"#CDMedia#quansu#chientranhvietnam Họ sinh ra ở phương Tây, từng là lính Lê Dương, thậm chí là kẻ thù. Nhưng rồi, họ cầm súng chiến đấu vì Việt Nam, hiến dâng cả tuổi trẻ cho lý tưởng tự do. Đây là câu chuyện về những người nước ngoài đã trở thành anh hùng trên đất Việt – những “người Việt Nam mới” ----------------------------- 📋 ""CDMedia - Quân sự"" là một nền tảng chuyên sâu kết nối những kiến thức và thông tin xoay quanh lĩnh vực quân sự. Dựa trên các nguồn đáng tin cậy từ nhiều phía, kênh mang đến cho khán giả một cái nhìn đa chiều về các chiến lược quân sự, công nghệ quốc phòng từ quá khứ tới hiện đại.
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua: - STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường - Momo: 0393331668"
Trong buộc phim Avatar của đạo diễn James Cameron, nhân vật chính Jack Shirley, vốn là một con người, nhưng đã đứng lên chống lại chính đồng loại của mình.
Anh ta làm vậy để giúp những người bản địa bảo vệ quê hương của họ. Vì Jack nhận ra, đó mới chính là lẽ phải.
Câu chuyện như vậy tưởng chừng chỉ có trên phim, nhưng thực tế lại có thật và xảy ra ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta.
Có những người tuy không chung dòng máu, không cùng màu da, nhưng đã chiến đấu vì độc lập tự do của nhân dân ta, đất nước ta.
Và sau đây là câu chuyện về những người Việt Nam mới.
Chúng ta hãy bắt đầu câu chuyện của những người Việt Nam mới với người đời ông này.
Kostas Sarantidis – Nguyễn Văn Lập
Ông sinh vào năm 1927 tại thành phố Ven Biển, Thessaloniki, Hy Lạp.
Cuộc đời của Kostas Sarantidis là một hành trình phi thường, từ một thanh niên Hy Lạp bị bắt làm lao động khổ sai,
đến một người lính cách mạng, cộng hiến tròn đời cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Năm 1943, khi mới 16 tuổi, ông bị quân Pháp Siêu Đức bắt đi khỏi quê hương của mình.
Những năm tháng cơ cực trong các trại lao động khổ sai sau đó đã hùn đúc cho người thanh niên một tinh thần phản kháng,
ý chí đấu tranh cho công lý và tự do mạnh mẽ.
Sau khi Trên tranh thế giới thứ hai kết thúc, vào đầu năm 1946, Kostas bị bắt gia nhập quân đội Lê Dương của thực dân Pháp,
được đưa sang Đông Dương dưới vò bọc giải giáp quân Nhật.
Nhưng khi đạt chân tới giải đất hình chữ S, ông mới nhận ra rằng mình đã bị lừa.
Chẳng có quân Nhật nào ở đây cả, mà chỉ toàn là những cảnh áp bức, bóc lột mà quân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam.
Mang trong mình tinh thần dân tộc của người Hy Lạc, vốn đã trải qua bao cuộc đấu tranh chống ngoại xâm,
Kostas không cam tâm trở thành công cụ của kẻ xâm lược.
Tháng 4 năm 1946, sau khi được một người nữ gián điệp của ta trong hàng ngũ linh Pháp kể về những người đang đứng lên đấu tranh để giải phóng đất nước,
Kostas đã quyết định đào ngũ, gia nhập Việt mình.
Kể từ đó, cuộc đời ông càng bó trọn vẹn với sự nghiệp kháng chiến và bảo vệ tổ quốc Việt Nam.
Từ năm 1946 đến 1952, Nguyễn Văn Lập tham gia chiến đấu tại nhiều đơn vị khác nhau.
Từ cấp tiểu đoàn đến trung đoàn, lập nhiều chiến công xuất sắc trên chiến trường Liên Khu 5.
Ông là một chiến sĩ dũng cảm mang tinh thần quốc tế cao cả, góp phần vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp.
