BÊN TRONG CHIẾC EP-3 BỊ 'BẮT CÓC': Kho báu vô giá, Mỹ vô tình trao tận tay Trung Quốc

Đại Kỷ Nguyên - Bình luận
4K Người theo dõi
1.2K Lượt xem video·17 thg 7, 2025
Một vụ va chạm trên không, một chiếc phi cơ do thám tối tân của Hoa Kỳ buộc phải hạ cánh xuống lãnh thổ Trung Quốc. Sự kiện định mệnh này đã trở thành một mỏ vàng tình báo bất ngờ cho Bắc Kinh, giúp họ có được những bí mật công nghệ quân sự mà họ đã khao khát trong nhiều thập niên.
Chương trình "Phân tích và Bình luận" hôm nay sẽ lật lại toàn bộ câu chuyện về vụ va chạm phi cơ Mỹ-Trung năm 2001, từ bối cảnh căng thẳng ở eo biển Đài Loan, đến những bí ẩn xoay quanh cái chết của phi công Vương Vĩ, và cách Trung Quốc đã tận dụng "kho báu từ trên trời rơi xuống" này để phát triển phi cơ cảnh báo sớm của riêng mình, cùng với cái giá đẫm máu mà họ phải trả sau đó.
Chào mừng quý vị. Một sự cố tưởng chừng như ngẫu nhiên, một khoảnh khắc vai trạm trên không phận quốc tế
lại có thể trở thành chất xuất tác thay đổi hoàn toàn cục diện công nghệ quân sự của cả một quốc gia.
Liệu một tai nạp có thể là một món quà trời cho?
Một chiếc phi cơ do thám tối tân của Hoa Kỳ trị giá hàng trăm triệu đô la
làm thế nào lại có thể tự nguyện hạ cánh xuống một phi trường quân sự của đối thủ?
Và từ những mảnh vỡ của một bi kịch, một cường quốc đang khao khát trỗi dậy
đã tìm thấy con đường tắt để chế tạo ra vũ khí mà họ đã thất bại trong hàng chục năm.
KinChi xin kính chào quý vị. Trong chương trình hôm nay của Phân tích và Bình luận,
chúng ta sẽ cùng nhau lật lại một trong những sự kiện căng thẳng và kỳ lạ nhất trong lịch sử đối đầu Trung Quốc, Hoa Kỳ.
Vụ vai trạm phi cơ trên Biển Đông ngày 1 tháng 4 năm 2001, đây không chỉ là câu chuyện về một cuộc đối đầu quân sự
mà còn là một bài học sâu sắc về cách một sự cố có thể trở thành một bước ngọt về tình báo và công nghệ,
hẽ lộ những bí mật mà Bắc Kinh đã vô tình có được và cái giá đẫm máu mà họ phải trả sau đó.
Đối cảnh căng thẳng, cơn bão trên eo biển Đài Loan.
Để hiểu được cốc rễ của vụ vai trạm năm 2001, chúng ta phải quay ngược thời gian về 5 năm trước đó, vào tháng 3 năm 1996.
Eo biển Đài Loan, khi đó đang nóng như một chảo lửa. Đài Loan chuẩn bị tổ chức cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên trong lịch sử.
Một bước đi dân chủ mang tính biểu tượng.
Lãnh đạo Đài Loan lúc bấy giờ, ông Lý Đăng Huy đã không còn nhắc đến khẩu hiệu tam dân chủ nghĩa thống nhất Trung Quốc nữa.
Thay vào đó, ông bắt đầu nhấn mạnh về ý thức chủ thể Đài Loan và thậm chí còn thực hiện một chuyến thăm lịch sử đến Hoa Kỳ.
Đối với Bắc Kinh, đây là những lần danh đỏ không thể vượt qua.
Họ coi đây là những bước đi rõ ràng hướng tới độc lập và phản ứng của họ là không thể nhầm lẫn.
Dùng vũ lực để giăn đe, họ cho rằng chỉ cần một màn phô trương sức mạnh quân sự vừa phải,
một vài cú ráng loáng cơ bắp là có thể giật tắt cái mà họ gọi là các thế lực chính trị mưu cầu độc lập ở Đài Loan.
