Tháng Giêng năm 1285, 500.000 quân Nguyên – đội quân đông đảo nhất từng được một đế chế trung cổ huy động – ồ ạt tràn xuống Đại Việt. Dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan, A Lý Hải Nha, Lý Hằng và Ô Mã Nhi, mục tiêu của chúng là Vạn Kiếp – nơi hợp tụ của bốn dòng sông, đại bản doanh chiến lược của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Vạn Kiếp không chỉ là căn cứ quân sự, mà còn là thành lũy thiên nhiên, điểm tựa cho toàn bộ thế trận kháng Nguyên. Nhưng trước sức mạnh áp đảo của đạo quân nửa triệu, phòng tuyến nhanh chóng sụp đổ. Đại Việt đại bại, thành lũy Vạn Kiếp bị hủy diệt, và khói lửa bao trùm khắp Lục Đầu.
Song thất bại ấy không đồng nghĩa với kết thúc. Hưng Đạo Vương cùng triều đình đã bảo toàn chủ lực, đưa hai vua thoát khỏi vòng vây và chuyển dịch chiến trường về vùng đồng bằng. Từ tro tàn Vạn Kiếp, một cuộc kháng chiến trường kỳ bắt đầu – nơi ý chí, trí tuệ và lòng dân Đại Việt đã xoay chuyển lịch sử. #toiyeubinhduong#riseup#toiyeushenyun#vanhoatruyenthong
Vạn Kiếp, cái tên đã đi vào huyền thoại, không chỉ là một vụn đất.
Nơi đây là một kỳ công của Tạo Hoa, nơi núi rừng và sông nước giao hòa,
nơi bốn dòng sông lớn, sông Thương, sông Cầu, sông Lục Nam và sông Đuống cùng hội tụ,
để đổ về mạch chính của sông Hồng.
Địa thế này không chỉ là một kỳ quan thiên nhiên,
mà còn là một điểm tựa chiến lược bậc nhất của nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống nguyên.
Ai nắm giữ Vạn Kiếp, kẻ đó khống chế toàn bộ huyết mạch giao thông
từ miền biên viễn phía bắc về thẳng Kinh Thành thẳng lòng.
Từ đây quân đại Việt có thể cơ động thủy binh,
ngược dòng để đánh lên biên giới hoặc xuôi dòng để bảo vệ Kinh Thành.
Không phải ngẫu nhiên mà hương đạo Vương Trần Quốc Tuấn chọn Vạn Kiếp làm đại bản doanh,
nơi tích chữ lương thảo, vũ khí và tập trung binh lực cho toàn quốc.
Để biến nơi hiểm yếu này thành một pháo đại bất khả xâm phạm,
quân Trần đã dựng lên những lưới tre vững chài, đào hào nước, cắm trông ngầm
và bố trí hệ thống nọ liên châu trên bờ.
Trên mặt sông, những đoàn thuyền chiến, trang bị hỏa pháo, hỏa tiến,
sẵn sàng phóng ra những trận mưa lửa để chặn bước kẻ thù.
Địa hình sông nước phức tạp với những khu quanh,
những vùng nước nông sâu sen kẽ,
được tận dụng triệt để, để bẻ gãy đội hình đổ bộ của quân Nguyên.
Vạn Kiếp, trong mắt người đại Việt,
không chỉ là căn cứ, mà là một thành lũy thiên nhiên,
một lá chắn cuối cùng của kinh sự.
Thế nhưng cũng chính vì tầm quan trọng ấy,
Vạn Kiếp trở thành mục tiêu hàng đầu trong kế hoạch xâm lược của đế chế Nguyên.
Trên ván cờ chiến tranh năm 1285,
cả hai bên đều dồn những con bải mạnh nhất của mình vào Vạn Kiếp.
Phía Nguyên Mông, cánh quân chủ lực do thoát hoan,
con trai hốt tất liệt, trực tiếp chỉ huy.
Đây là đảo quân đông đảo nhất,
được trang bị tinh nhuệ,
bao gồm hàng chục vạn kỵ binh, bộ binh,
cùng những tướng lĩnh thiện chiến từng dày dạng chinh chiến khắp Á-Âu.