Trong giai đoạn 1953-1954, Nguyễn Văn Lập được giao nhiệm vụ làm Tổng Giám thị trại tù hàng binh số 3 của Liên Khu 5.
Với sự thấu hiểu sâu sắc về đường lối nhân đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ông đã đối xử khoan dung với tù binh và hàng binh, giúp họ nhận thức gió bản chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh sâm lửa.
Nhờ đó, nhiều lính Pháp đã quay sang ủng hộ chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Sau Hiệp định Geneva được ký kết vào năm 1954, Nguyễn Văn Lập tập kết ra miền Bắc,
tiếp tục tham gia công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong nhiều vai trò khác nhau.
Dù ở đâu, vị trí nào, Nguyễn Văn Lập luôn tận tâm công hiến và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được ra.
Năm 1965, ông cùng vợ, một người phụ nữ Hà Nội và các con trở về Hy Lạp để chăm sóc người mẹ già.
Dù phải rơi xa mảnh đất hình chữ S, nhưng trái tim của ông luôn hướng về quy hương thứ hai.
Tại quê nhà, Nguyễn Văn Lập gia nhập Đảng Cộng sản Hy Lạp và trở thành câu nối quan trọng giữa hai đảng,
hai chính phủ, cũng như các tổ chức, đoàn thể, góp phần vươn đắp mối quan hệ hữu nghị bền chặt giữa hai quốc gia.
Với tinh thần gắn bó sâu sắc với Việt Nam, ông đã có nhiều đóng góp thiết thực,
từ vận động thành lập Hội Việt Kiều từ Hy Lạp, khuyến kích cộng đồng hướng về Tổ quốc,
đến kêu gọi quên góp, củng hộ đồng bào mỗi khi Việt Nam gặp thiên tai, dịch bệnh,
giúp đỡ người nghèo và nạn nhân chất đồng hồ gia cả.
Không chỉ vậy, Nguyễn Văn Lập còn ghi lại những ký quý giá qua hai tập hội ký
và ở một trại tù binh Nam Việt Nam.
Những tác phẩm này không chỉ kể lại câu chuyện đời,
mà còn là lời chứng sống động về cuộc đấu tranh ngang dũng của nhân dân Việt Nam.
Những công hiến không biết mệt mỏi của Nguyễn Văn Lập cuối cùng đã được Đảng,
Nhà nước và nhân dân Việt Nam ghi nhận khi vào năm 2010,
ông chính thức được công nhận quốc tịch Việt Nam.
Chưa dừng lại ở đó đến ngày 30 tháng 8 năm 2013,
nhà nước Việt Nam còn phong tặng ông danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ngay hay từ tháng 6 năm 2021, Kostas Sarantidis Nguyễn Văn Lập
qua đời tại quê hương Hy Lạp, để lại niềm thích thương vô hạn trong lòng nhân dân Hải nước.
Đến đầu tháng 8 năm 2022, sau gần 60 năm rơi sang quê hương thứ hai của mình,
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Kostas Nguyễn Văn Lập
đã trở về yên nghỉ bên những người đồng đội tại Nghĩa Trang quận khu 5.
Sinh ra bên bờ biển địa trung hải đầy nắng gió,
nhưng tuổi thanh xuân của Nguyễn Văn Lập lại gắn liền với những tháng năm đầy oanh liệt
trên mảnh đất Việt Nam xa xôi.
Ông đã sống và chiến đấu như một người anh hùng thực thụ,
khiến dân cả cuộc đời cho lý tư cách mạng,
để rồi tên tuổi mãi trở thành nguyên thoại.
Không chỉ riêng Nguyễn Văn Lập, nhiều chính sức đến từ phương Tây khác
cũng đã xem Việt Nam như quê hương thứ hai của mình,
coi cuộc kháng chiến giành độc lập của đất nước này như chính lý tưởng của bản thân.
Một trong số đó là Werner Schulze, Nguyễn Đức Việt.
Từ một hàng binh người Đức bị bắt phục vụ cho quân đội Lê Dương của Pháp,
ông đã chọn đứng về phía chính nghĩa, công hiến tài năng
và cả mạng sống cho cách mạng Việt Nam.