Đồng thời, đây cũng là một phép thử giống như cách ông Mao Trạch Đông từng hạ lệnh pháo kích kìm mồn
để xem mức độ cam kết và trưng thành trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đài Loan đến đâu.
Thế là bắt đầu từ ngày 8 tháng 3 năm 1996,
quân đội Trung Quốc đã khai triển các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn và phóng hàng loạt hỏa tiễn.
Các đầu đạn hỏa tiễn rơi xuống ngay vùng biển ngoài khơi Cơ Long và Cao Hồng,
hai thành phố cảng lớn nhất của Đài Loan, cả hòn đảo chìm trong bầu không khí căng thẳng.
Phản ứng của Hoa Kỳ là ngay lập tức và quyết đoán Washington khai triển hai cụm tác chiến hàng không mẫu hạm
USS Nimitz và USS Independence, hội quân ngay tại vùng biển ngoài khơi Đài Loan.
Đây là một thông điệp không thể rõ ràng hơn gửi tới Bắc Kinh.
Hải quân Trung Quốc, dù không lùi bước ngay lập tức, cũng rơi vào thế đối đầu trực diện.
Hai bên gươm súng sẵn sàng, một cuộc xung đột lớn có thể nổ ra bất cứ lúc nào.
Giữa cơn bão đó, một điểm yếu chết người của quân đội Đài Loan đã bị phơi bầy.
Họ hoàn toàn không có bất kỳ vũ khí hay thiết bị nào có thể thực hiện cái gọi là phản công tử nguồn.
Thời ông Mao Trạch Đông, đại pháo chỉ có thể bắn tới các hòn đảo ngoài khơi.
Nhưng giờ đây, hòa tiễn của Bắc Kinh có thể bay thẳng đến các thành phố lớn.
Đài Loan gần như bó tay chịu chói.
Dù cuộc chiến chưa nổ ra, nhưng lỗ hổng phòng thủ này là điều không thể chấp nhận được.
Hoa Kỳ quyết định phải hành động ngay.
Washington đồng ý bán cho Đài Loan bốn phi cơ cảnh báo sớm E-HaiTi.
Những chiếc phi cơ này sẽ cho Đài Loan thêm 11 phút cảnh báo sớm.
11 phút nghe có vẻ không nhiều, nhưng trong tác chiến hiện đại, nó có ý nghĩa sinh tử.
Nó đủ thời gian để các chiến đấu cơ đang trực chiến cất cánh.
Đủ thời gian để các cơ quan đầu não quân sự, chính trị và người dân ở Đài Bắc
có thể sơ tán xuống các hầm trú ẩn, sống sót qua đợt tấn công đầu tiên.
Cuộc săn tìm phi cơ cảnh báo sớm và vai trò của Israel.
Đài Loan sắp có phi cơ cảnh báo sớm một con mắt thần trên không.
Điều này khiến Bắc Kinh như ngồi trên đống lửa.
Trên thực tế, Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu và phát triển phi cơ cảnh báo sớm từ những năm 1960.
Nhưng trải qua nhiều thập niên, họ vẫn chưa thành công.
Giờ đây, đối thủ sắp sở hữu công nghệ mà họ khao khát. Phải làm gì đây?
Họ đã tìm đến một đối tác bất ngờ, Israel.
Tháng 6 năm 1996, Trung Quốc và Israel đã bí mật ký kết một thỏa thuận.
Theo đó, Israel sẽ giúp Trung Quốc lắp đặt hệ thống đa đa tự phát triển của họ, có tên là Falcon,
lên góc phi cơ vận tải IL-76 của Trung Quốc.
Một khi được lắp đặt, chiếc phi cơ vận tải cồng cành sẽ biến thành một trung tâm chỉ huy và phối hợp tác chiến đường không tầm xa.
Thỏa thuận tiến triển rất nhanh, một chiếc IL-76 của Trung Quốc đã được đưa đến Israel và bắt đầu quá trình lắp đặt.
Lãnh đạo Trung Quốc lúc bấy giờ là ông Lý Bằng và Bộ trưởng Quốc phòng Trị Hạo Điền đã đích thân đến tham quan.
Họ vô cùng hài lòng, dâng ngón tay cái tán thưởng và lập tức chi tiền.
