111/121 Tam quốc diễn nghĩa - La Quán Trung - audio

Chu Du Lục Quốc
284 Người theo dõi
11 Lượt xem video·26 thg 6, 2025
111/121 Tam quốc diễn nghĩa - La Quán Trung - audio
Hồi thứ 110, một mình gian thuộc đuổi Hùng Binh, giữa nước Khương Duy phá đại địch.
Năm chính nguyên thứ hai dạng ngụy, tháng giêng, Dương Châu thứ sử trấn đông tướng quân lĩnh Hoài Nam quân mã.
Quán Khâu Kiệm, tự là trọng văn, giống người đất văn hỷ tỉnh Hà Nam.
Nghe tin từ mã sư thiện tiện làm việc phế lập, lòng giận bưng bưng.
Con trưởng là Quán Khâu Điện cũng bất bình mới hỏi cha.
Phụ thân đường đường là quan đại thân trấn nhầm một phương.
Này từ mã sư chuyên quyền bỏ vua này lập vua khác.
Quốc gia nguy như trứng chồng, phụ thân nỡ nào an nhiên thủ phận.
Kiệm khen, con trách gia như thế là đáng lắm.
Bèn cho mời quan thứ sử làm gian khâm đến bàn việc.
Khâm nguyên là một vị tân khách nhà tàu sản khi trước.
Ngày hôm ấy được Kiệm mời liên đến bái yết.
Kiệm mời vào nhà sau, hai bên thi lễ rồi trò chuyện.
Nhưng Kiệm nứt mắt ràng rùa, khâm hỏi vì cái gì Kiệm đáp.
Từ mã sư chuyên quyền bỏ chúa, việc đảo lộn trời đất ấy ai mà không đau lòng.
Khâm nói, đồ đốc hiện là phương diện một vị trấn thủ.
Nếu trong ngày đánh giặc tôi xin liều chết giúp sức.
Thằng con thứ của tôi làm văn thục, tiểu tự là A-ương, có sức mua người khôn địch.
Nó thường muốn giết anh em từ mã sư để báu thù cho tàu sản.
Này xin đồ đốc cho nó làm tiên phong.
Kiệm mừng quá ngay lập tức rót rượu làm lễ tuyên thệ.
Thề xong, hai người nói dối rằng có mật chiếu của Thái Hậu
truyên cho tất cả quan quân tứ sĩ ở ngoài Nam phải giao thành thọ xuân.
Khi quan quân giao thành đông đủ, Kiệm xây lập một cái đàn ở phía Tây,
rồi mổ ngựa trắng làm lễ sát huyết.
Mọi người bôi máu thề xong, Kiệm mới tuyên ngôn.
Từ mã sư là đứa đại nghịch trái đạo, nay ta dân mật chiếu của Thái Hậu,
khởi hích quân mã ngoài Nam đánh giặc.
Quan quân nghe tuyên ngôn, ai nấy đều vui vẻ phục tùng.
Kiệm thân dẫn sóm vạn quân đóng ở hạng thành,
còn văn khâm dẫn hai vạn quân đóng ở phía ngoài thành để tiếp cứu các nơi.
Kiệm lại truyền lệnh đi cắt quần kẻ tội sư
và kêu gọi các quần thú khởi binh ứng nghĩa giúp mình.
Bấy giờ từ mã sư tự dưng mọc một cái mụn thịt ở dưới mắt bên trái đau nhất e ẩm,
sư cho dời quan Thái Ym giao cắt đi, rồi lấy thuốc buộc lại.
Vì vậy phải nằm trong phủ liền mấy ngày dưỡng bệnh.
Bỗng hôm ấy được tin cáo cấp, sư cho mời Thái Quý Vân Túc vào phủ bàn biệt.
Túc dần kể sách rằng,
ngày xưa, Quang Vũ ngoài lần cả qua hạ,
thế mà tôn quyền dùng kế của Lã Môn đánh ức Kinh Châu,
rồi hết sức phủ dụ quý lạo thân thuộc gia quyến các binh sĩ theo Quang Vũ.
Vì thế mà quân sĩ của Quang Vũ tan như ngói vở.
Nay họ hàng các tướng sĩ hiện đóng tại ngoài Nam, đều ở Trung Nguyên.