Chứng kiến sự tan bạo của thực dân Pháp,
Schulze ngày càng chán ghét chiến tranh xâm lược và khinh miệt của đội Pháp.
Lực lượng bị ông nhận xét là không có tinh thần chiến đấu.
Năm 1946, từ mặt trận Nam Trung Bộ, Schulze quyết định trốn sang hàng ngũ Việt mình.
Nhận thấy năng lực của trang tranh người Đức,
quân đội Việt Nam đã đưa Schulze ra Bắc và giao nhiệm vụ tại xưởng quân giới quân khu 2,
nơi tập trung những người thợ giỏi nhất trong ngành chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến.
Tại đây, ông được chính chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho cái tên Việt Nam là Nguyễn Đức Việt
để biểu thị cho tình hữu nghị giai dân tộc Việt Nam và Đức.
Dù khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế,
nhưng ông vẫn nhanh chóng chứng tỏ tài năng vượt trội trong lĩnh vực kỹ thuật.
Nguyễn Đức Việt đã tạo ra một bước đột phá khi ứng dụng thành công công nghệ dập
để chế tạo lưu đạn chống tăng AT, góp phần nâng cao năng lực sản xuất vũ khí cho quân đội Việt Nam.
Nhà nghiên cứu kỹ thuật và cục quân giới đều ghi nhận đóng góp to lớn của ông trong thành tựu đó.
Bởi khi ấy, ngay cả những người thầy lành nghề cũng gặp không ít khó khăn với kỹ thuật này.
Sang năm 1949, khi Ban Nghiên cứu Không quân ra đời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Văn Nguyên Giáp đã chỉ đạo mở hai lớp huấn luyện phi công.
Người trực tiếp giảng dạy về kỹ thuật bay không ai khác chính là Nguyễn Đức Việt.
Những học viên tham gia khóa huấn luyện ấy sau này vẫn nhớ mãi một kỷ niệm đặc biệt.
Hôm đó, khi thầy Việt đang say sửa giảm bài,
người dưới lớp bông vang lên tiếng cười khúc khích.
Thấy mọi người mất tập trung nghe rằng ông chỉ nói một câu duy nhất.
Hay nhớ, mỗi học viên ngồi đây đều là đại diện cho hàng triệu người Việt Nam.
Câu này ấy khiến cả lớp lặng thinh,
ai nấy đều cảm thấy xấu hổ và tự nhắc nhở bản thân về trách nhiệm của mình.
Về sau không chỉ giảng dạy kỹ thuật bay,
ông Nguyễn Đức Việt còn phụ trách nhiều môn học quan trọng khác
như kỹ thuật hàng không, vận lý hàng không, lý thuyết phi hành và tổ chức phi trưởng,
góp phần đào tạo thế hệ phi công đầu tiên của Việt Nam.
Đúng trong năm 1949 đã diễn ra cuộc thử nghiệm chiếc máy bay duy nhất
mà quốc đội Việt Nam lúc ấy có được bằng tên Tiger Moth,
vốn đã bị bỏ không đến 4 năm.
Toàn bộ hệ thống như đồng hồ báo tốc độ, độ cao, độ thăng bằng
đều không còn đảm bảo chính xác.
Dẫu biết rõ nguy cơ có thể xảy ra,
Nguyễn Đức Việt vẫn tình nguyện trở thành người đầu tiên thử nghiệm chiếc máy bay này.
Vào ngày bay thử, ông đã điều khiển chiếc Tiger Moth cất cánh,
bay lượn trên vùng trời chiêm hóa, sông Lô, sông Gầm.
Sau đó ông quyết định thực hiện động tác bổ nhà,
tuy nguy hiểm nhưng cần thiết để kiểm tra khả năng vận hành của máy bay.
Đáng tiếc cuộc thử nghiệm đã không thành công,
chiếc máy bay mất kiểm soát và lao thẳng xuống sông.
Dù thất bại trong lần bay thử ấy,
nhưng Nguyễn Đức Việt vẫn thể hiện được kinh thần dũng cảm,
sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp chúng.