Dưới trướng, thoát hoan là những cái tên đáng gợm.
A Lý Hải Nha, viên tướng Mông Cổ nổi tiếng tàn bảo.
Lý Hằng, viên quan hán có tài thao lược,
am hiểu thủy chiến,
và Bột La Hợp Đáp Nhĩ, một danh tướng thiện nghệ,
từng lập nhiều công trạng cho Triều Nguyên.
Kế hoạch ban đầu của quân Nguyên không chỉ dừng lại ở đó.
Từ phía Vân Nam, tướng Nạp Tốc Lạt Đinh,
cũng dẫn một đảo quân lớn vượt núi Tiến vào Đại Việt,
theo hướng Tuyên Quang,
với mục tiêu hợp vây vạn kiếp từ phía Tây Bắc.
Trên biển, thủy quân do Ô Mã Nhi thống lĩnh,
xuất phát từ Quảng Đông, Quảng Tây, vòng qua Biển Đông,
để tiến vào cửa ngõ Sông Hồng,
nhằm khóa chặt toàn bộ đường thủy.
Nếu đúng như kế hoạch,
vạn kiếp sẽ bị kẹp trong một vòng vây từ ba phía,
Bắc, Tây, Đông Nam,
một cái bẫy khổng lồ không lối thoát.
Phía Đại Việt,
người đứng mũi chiều sao là hương đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Ông không chỉ là danh tướng kiệt xuất,
mà còn là linh hồn của cuộc kháng chiến.
Người đã từng bước xây dựng thế trận,
lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạch.
Dưới trướng, ông là những đội quân tinh nhuệ,
từ thủy binh lục đầu đến kỵ binh đồng bằng,
và những cánh dân binh địa phương sẵn sàng hy sinh.
Các tướng nhà Trần, như Trần Nhật Duật,
người am hiểu tiếng nói và phong tục miền núi,
chấn giữ vùng tuyên quang để ngăn đảo Vân Nam.
Hay Trần Bình Trọng, anh hùng trung liệt,
đóng vai trò chặn địch ở tuyến sao thiên mạc,
đều là mắt xích trong toàn cuộc kháng chiến.
Chiến lược của Thoát Hoan rất rõ ràng,
đánh thẳng vào vạn kiếp, tiêu diệt chủ lực nhà Trần,
buộc triều đình đầu hàng chỉ trong một chiến dịch ngắn hạn.
Đây là cách đánh quen thuộc của người Mông Cổ,
dùng sức mạnh áp đảo để bẻ lưng đối phương,
không cho có cơ hội hồi phục.
Bên kia, một giải cờ hiệu đỏ sẫm nhô lên từ xương.
Tiếng chống trận, mõ ngựa đuổi nhau dọc bờ.
Sau khi chuỗi thèn khả lý nội bàng,
chi lăng bị bẻ gãy,
đồng bằng kinh bắc mở phơi trước vó ngựa.
Và ngay chính giữa,
vạn kiếp sừng sững như mũi thuyền cắm vào sóc.
Ngày 6 tháng Giêng năm Ất Dậu,
tiếng chống trận của Quân Nguyên đã dội vang mặt nước,
báo hiểu cuộc tấn công dồn dập vào vạn kiếp
nửa triệu binh má,
cùng với thủy quân khổng lồ
do Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào phả lại
hỏng xé toảng tấm lá chắn sông nước của Đại Việt.
Trên bờ, tướng quân Trần Khánh Dư đã bày sắn thế trận,
từng được giao trọng trách trấn giữa vùng Vân Đồn,
nhưng khi thủy quân Nguyên đi theo đường khác,
ông đã kịp thời trở về vạn kiếp theo lệnh của Hưng Đạo Vương.
Tại đây, ông chia quân làm hai cánh,
một cánh do Đằng Trứ chỉ huy dựa vào núi đá,
dùng cung tên và đá tàng cán bước tiến,
trong khi cánh quân còn lại do Lưu Văn Các đầu lính ẩn mình
sau những bãi lao sệ ven sông,
chờ thời cơ để giáng đoạn quyết định.
Dưới mặt nước,
những chiếc thuyền lớn của quân Nguyên ảo ạt tràn tới.