Vậy đại tướng quân nên cho người đi phủ dụ họ,
rồi sau đem quân chặn lối về của quân giặc,
thì làm gì mà chúng không tan như đất lỡ?
Sư đáp,
lời Thái Quý bạn rất hay,
chỉ vì cái mụn ở mắt ta vừa mới cắt,
còn đau chưa khỏi, không thể đem quân đi được.
Mà sai người khác đi thay thì lòng ta không yên.
Bây giờ có viên trung Thư Thị Lan là chung hội cũng đứng hầu bên cạnh.
Hội tiến lên nói,
quân sĩ cắt dùng quài, sợ có tiếng là dũng mạnh,
nguyện khí sắc xảo đáng kể.
Sai người khác đem binh đi dẹp thì có nhiều điều không lợi.
Nếu sơ xuất xảy ra thì việc lớn, hỏng mất.
Sư bỗng dùng vậy nói.
Phi ta tự đem quân đi thì không dẹp được giặc.
Bàn truyền cho em là Tư Mã Chiêu ở lại giữa Lạc Dương.
Quyên nhiếp việc trừ chính,
còn mình lên một cổ xe có trải nềm êm,
mang bệnh mà ra miền Đông dẹp giặc.
Sư sai Trấn Đông Tướng Quân là gia các đảng,
tổng đốc các đạo quân dự châu,
kéo qua Bến An Phong đánh Thọ Xuân.
Sai Trinh Đông Tướng Quân Hồ Tuân,
lãnh các đạo quân Thanh Châu,
qua các đất tiêu tống,
đóng chặn đường lui của giặc.
Sai Thứ Sự Dự Châu là giám quân dân cơ,
đem quân tiền bộ đánh chiếm lấy đất Trướng Nam.
Còn Sư thống lĩnh đại quân đóng đồn ở Tương Dương,
rồi cho họp dân dở dưới trướng bàn Việt.
Duyên Hoàng Lộc quân là trịnh bao bàn rằng.
Quán Khâu Kiệm là kẻ có cơ mưu,
nhưng không quyết đoán,
giăng thầm có khỏe mà không mưu.
Nay đại tướng quân bất thần đem quân tới dẹp,
tôi e rằng binh sĩ giang hoài còn đang hung hăng.
Ta chỉ nên coi thường địch.
Chỉ nên đắp lưỡi cao, đào hào sâu,
chờ khi nhuệ khí địch giảm bớt,
hãy đánh.
Đó là mưu kế chua áo phù ngày xưa vậy.
Giám quân dân cơ gạt đi mà rằng.
Nói thể không đúng,
cái loạn ở ngoài Nam ngày nay
không phải tự quân dân làm phản,
chẳng qua bị quán Khâu Kiệm bức bách mà gượng theo.
Nếu đại quân tới đánh,
tôi chắc là địch quân tàn như ngói dở.
Từ mà sư nói,
giám quân bàn thế rất phải.
Bèn cho quân tiến đóng trên bờ sông Ẩn Thủy,
còn đạo trung quân ở Ẩn Kiều.
Dương Cơ bảo sư,
Thành Nam đúng là nơi đóng quân rất tốt,
xin đến chiếm lấy,
nếu chậm trễ sợ quán Khâu Kiệm chiếm mất.
Sư bèn cho Dương Cơ đem đạo quân tiền bộ
đến chiếm Nam đúng mà đóng trại.
Quán Khâu Kiệm ở hàng thành nghe tin
từ mã sư đem quân tới,
dội họp các tướng thương nghị.
Tướng tiên phong là các ung nói,
Thành Nam đúng là một nơi giữa núi men sông,
đóng quân rất tốt,
nếu quân địch chiếm được trước,
ta khó mà đánh đuổi,
nên tiến nhanh lên mà chiếm lấy.
Kiệm cho là phải,
tự mình đem quân đi lấy Nam đúng.
Trong khi đi đường,
thấy quân lưu tin phi ngựa tế báo,
Nam đúng đã có quân mã đóng trại rồi.
Kiệm không tin,
thân đến trước xem xét.
Đến nơi quả nhiên thấy cờ quạt
ngàn ngạc cắm đầy đồng,
doanh trại đóng rất tệ chỉnh.