Quản thanh toán đầu tiên cho chiếc phi cơ thứ nhất và các quản trả trước khác có tổng trị giá 250 triệu USD.
Kế hoạch của Trung Quốc là mua tổng cộng 7 bộ hệ thống Falcon, 4 bộ để đối phó với Đài Loan, 3 bộ còn lại để đối phó với Ấn Độ và dự phòng.
Đối với Israel, đây là một hợp đồng béo bờ, nhưng thương vụ này cuối cùng đã đổ bề.
Lý do không có gì ngạc nhiên là sự can thiệp của Hoa Kỳ.
Washington không thể ngồi yên nhìn một đồng minh thân cận trang bị cho đối thủ chiến lược của mình một loại vũ khí có thể thay đổi cán cân quân sự.
Rất nhiều thượng nghị sĩ Hoa Kỳ có ảnh hưởng, kể cả những người vốn có thiện cảm với Israel, đã công khai chỉ trích quyết định bán vũ khí cho Trung Quốc.
Tháng 11 năm 1999, ông Lý Bằng vừa trả tiền xong, các quan chức ngũ giác đài đã lập tức bay đến Israel với thái độ vô cùng cứng rắn.
Các vị phải dừng ngay thương vụ này lại.
Tại sao Hoa Kỳ lại lo lắng đến vậy?
Vì họ hiểu rằng một khi xung đột nổ ra ở eo biển Đài Loan, mục tiêu tấn công đầu tiên mà phi cơp cảnh báo sớm của Trung Quốc dẫn đường rất có thể sẽ là các cơ sở quân sự của Hoa Kỳ, và chính các hàng không mẫu hạng của họ.
Israel dây vào thế khó xử, nhưng họ không có lựa chọn nào khác.
Họ không thể đối đầu với đồng minh lớn nhất của mình.
Thương vụ bị huy bỏ, Israel không chỉ phải trả lại tiền cho Trung Quốc, mà còn phải chịu một khoản phạt.
Tổng cộng, họ đã hoàn trả cho Bắc Kinh 350 triệu đô la Mỹ.
Phía Trung Quốc vô cùng tức giận, giấc mơ sở hữu phi cơp cảnh báo sớm một lần nữa tan thành mây khói.
Họ đang ở trong tình thế tiến thoái lượng nan, không biết phải làm gì tiếp theo.
Và rồi, đứng vào lúc họ tuyệt vọng nhất, một điều không tưởng đã xảy ra.
Có người đã mang chiếc phi cơp cảnh báo sớm và do thám điện tử tối tân nhất thế giới đến tận cửa nhà họ.
Người đó, chứ chưa thay, lại chính là người Hoa Kỳ.
Vụ va chạm định mệnh trên Biển Đông
Câu chuyện đưa chúng ta đến Biển Đông, một khu vực có vị trí chiến lược cực kỳ nhạy cảm.
Hoa Kỳ công nhận rằng, vùng biển này, theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, là khu vực kinh tế độc quyền của Trung Quốc.
Tuy nhiên, hai bên lại có những cách diễn giải khác nhau về công ước này.
Bắc Kinh cho rằng, vì là khu kinh tế độc quyền của mình,
họ có quyền tiến hành các hành động quân sự mang tính độc quyền, ví dụ như xây dựng các căn cứ quân sự.
Ngược lại, Washington cho rằng, mặc dù Trung Quốc có quyền đối với khu kinh tế độc quyền,
các quốc gia khác vẫn có quyền tự do hàng hải và hàng không trên vùng biển này.
Chính vì sự khác biệt trong diễn giải này,
trong nhiều năm, các phi cơp quân sự của Hoa Kỳ đã thường xuyên thực hiện các chuyến bay do thám trong khu vực.
Và mỗi khi họ đến, các chiến đấu cơ của hạp đội Nam Hải lại cất cánh để gián sát.
Đây đã trở thành một thông lệ và người Hoa Kỳ dường như không mấy bận tâm.
Họ đến thu nhập thông tin tình báo, rồi rời đi, để lại các phi cơ Trung Quốc bay theo sau hít khói.