Nhưng sông hẹp,
thuyền giặc đi hàng bốn, hàng năm, va vào nhau
và trở thành mục tiêu cho những mũi tên từ bờ.
Trần Khánh Dư tung thuyền nhỏ ra khiêu chiến,
như chiến thuyền lớn của Giặc và Bài Cạn.
Khi thuyền Nguyên xa lẩy,
các chiến binh Đại Việt từ trên bờ hào xuống,
giết lính Giặc và đốt cháy ba chiến thuyền,
dáng một đòn mạnh vào sỉ khí của chúng.
Khi hoàng hôn buông xuống,
quân Nguyên đã chiếm được Phạ Lạc.
Nhưng cuộc chiến dưới sông vẫn chưa ngã ngũ.
Trong lúc rằng co,
nửa đêm,
Yết Kiêu dẫn đội Kỳ Ngư xuất trận.
Giữa đêm tối như hụ nút,
mưa rơi nhòe mặt sông,
cái rét căm căm khiến lính Giặc lơ là phòng bị.
Các chiến binh mình đồng ra sắt,
bất chấp cái lạnh buốt,
lặn xuống nước,
ngâm ống thở,
tiếp cận thuyền địch.
Bằng sự táo bạo và tinh vi,
họ đục thủng đáy thuyền,
nhấn chìm năm chiến thuyền cùng hàng trăm sinh mạng.
Cả đội của Yết Kiêu trở về an toàn,
mang theo chiến công đầu tiên của lòng dũng cảm.
Sự thất bại đã khiến Ô Mã Nhi lồng lộn.
Cuối canh tư,
y dẫn hai ngàn tinh binh càn quét dọc bờ sông,
phát hiện ba thuyền nhỏ của đội Kỳ Ngư.
Dù không kịp chạy,
các chiến binh vẫn dũng cảm chiến đấu,
buộc phải nhảy xuống nước thoát thân.
Mười hai chiến sĩ bị giết
và ba người bị bắt sống.
Khi bị lôi về trái,
thấy trên cánh tay mỗi người đều thích chữ xa thát.
Ô Mã Nhi điên tiếc,
da lịnh lột từng mảnh da thịt của họ.
Nhưng không một lời giên diện,
những tráng sĩ Đại Việt vô danh đã mở lớn mắt,
thu tròn hồn sông nước khi bước vào cõi bất tử,
khiến lính Mong Tháp phải dùng mình kinh sở.
Sau thất bại ở Phà Lại,
Yết Kiêu
và những người sống sót trở về trình diện Nhân Huệ Vương.
Nhân định tình thế,
Nhân Huệ Vương quyết định rút quân.
Bộ binh và kỳ binh vượt dừng lên núi Trí Linh,
đoàn thuyền ngược dòng Lục Nam,
để lại một trận địa chống cho giặc.
Yết Kiêu sau đó tiếp tục buôn ba đánh giặc,
trở thành một huyền thoại về lòng trung thành.
Trong một trận giao tranh khác tại mặt trận Lưu Thôn,
tướng Quốc Nghiễn đã bày một trận địa mai phục đẩy hiếm ác.
Ông Nhữ Vạn Hộ nghe nhuận vào bẫy
bằng cách cho hai tiểu tướng Tuấn Thỏ và Nguyễn Hòa ra khiêu chiến.
Khi quân nguyên chia làm hai ngã để truy đuổi,
Nguyễn Hòa bị một mũi tên của giặc bắn chúng.
Hưng Vũ Vương lập tức sông ra giải cứu.
Quân nguyên không thể phá được hàng rào trúc dày đặc,
bị mắc kẹt.
Từ bên trong,
tên và che vót nhọn bắn ra như mưa,
khiến chúng thương vong vô số và phải tháo chảy.
Nghi nhuận,
ở một hướng khác,
đuổi theo Tuấn Thỏ vào một khe núi hẹp.
Bất ngờ,
hàng loạt mũi tên từ sườn núi bay ra,
hạ gục toán kỵ binh đi đầu.
Khi giặc tháo chảy,
Tuấn Thỏ quay đầu phản công.