Kiệm đành phải quay về,
không nghĩ được cái gì khác nữa.
Chợt có tin triệu mã báo về,
tuân tuấn bên ông ngô đem quân qua sông
đánh ức thành thọ xuân.
Kiệm sợ quá nói,
nếu thọ xuân mất,
ta biết về đâu.
Liền đêm đó Kiệm rút quân về hàng thành.
Từ mà sư thấy quán Khâu Kiệm rút lui,
liên hợp các quan thương nghị tiểu phạt.
Thượng thư Phó Giả nói,
Kiệm sợ dĩ phải rút quân,
là sợ đông ngô đánh ức thọ xuân đấy.
Này thế nào Kiệm cũng về đóng ở hàng thành,
rồi chiêu quân ra chống giữ.
Xin tướng quân cho một tướng đi đánh
lấy thành lạc gia,
một tướng đến đánh hàng thành,
một tướng đi đánh thọ xuân,
thì quân ngoài nam kia thấy đầu cuối
cùng bị đánh, ác phải lui.
Tôi xem thứ sự Duyền Châu
là đặng ngại lắm mô nhiều trí,
nên sai đi đánh lạc gia,
rồi ta đem trọng binh ứng chiến,
thì khó gì chẳng phá được giặc.
Sư nghe theo kiếp sai sứ
đưa hịch văn cho đạn ngại,
truyền đem quân Duyền Châu đánh lạc gia.
Sư sẽ tiến quân đến hội ở đấy.
Quán Khâu Kiệm đóng ở hàng thành,
chỉ sợ có quân tới đánh lạc gia,
nên luôn luôn cho người đi dò thám,
và cho mời văn Khâm đến ghen quân
để cùng bàn.
Khâm nói, đồ đốc chớ ngại,
tôi và thằng cháu ương
chỉ xin 5.000 quân là cam đoan
giữ được thành lạc gia.
Kiệm vui mừng,
điểm 5.000 quân cho cha con văn Khâm đi giữ.
Bộng tin từ tiền quân báo về,
phía tây thành lạc gia có quân địch đóng,
ước độ hơn một dạng.
Xa xa trông vào trung quân,
thấy có cờ tiết mau,
lưỡi vứt vàng,
tán tía tán đỏ.
Trước trướng có dựng một lá cờ bằng gấm
theo chữ xoáy.
Có lẽ tư mạ sư có mặt trong đó.
Chúng đang lập doanh trại,
nhưng chưa được hoàn bị.
Bấy giờ văn ương đứng bên cạnh nghe báo,
liên bàn với cha.
Nhưng lúc chúng chưa lập xong doanh trại,
ta nên chiêu quân ra làm hai phía tạ hữu
mà đánh thốc giàu,
có thể nắm chứng phần thắng.
Văn Khâm hỏi,
còn tính liệu nên ra quân vào lúc nào?
Xâm xẩm tối nay,
cha cứ đem 2.500 quân
theo phía nam đánh giàu thành,
còn xin đem theo 2.500 quân
từ phía bắc đánh giàu.
Hẹn đúng canh ba thì gặp nhau trong trại nguyện.
Cầm nghe theo,
đêm đó chiêu quân,
rồi hai cha con cùng tiến.
Văn ương, năm ấy vừa đúng 18 tuổi,
mình cao 8 thước,
mặc đồ giáp trụ,
lưng giác ròi đồng,
cầm giáo lên ngựa trông
về phía trại nguyện tiến tới.
Đêm ấy tư mở sư đem quân đến lạc gia,
vừa đóng trại an doanh,
vừa chợ đàn ngãi.
Nhưng chưa thấy quân ngãi kéo đến,
sư bị chỗ thịt mới cắt
ở dưới mắt phát sưng,
miệng dích thương há ra,
đau nhất không ngớt.
Phải nằm trong trướng trung quân,
sai vài trăm giáp sĩ
đứng dây chung quanh hộp vệ.
Giao khoảng canh ba,
chợt nghe có tiếng hò reo
ở trong trại đang lên.
Người ngựa nhốm nháo rầm rầm,
sư vừa hỏi tạ hữu là việc gì.