Tuy nhiên, tình hình bắt đầu thay đổi khi Trung Quốc triển khai lưới chiến đấu cơ hạng nặng Su-27 đầu tiên mua từ Nga tại đảo Hải Nam.
Cùng với đó, họ cũng xây dựng một cơ sở tình báo điện tử lớn trên đảo,
có khả năng theo dõi các hoạt động của phi cơ và vệ tinh liên lạc của không quân Hoa Kỳ.
Nhưng cơ sở này lại rất ít khi được bật lên.
Tại sao? Vì họ sợ bị Hoa Kỳ nắm bắt thông tin.
Mỗi khi radar của họ khởi động, tín hiệu sẽ bị Hoa Kỳ thu thập.
Trong trường hợp chiến tranh, quân đội Hoa Kỳ có thể dựa vào những thông tin này,
để phóng họ tiễn phá hủy các cơ sở radar.
Mất radar, không quân sẽ trở thành những kẻ mù loà, chỉ biết chờ bị tấn công.
Vì vậy, một cuộc chơi mèo vườn chuột ngày càng căng thẳng đã diễn ra.
Các phi cơ do thám điện tử EP-3 của quân đội Hoa Kỳ
bay ngày càng sắt đảo Hải Nam để cố gắng thu thập thông tin.
Đáp lại, các chiến đấu cơ của hạm đội Nam Hải lại càng cố gắng su đuổi những chiếc EP-3 ra xa.
Cứ một bên tiến vào, một bên đẩy ra.
Và cuối cùng, vào một ngày định mệnh, thảm kịch đã xảy ra.
Ngày 1 tháng 4 năm 2001, đúng ngày này trong lịch sử,
một chiếc phi cơ do thám EP-3 của Hải quân Hoa Kỳ
cất cánh từ phi trường quân sự Kadena ở Nhật Bản.
Nó bay đến một vị trí cách đảo Hải Nam của Trung Quốc,
70 hải lý về phía Đông Nam, trên vùng biển quốc tế để thực hiện nhiệm vụ do thám.
Vào lúc 9 giờ sáng, hai chiếc chiến đấu cơ J-8II-8II thuộc sứ đoàn 8 Không quân Hải quân
cất cánh từ phi trường Lăng Thủy, Hải Nam để tiếp cận và giám sát chiếc EP-3.
Một trong hai phi công Trung Quốc có tên là Vương Vĩ, theo lời kể của phi hành đoàn Hoa Kỳ,
sau khi chiếc EP-3 đã hoàn thành nhiệm vụ và đang trên đường quay về.
Vương Vĩ đã không tuần theo thông lệ là bay trở về căn cứ.
Ngược lại, anh ta đã tăng tốc, đuổi theo.
Thậm chí, anh ta còn lái phi cơ bằng một tay, tay kia tháo mặt nạ dưỡng khí ra
và do tay ra hiệu một cách giận dữ, ý muốn nói, cút đi.
Ở đây, cần phải nhắc đến một câu chuyện quá khứ ít được biết đến.
Trong những năm 1980, thời kỳ tuần chất mật ngắn ngủi khi Trung Quốc và Hoa Kỳ hợp tác chống lại Liên Xô
và cũng là thời kỳ mà không khí dân chủ ở Trung Quốc cởi mở nhất dưới thời hai nhà lãnh đạo
Hai nước đã có một chương trình hợp tác quân sự mang tên Hòa Bình Trân Châu.
Mục tiêu của chương trình là giúp Trung Quốc đột phá về công nghệ hàng không.
Chiến đấu cơ J-8 là loại phi cơ tiên tiến nhất của Trung Quốc khi đó
nhưng nó vẫn lạc hậu so với phương Tây tới 20 năm, dù được tung hô là sản phẩm tự lực cánh sinh.
Các chuyên gia hàng không đều biết rằng với công nghệ điện tử lạc hậu
nó chỉ có thể được trang bị radar 208 và hỏa tiễn VL-4,
những vũ khí gần như không có giá trị tác chiến.
Chương trình Hòa Bình Trân Châu đã giúp Trung Quốc có được hai chiếc phi cơ mẫu
quý giá do Hoa Kỳ cải tiến, được trang bị hệ thống điện tử và vũ khí tiên tiến.