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc với thắng lợi để bị phủ vang rội,
ông trở về Cộng hòa Dân Chủ Đức.
Nhờ những kinh nghiệm và kiến thức tích lũy trong suốt những năm chiến đấu tại Việt Nam,
ông được trọng dụng và giao trọng trách phụ trách vào sân bay.
Dù trở về quê hương, nhưng trái tim của ông vẫn luôn hướng về Việt Nam.
Đến giữa năm 1969,
Nguyễn Đức Việt dự định trở lại Việt Nam cùng với phái đoàn của Cộng hòa Dân Chủ Đức,
vừa để thăm vợ con ở Việt Nam,
vừa để tiếp tục đóng góp cho công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước
mà ông coi như quê hương thứ 2.
Tuy nhiên định mệnh trớ trêu đã không thể để cho ông có cơ hội thực hiện mong muốn ấy.
Trên đường trở lại Việt Nam, Nguyễn Đức Việt đã qua đời trong một vụ tai nạn máy bay.
Ông là một trong những biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế,
của lòng dũng cảm và tinh thần công nghiến hết mình cho sự nghiệp cách mạng.
Ông không chỉ là một chiến sĩ,
mà còn là một kỹ sức tài bà,
một người tiên phong trong ngành quân giới và hàng không Việt Nam.
Tên Nguyễn Đức Việt sẽ mãi mãi được ghi nhớ trong lịch sử quân giới Việt Nam nói riêng
và cuộc đấu tranh dành độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam nói chung.
Không chỉ chiến đấu cho mảnh đất hình chữ S,
một số chiến sĩ nước ngoài còn đã thực sự trở thành một người con đất Việt.
Tới ngày 16 tháng 1 năm 2025,
trước cuộc gặp gỡ với nhân viên sư quán và cộng đồng người Việt tại Bà Lan,
Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cho đón không chỉ đồng bào,
mà còn rất nhiều người bạn Bà Lan.
Trong số đó, có một người đàn ông cao lớn nói chuyện với Thủ tướng bằng tiếng Việt.
Người ấy bất ngờ thay, lại mang họ Hồ.
Có tên đầy đủ là Hồ Trí Dũng,
con trai ông Hồ Trí Toán,
người ấy được biết tới như con nuôi của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Hồ Trí Toán hay Stephen Kubiak,
theo nhiều tài liệu ghi nhận,
sinh ngày 25 tháng 8 năm 1923 tại Lốt, Bà Lan.
Có nguồn kể rằng,
trong thiệt trình thứ 2,
ông bị cưỡng bức gia nhập về mạc,
sau đó tham chiến ở mặt trận phía Tây,
và cuối cùng rơi vào tay của đồng minh với tư cách tù binh.
Vì từng phục vụ trong cuộc đời Đức Quốc Xá,
Kubiak không thể trở về quê hương Bà Lan,
buộc phải tìm một lối đi khác cho cuộc đời mình.
Ông quyết định tình nguyện gia nhập quân đoàn Lê Dương Pháp,
hy vọng bắt đầu lại từ đó.
Một nguồn khác, được cho là dựa trên lời khai của chính ông,
lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác.
Theo đó vào năm 1940, Kubiak bị quân Đức bắt
và cưỡng bức lao động tại nước này.
Năm 1943, ông trốn thoát sang Litva,
gia nhập lực lượng du kích kháng chiến chống Fascist.
Một năm sau, Kubiak trở thành binh sĩ Hồng quân Liên Xô,
rồi sau đó được chuyển sang quân đội nhân dân Bà Lan.
Đến năm 1946, trên đường sang hí công tác,
ông bị quân Pháp bắt giữ,
và bị ép phải phục vụ trong quân đoàn Lê Dương.
Cuối năm đó, ông cùng đơn vị
bị điều động sang Đông Dương để tham gia đàn áp phong trào độc lập của người Việt.
Trong thời gian đóng quân tại Nam Định,
người lính Lê Dương ấy trợt nhận ra rằng
những người bên kia chiến tuyến
đang cầm súng bảo vệ tổ quốc trước sự sâm lăng của ngoại bà.