Nghi nhuận mở đường máu thoát thân,
nhưng bị Tuấn Thỏ truy đuổi,
đâm ráo xuyên bụng,
tử trận.
Ở các hướng khác,
quân của Thoát Hoan,
A Lý Hải Nha
và Lý Hằng
tiến quân thuận lợi.
Quân ta chủ động rút lui theo chiến thuận cuốn chiếu.
Đội hình sau yểm trợ cho đội hình trước,
cứ thế rời khỏi các vị trí,
để lại những trận địa chống không cho rạc.
Rạng sáng,
Thoát Hoan tràn vào.
Vạn kiếp rơi nhanh như kịch bản đặt sẵn.
Cờ nguyên phấp phới trên những bờ lũy cháy,
tiếng vó ngựa sới tung bái bồi lục đầu.
Sau khi chiếm vạn kiếp và phả lại,
Thoát Hoan lập đại bàn doanh
và triệu tập tướng lĩnh bàn kế hoạch truy kịch.
Ông giao Ô Mã Nhi cùng Nạp Hải
đem hai vạn thủy quân
tiến xuống bình than A Lý Hải Nha
chặn đường bộ.
Khoan triệt phối hợp và thu vét lương thực,
Lý Hằng tiến ra vùng ven biển.
Mục tiêu là bao vây,
giết gọn và bắt được Vua Trần.
Trong khi đó, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông
và Vua Trần Nhân Tông hội quân
cùng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải
ở Nam Sách
tập hợp 10 vạn quân
và hàng trăm thuyền chiến.
Đúng lúc ấy,
Quang Khải nhận được thư mật từ Hưng Đảo Vương,
chủ động rụ rạc về xuôi,
kéo chúng tới các đầm bãi,
rừng go dọc sông Nhị Hà.
Không tổ chức đánh lớn,
chỉ dùng lực lượng nhỏ quấy phá,
chọc sườn,
tập hậu địch quân,
còn chủ lực thì rút theo đường thủy
để bảo toan lực lượng.
Chiêu Minh Vương liên vạch kế hoạch rút quân
về Đông Ngàn và Nhị Hà,
nơi đã chuẩn bị cọc ổ và thuyền chiến
ở Đông Bổ Đầu.
Nhờ vậy, Vua Tô Nhà Trần
thoát khỏi thế gọng kiếm,
lực lượng vẫn bảo toan,
chiến trường dịch chuyển khỏi vùng Đông Bất.
Ô Mã Nhi và Nạp Hải khởi binh truy kích
nhưng khi đến Nhị Hà,
trong tình thế rằng co,
triều đình Đại Việt cử đỗ khắc chung
ra làm xứ giả cầu hòa
để thăm dò kế hoạch quân giả.
Thế nhưng những bước đi ấy
mới chỉ là khởi đầu cho một ván cờ lớn.
Trong biển lửa và khói súng,
nước cờ rút lui bằng đường thủy
đã giữ chọn hồn mạnh sông núi.
Vạn khiếp rơi,
nhưng quân chủ lực vẫn nguyên vẹn,
hai vua còn an toàn.
Ngọn cờ Đại Việt
vẫn tung bay trên những chiến thuyền ngược dòng.
Gòng kim tưởng trừng khép chặt của thoát hoan
được rốt cuộc chỉ ôm vào khoảng trống,
để lại trong tay hắn bãi chiến trường cho tàn
cùng những dấu vết mơ hồ
của một đảo quân đã tan biến vào sông núi.
Phía trước,
đông bộ đầu sừng sững như bức thành lũy
chắn ngăn cửa ngõ Thăng Long.
Đại quân Nguyên,
dù kỵ binh hùng mạnh,
thủy binh đông đảo,
giờ hóa gã không lồ lạc bước giữa đầm lầy,
nặng nẻ mà bất lực.
Còn Đại Việt,
tuy phải bỏ đất lùi quân,
nhưng bằng mưu lược và sự kiên trì
đã xoay chuyển chiến trường về đồng bằng,
nơi mà ý chí quyết tử, trí tuệ
và lòng dân
sẽ còn thử thách đảo quân xâm lược hùng mạnh nhất phương Bắc.