Nhưng sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, phương Tây đã chấm dứt viện trợ
và chương trình cũng theo đó mà kết thúc.
Chiếc phi cơ mà Vương Vĩ điều khiển chính là một chiếc dây 8II
được cải tiến dựa trên công nghệ của Hoa Kỳ.
Loại phi cơ này được thiết kế để tác chiến ở tốc độ cao,
đối cổ hút khí được rơi đi từ mũi sang hai bên hầm.
Trong khi đó, chiếc EB-3 của Hoa Kỳ lại là phi cơ cánh quạt,
bay với tốc độ chậm hơn nhiều để có thể bay song song theo dõi nó.
Chiếc dây 8II buộc phải giảm tốc độ,
và để làm điều đó, phi công phải ngóc mũi phi cơ lên.
Ngay khi mũi phi cơ được nâng lên,
lượng không khí vào hai cửa hút khí hai bên sẽ giảm,
khiến phi cơ bị dung lắc dữ dội.
Khi Vương Vĩ tiếp cận phía sau bên trái của phi cơ Hoa Kỳ,
anh ta đã thực hiện động tác ngóc mũi này.
Hậu quả là chiếc dây 8II của anh ta bị dung lắc,
mất kiểm soát và đâm vào cánh quạt của động cơ số 1 trên chiếc EB-3.
Chiếc phi cơ của Vương Vĩ ngay lập tức bị gãy làm đôi,
chiếc EB-3 của Hoa Kỳ cũng bị hư hại nặng,
phần mũi phi cơ bị tưng ra, một động cơ ngừng hoạt động.
Phi hành đoàn Hoa Kỳ không còn lựa chọn nào khác
ngoài việc hạ cánh khẩn cấp xuống phi trường quân sự Lăng Thủy trên đảo Hải Nam.
Sau một tiến trình tìm kiếm, Vương Vĩ được xác nhận đã thiệt mạng.
Sự kiện này đã châm ngòi trong một làn sóng chống Hoa Kỳ quy mô lớn ở Trung Quốc.
Bắc Kinh khăng khăng rằng phi cơ Hoa Kỳ đã cố tình chuyển hướng
và đâm vào chiến đấu cơ của họ.
Ở phương Tây cũng có một luồng quan điểm cho rằng
Vương Vĩ đã nhận lệnh đâm vào phi cơ Hoa Kỳ để chiếm đoạt bí mật quân sự.
Trên thực tế, cả hai giả thuyết này đều khó có khả năng xảy ra.
Bất cứ ai đi phi cơ đều biết một cú vai trạm
dù chỉ với một con chim nhỏ cũng có thể gây ra thảm họa.
Bất kể ai đâm ai, kết quả có khả năng cao nhất là cả hai cùng rơi xuống biển
và sẽ không có bí mật nào được thu thật.
Cái chết của Vương Vĩ cũng để lại nhiều nghi vấn
thậm chí có người còn đột rằng anh ta vẫn còn sống.
Lý do là vì khi các mảnh vỡ của chiếc dây tám được trượt vớt
người ta phát hiện ra nắp bùng lái vẫn còn nguyên vẹn.
Nếu phi công đã kịp nhẹ dù thoát hiểm như mô tả của phía Trung Quốc
thì nắp bùng lái chắc chắn đã phải được kích nổ và bung ra.
Khóc báu từ trên trời rơi xuống.
Bất chân những tuyên bố cứng rắn, Bắc Kinh lúc đó vẫn cần sự giúp đỡ của Hoa Kỳ trong nhiều vấn đề
từ việc vật động đăng cai Thế vận hội cho đến việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.
Vì vậy, họ đã đối xử khá tốt với hai tư thành viên phi hành đoàn Hoa Kỳ bị bắt giữ.
Nhưng đối với họ, khóc báu thực sự chính là chiếc EB-3 đang nằm trên đường băng.
Trong những giây phút hỗn loạn trước khi hạ cánh
phi hành đoàn Hoa Kỳ đã cố gắng phá hủy các thiết bị điện tử nhạy cảm
bằng một chiếc diều cứu hỏa duy nhất trên phi cơ.
Nhưng nỗ lực của họ là không đủ.