Giữa khói lửa chiến tranh,
trước lòng qua cảm và tinh thần bất khuất của anh hùng nơi đây,
Stephen Kubiak đã đưa ra quyết định lớn nhất đời mình,
đó là đứng vào hàng ngũ Việt Minh và chiến đấu vì chính nghĩa.
Bắt đầu, Kubiak đảm nhận công tác định vận,
tuyên truyền, vận động binh lính Pháp phản chiến.
Không ít lần, ông còn cài trang thành sĩ quan Pháp
để giúp đồng đội thâm nhập và tấn công các cứ điểm của quân đội Pháp.
Tuy nhiên, Kubiak được biết đến nhiều hơn sau chiến dịch hòa bình
vào mùa xuân năm 1952
nhờ tài năng đặc biệt trong việc sửa chữa vũ khí.
Những khẩu đài bác, súng phóng lựu
hay súng cối tối tân của quân Pháp
khi bị quân đội nhân dân Việt Nam thu giữ
nhưng chưa thể sử dụng,
đã phát huy hiệu quả nhờ bàn tay của người đàn ông này.
Không chỉ vậy, với nền tảng toán học vững chắc,
Kubiak còn góp phần huấn luyện
nâng cao chiến thuật cho lực lượng pháo binh non trẻ của Việt Nam.
Bằng những phép tính chính xác đến từng mm,
ông đã cùng đơn vị của mình lập được vô số chiến công.
Chính nhờ khả năng đó,
các đồng đội đã đạt cho ông biệt danh Toán.
Một trong những người từng kề vai sát cành Việt Toán,
cựu chiến binh Nguyễn Xuân Tính nhớ lại.
Với ngoài hình của một lính Tây,
Stephen Kubiak khoác lên mình bộ quân phục sĩ quan Pháp,
đột nhập vào lô cốt khó đánh nhất của địch,
mở đường máu cho những chiến sĩ khác xông lên đánh chiếm lô cốt.
Sau những lần đi trinh sát về,
Stephen thường dùng mảnh khăn buộc vào đầu để che mái tóc vàng,
mang một mảnh vải như khẩu trang để che mặt lại,
tránh một số chiến sĩ ta chưa biết mặt tiện nhầm.
Đến năm 1954,
Toán tham gia chiến dịch địa phiên phủ trong đội hình Đại đoàn 312.
Ông trực tiếp chiến đấu trong trận Hìm Lam,
nơi mở màn cho chiến dịch lịch sử,
đồng thời góp phần quan trọng trong các trận đánh chiếm các các đội phía Đông.
Suốt trạng đường chiến đấu từ năm 1948 đến 1954,
Toán đã tham gia tổng cộng 10 chiến dịch lớn.
Kỳnh qua 50 trận đánh,
trở thành một chiến sĩ quốc tịch kiên trung trên mảnh đất Việt Nam.
Với những đóng góp xuất sắc,
ông được Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trao tặng 2 huân chương chiến công hạng 3.
Đặc biệt ghi nhận vai trò quan trọng của ông
trong trận đánh chiếm Đôn Phủ Thông năm 1947
và trận Hìm Lam năm 1954.
Thậm chí nhờ tài năng và tình yêu sâu sắc dành cho đất nước con người Việt Nam.
Kubiak còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm con nuôi.
Chính bác Hồ đã đạt cho ông cái tên Hồ Chí Toán,
vừa thể hiện sự gắn bó với dân tộc Việt Nam,
vừa tôn vinh trí tuệ và tài năng của con người này.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng,
năm 1955, ông được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng trung đoàn pháo binh 45,
tiếp tục công hiến cho công cuộc xây dựng quân đội Việt Nam.
Đến năm 1957, do sức khỏe suy giảm,
ông được điều chuyển về công tác tại Báo quân đội Nhân dân Việt Nam.
Một năm sau, ông được phong quân hàm Đại úy quân đội Nhân dân Việt Nam.
Dù vậy, những năm tháng chiến đấu gian khổ,
các vết thương cũ và di chứng sốt Z-ác tính
đã khiến cơ thể ông ngày một suy kiệt.
