuất thế cứu đời,
lúc yên bình thì ẩn thân dưỡng đạo,
tiến thì làm tướng giúp nước,
lùi thì làm thầy thốt cứu dân.
Nếu không thể làm tề tướng thì cũng xin nguyện làm lường y.