Đối với các kỹ sư và chuyên gia Trung Quốc, chiếc phi cơ này là một mỏ vàng tình báo.
Họ đã tìm thấy những thứ vượt xa sức tưởng tượng của mình.
Đầu tiên là một đoạn băng ghi âm dài 45 phút trước các đoạn liên lạc đã được mã hóa của Hải quân Trung Quốc.
Và kinh hoàng hơn, bên cạnh đó là cả nội dung đã được giải mã hoàn chỉnh.
Điều này có nghĩa là người Hoa Kỳ không chỉ trao cho họ một bản sao của các bức điện mật
mà còn trao cả chiếc chiều khóa để giải mã chúng.
Từ đó, Bắc Kinh đã biết được chính xác cách thức người Hoa Kỳ
đã bẻ khóa hệ thống tình báo và liên lạc của họ.
Thứ hai, họ nhận ra một khoảng cách công nghệ không chỉ là về mức độ mà là về phương hướng.
Khi đó, Hoa Kỳ đã chuyển sang công nghệ kỹ thuật số.
Trong khi hệ thống do thám điện tử của Trung Quốc vẫn còn đang loay hoay
với việc ghi lại thông tin trên các cuộn phim.
Thứ ba, chiếc EB-3 được trang bị hệ thống nhận giảm giọng nói tự động tiên tiến nhất thế giới.
Ngũ Sắc Đài đã mở các chuyên gia ngôn ngữ
để nghiên cứu sâu rộng về ngôn ngữ của các quốc gia bị do thám.
Từ đó xây dựng một hệ thống có khả năng nhận diện ngay lực tức giọng nói của các cá nhân,
đặc biệt là các lãnh đạo và dĩ quan quan trọng, ngay khi thu được tín hiệu.
Điều này giúp họ đánh giá được mức độ quan trọng cửa thông tin tình báo thu thập được.
Sau sự cố này, các quân khu lớn của Trung Quốc đã phải ra một thông báo khẩn.
Các cán bộ từ các tiểu đoàn trở lên không được dùng điện thoại di động để bàn công việc,
và khi họ phải tháo pin điện thoại ra.
Tại sao? Vì họ phát hiện ra rằng vi cơ do thám của Hoa Kỳ
có thể phát ra một tín hiệu để kích hoạt cả những chiếc điện thoại đã tắt,
biến trứng thành những thiết bị ngay lén.
Chiếc EB-3, khi bay ở rìa không phận của một quốc gia,
có thể thu thập tất cả các loại tín hiệu điện tử,
từ đài phát thanh, điện báo, bộ đàm, cho đến điện thoại di động.
Bằng cách theo dõi trong thời gian dài, nó có thể xây dựng một co dữ liệu ân thanh khổng lồ,
từ đó phân tích thói quen chỉ huy, thời gian phản ứng
và thậm chí cả tính cách cá nhân của các chỉ huy đối phương.
Hệ thống liên lạc chống nhiều tần số siêu cao mới nhất của quân đội Hoa Kỳ
vốn được dùng để liên lạc với các đồng minh,
giờ đây cũng đã bị phơi bầy trước mắt Trung Quốc.
Nhưng có lẽ món quả lớn nhất không nằm ở các thiết bị riêng lẻ,
mà là ở tổng thể.
Các kỹ sư Trung Quốc đã kinh ngạc khi nghiên cứu cách bố trí không gian,
cách đi dây và các phương pháp chống nhũ điện tử bên trong chiếc phi cơ.
Đây là những kiến thức vô giá về thiết kế tổng thể một phi cơ do thám điện tử hiện đại,
thứ mà không sách vừa nào có thể dạy được.
Một kỹ sư Trung Quốc sau khi sân sát chức EB-3 đã phải thốt lên.
Chúng tôi đã làm cả đời, chỉ thiếu đúng những thứ này.
Hậu quả và di sản đẫm máu.
Về mặt ngoại giao, sau nhiều cuộc đàm phán căng thẳng,
phía Hoa Kỳ đã đồng ý bày tỏ sự lấy làm tiếp về vụ việc.
Trung Quốc sau đó đã diễn giải với người dân của mình rằng
Hoa Kỳ đã bày tỏ lời xin lỗi sâu sắc.