Ngày 28 tháng 11 năm 1963,
Hồ Chí Toán, chú thơ thực cuối cùng tại Hà Nội khi 14 tuổi.
Ông yên nghỉ tại Nghĩa Trang Văn Điển,
để lại dầu ấn sâu đậm về một người lính quốc tế tận trùng với một lý tưởng.
Một chiến binh đã dâng hiến cả tuổi xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
Để rồi, giờ đây con trai ông đang tiếp bước ngây trang của mình
để tạo ra cầu nối giúp hai dân tộc Việt Nam và Ba Lan xích lại gần nhau hơn.
Cuối cùng, làm sao có thể bỏ qua những chiến sĩ đến từ Liên Xô,
người bạn trí tình của dân tộc ta?
Trong suốt cuộc hành trình chống Pháp,
có vô số người Liên Xô vốn là lính Lê Dương
đã quay sang gia nhập Việt Minh chống lại bẻ lũ thực dân.
Theo tiến sĩ Anatoli Sokolov, chuyên gia về Việt Nam học nhận định,
có tổng cộng 4 lan sóng người Nga
gia nhập quân đoàn viễn trình nước ngoài tại Đông Dương.
Lan sóng đầu tiên diễn ra vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Đến những năm 1920, một lan sóng mới lại xuất hiện.
Lan sóng thứ 3 bùng lên trong thế kỷ thứ 2.
Và cuối cùng, lan sóng thứ 4 diễn ra
trong những năm của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.
Trong đó, lan sóng cuối là đáng chú ý nhất với số lượng đông đả.
Theo Đài Tiếng Nói nước Nga,
trong cuộc chiến tranh thế giới thứ 2,
khi Đức xâm lược Liên Xô,
nhiều người lính Hồng Quân bị bắt làm tù binh.
Sau khi Đức bại trận,
họ lưu lại trên lãnh thổ do quân đồng minh kiểm soát.
Nhưng cuộc sống khó khăn đã buộc nhiều người
phải gia nhập quân đội Lê Dương của Pháp.
Tuy nhiên, khi đến Việt Nam,
không ít người đã nhận ra bản chất phi nghĩa của cuộc chiến
hoặc quyết định đứng về phía nhân dân Việt Nam
trong cuộc kháng chiến chống thức dân Pháp.
Một trong số đó là cựu phi công Biblichenko,
người từng làm việc tại sân bay Gia Lâm.
Nhận thấy được sự chính nghĩa của cách mạng Việt Nam,
ông đã đánh cắp một chiếc máy bay quân sự của Pháp
và bay sang vùng kháng chiến tại tỉnh Yên Bái,
gia nhập lực lượng rủ kích tại đây.
Một người lính Nga khác là Fyodor Bestmoney,
sau khi rời bỏ hàng ngũ quân Lê Dương cùng khẩu súng của mình,
đã chạy vào rừng và tình cơ gặp tiểu đoàn 307,
một trong những đơn vị nổi tiếng của cuộc đội Việt mình.
Được các đồng đội Việt Nam đặt cho cái tên đây chiếu mến là Anh.
Ông nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống quân ngũ
và chiến đấu hết mình vì độc lập dân tộc của Việt Nam.
Với khả năng sử dụng thuốc nổ xuất sắc,
Fyodor đã tham gia lên kế hoạch và triển khai nhiều hoạt động tác chiến quan trọng,
góp phần vào những chiến thắng vang dội của cuộc đội Việt mình.
Khi nhận những đồng góp của người chỉ sĩ,
Cuộc đội Nhân dân Việt Nam đã trao tặng ông hai huân trường đạo quý.
Trả một suốt thời gian căn bó với cuộc đội Việt mình,
Fyodor đã xây dựng gia đình với bà Nguyễn Thị Vĩnh.
Hai người sau đó có với nhau hai người con.
Và đến năm 1958 thì cả gia đình ông cùng nhau trở về Liên Xô.
Sau khi ông mất, vợ và hai con của ông quay lại Việt Nam.