Trên thực tế, trong ngoại giao, một lời xin lỗi chính thức phải dùng từ.
Apology, mang ý nghĩa nhận trách nhiệm.
Sorry hay thậm chí là very sorry,
chỉ đơn thuần là sự tiếc nối về một kết quả không mong muốn,
không hề có ý nhận trách nhiệm.
Một điều nữa mà Bắc Kinh không nói cho người dân biết,
đó là chỉ một thời gian ngắn sau đó.
Vào ngày 29 tháng 5, Hoa Kỳ đã nối lại các chiến bay do thám trên Biển Đông
và lần này họ còn có cả chiến đấu cơ F-15 hộ tống.
Các phi cơ Trung Quốc không còn dám tiếp cận gần như trước.
Chiếc EB-3 sau 3 tháng nằm tại phi trường Long Thủy
đã bị tháo rỡ và vận chuyển về Hoa Kỳ.
Nhưng những kiến thức mà các chuyên gia Trung Quốc thu được thì vẫn ở lại.
Được trang bị những thông tin vô giá này,
ngành công nghiệp hàng không Trung Quốc đã từ bỏ các hướng nghiên cứu cũ
và nhanh chóng hoàn thành việc phát triển phi cơ cảnh báo sớm đầu tiên của họ,
chiếc không cảnh 200, cây dây 200.
Thế nhưng, câu chuyện chưa kết thúc ở đó.
Tháng 6 năm 2006, trong giai đoạn bay thử nghiệm,
một chiếc cây dây 200 đã gặp nạn.
Nó cất cánh từ phi trường quân sự Phì Đông ở An Huy
và rơi không lâu sau đó.
Toàn bộ 40 người trên phi cơ đều thiệt mạng,
ngoài 5 phi công thử nghiệm cao cấp.
Phần lớn nạn nhân là các kỹ sư thuộc Viện Nhiên cứu số 38
của Tập đoàn Công nghệ Quốc phòng An Huy.
Trong đó có cả những kỹ sư cất tướng.
Tinh hoa của ngành do thám điện tử Trung Quốc
đã bị xóa sổ trong một ngày.
Một lần nữa, Bắc Kinh lại chê dấu sự thật.
Họ tuyên bố rằng vụ tai nạn
là do lỗi hệ thống phá băng của phi cơ.
Tuy nhiên, các mảnh vỡ của phi cơ
lại nằm rải rác trên một khu vực rộng lớn,
cho thấy nó đã phát nổ và tan rã trên không trung.
Đây là một phi cơ do thám không mang vũ khí.
Vậy ai đã gây ra vụ nổ?
Câu hỏi này cho đến nay
vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải đáp.
Vụ vai trạm trên Biển Đông
là một sự kiện phức tạp
với nhiều tầng lớp ý nghĩa.
Nó là một bi kịch
đối với gia đình phi công vương vĩ,
một cuộc khủng hoảng ngoại giao giữa hai cường quốc,
nhưng đồng thời
cũng là một cơ hội tình báo ngàn vàng cho Trung Quốc.
Nhưng cuối cùng,
con đường tắt mà họ có được từ một tai nạn
lại dẫn đến một thảm kịch khác.
Một lời nhắc nhở rằng
trong cuộc chạy đua công nghệ và quyền lực
cái giá phải trả đôi khi là vô cùng đắt đỏ.
Với những phân tích vừa rồi
có thể thấy một sự cố đơn lẻ hoàn toàn
có thể thay đổi dòng chạy của lịch sử
và công nghệ quân sự.
Quý vị có suy nghĩ gì về sự kiện này
và những hệ lụy của nó?
Liệu đây có phải là một sự may mắn chớ treo
hay là một bài học đắt giá cho cả hai phía?
Hãy cho chúng tôi biết ý kiến của quý vị
trong phần bình luận bên dưới.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh,
bật chuông thông báo để không bỏ lỡ những chương trình
phân tích chiên sâu của chúng tôi.
Tự đồng hành của quý vị
là nguồn động viên lớn nhất để chúng tôi tiếp tục
mang đến những nội dung giá trị.
Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi.
Tình kính chào, tạm biệt và hẹn gặp lại!