Ngoài ra trong tiểu đoàn 307,
cùng sát cánh chiến đấu với Fyodor,
còn có Platon Zezinski,
một người lính Lê Dương khác có số phận tương tự.
Platon bị quân Đức quốc xã bắt làm tù binh khi Liên Xô bị xâm lược.
Sau khi chiến tranh kết thúc,
ông bị quân Pháp bắt giữ và ép gia nhập Lê Dương.
Năm 1946, Platon được điều đến Việt Nam,
đóng quân tại Vĩnh Long rồi Bến Tre.
Khi làm nhiệm vụ lái xe tải trở nước cho quân Lê Dương,
ông đã liên hệ với lực lượng du khích địa phương
và quyết định đào ngũ, gia nhập Việt mình vào mùa hè cùng năm.
Lấy tên tiếng Việt là Thành,
ông đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng như nhân viên liên lạc,
xã thủ và chỉ huy đội công binh.
Suốt 8 năm dòng, ông kiên trì bám trụ,
chiến đấu trong lực lượng vũ trang miền Nam,
mặc cho điều kiện chiến đấu khám khổ.
Trong thời gian đó, ông Thành gặp gỡ và kết hôn với bà Mai,
một người con gái Bến Tre vào năm 1948.
Ngày năm tiếp theo,
hai người có một cô con gái và đặt tên là Gianni.
Đến năm 1955, trước khi quay về Liên Xô,
ông có vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bà Hồ đã đích thân viết thư gửi Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô,
công nhận những đóng góp của đồng chí Thành
đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam.
Trở về Mắc-Cơ-Va,
Lê Tuấn Thành tiếp tục đóng góp cho mối quan hệ Việt-Xô.
Ông làm phiên dịch tiếng Việt
tại Bàn Việt Ngữ của Đài Phát Thanh Đối Ngoại Mắc-Cơ-Va,
sau này là Đài Tiếng Nói Nước Ngã.
Với sự hiểu biết sâu sắc về Việt Nam,
ông còn trở thành cố vấn cho nhiều chuyên gia
nghiên cứu về Việt Nam học tại Liên Xô.
Dù đã trở về quê hương,
nhưng ông chưa bao giờ quyết mạnh đất hình chữ S,
nơi bản thân đã chiến đấu,
xây dựng gia đình
và dành cả tuổi trẻ để công hiến.
Trước khi qua đời vào năm 2003,
ông Thành đã có cơ hội quay lại Việt Nam
thăm lại chiến trường xưa,
đồng đội cũ.
Con gái của ông, Giang Nai,
nơi tiếp con đường của cha,
cũng trở thành một nhân viên Bàn Việt Ngữ
của Đài Phát Thành Mắc-Cơ-Va
và Đài Tiếng Nói Nước Ngã.
Dù sinh ra và lớn lên tại Liên Xô,
nhưng bà vẫn luôn nhớ về nơi trồn giàu cắt giốn của mình.
Trong một lần chia sẻ với người trai đàn kính,
bà xúc động nói,
suốt cuộc đời mình,
cha tôi luôn giữ trọn tình yêu
và sự kính trọng dành cho Việt Nam
và nhân dân Việt Nam.
Ông thường xuyên kể về những năm tháng chiến đấu
tại đất nước các bạn,
nơi mà ông coi như ngôi nhà của mình,
và Việt Nam cũng là quê hương của tôi.
Những người Việt Nam mới,
tất thầy họ đều đã chứng minh rằng,
dù không cùng một sắc độc,
một dòng máu,
nhưng chỉ cần có chung niềm tin và lẽ phải
và những giá trị tốt đẹp của con người,
thì mọi danh giới đều có thể bị xóa nhỏa.
Dù không sinh ra tại Việt Nam,
nhưng trái tim họ đã hoài nhịp
cùng nhân dân Việt Nam,
chiến đấu vì một lý tưởng chung,
vì tự do và chủ quyền của một dân tộc.
Dấu chân mà những con người này để lại
trên mảnh đất hình chữ S
sẽ mãi là biểu tượng của tình hữu nghị
và sự gắn kết giữa các dân tộc,
như ánh sáng soi đường cho các thế hệ mai sau.