Có một người thưa,
bẩm,
có một cánh quân từ phía bắc đánh giao trại,
dẫn đầu là một tướng trẻ tuổi
dũng mạnh vô cùng,
không ai chống nổi,
hiện đã đánh tan
vàng phồng ngựa của quân ta.
Sư sợ bá ruột nóng như lửa đốt,
rồi con ngươi bên mắt có lên mụn nổ,
bật ra khỏi tròng.
Máu chạy thánh thoát,
rơi xuống đất,
đau đớn nhất nhối,
không sao chịu nổi.
Nhưng vì sợ náo loạn lòng quân sĩ,
sư đành chiêu ôm chặt lấy đầu,
cắn răng chịu đau,
không dám hé miệng kêu rênh.
Đạo quân gian ương kéo đến phía trước,
đánh bờm giao trại,
xông xáo hai bên tạ hữu.
Đánh đến đầu quân tướng nguy rạc ra đến đấy.
Cũng có vài người chống cự,
nhưng không bị giáo đâm,
thì cũng bị rò đập,
chẳng ai thoát chết.
Ương chỉ mong cha đem quân đến tiếp ứng,
mà sao lạ quá,
Ương đã mấy lần đánh giao trung quân,
nhưng đều bị cung nọ bắn ra như mưa,
không sao giao được.
Ương đánh giết đến lúc trời đang tảng sáng,
chợt nghe từ phía bắc trại nguy có tiếng trống gian rênh.
Ương ngoảnh lại hỏi tạ hữu,
quái, phụ thân ta không đánh từ phía nam giao tiếp ứng,
lại từ phía bắc kéo quân tới là thế nào?
Nói xong, ương phi ngựa ra xem,
thấy một cánh quân như lường gió mạnh kéo tới.
Tướng dẫn đầu là đàn ngại,
ngại vỗ ngựa cầm ngang đại đao tiến lên mắn.
Tên giặc phản chủ kia, đừng chạy nữa.
Ương giận lắm, múa giáo lại đâm.
Giáo qua đào lại,
đánh đến 50 hiệp, không phân hơn thua.
Đàn lúc hai bên đánh nhau hăng,
thì quân nguy tiến lên,
trước sau đánh ép lại.
Bộ hạ và quân sĩ của Giang Ương thấy vậy,
bỏ chạy tạng mát rồi trốn hết.
Giang Ương một giáo một cửa đánh rạc quân nguy làm hai,
mở đường máu chạy về phía nam.
Phía sau có trăm quân tướng nguy phấn khởi tinh thần,
dục ngựa đuổi theo.
Đuổi đến bên cầu Lạc Gia thì dần dần sắp kịp.
Chợt Giang Ương quay ngựa trở lại,
quát to lên một tiếng,
xông vào chỗ các tướng nguy,
ngọn roi đồng bay bùm bùm dùng dục,
dám về phía nào,
phía ấy có người ngã lăng xuống ngựa,
rồi bỏ chạy tán loạn.
Ương lại quay ngựa từ từ mà đi.
Sau khi chạy tán loạn,
bọn tướng nguy lại hợp vào một nơi,
một mình nó mà đánh được cả bọn ta.
Giờ cứ hợp nhau lại,
gắn sức đuổi đánh xem sao.
Thế là hơn trăm người lại đuổi theo.
Giang Ương đang đi,
ngay đằng sau có tiếng gió ngựa dồn dập,
ngoảnh lại thấy bọn tướng nguy.
Ương bừng bừng nổi giận quát.
Lũ chuồng nhắc kia,
không tiết mạng sao?
Rồi quay ngựa lại,
dung roi đánh vào cả lũ,
lại thêm mấy người bị roi đồng
dục chết lăng xuống ngựa.
Những người khác thấy vậy lại bỏ chạy.
Ương không đuổi,
lại quay ngựa mà đi thông thả
như không có chuyện gì.
Bọn tướng nguy đuổi đánh
rồi lại thua chạy,
chạy lui rồi lại quay lại đuổi đánh.
Cứ thế đến bốn năm lượt,
nhưng lần nào cũng bị Ương đánh lui.
Người sau có thơ khen Giang Ương rằng,
một ngựa một thương giết tướng Tàu,
tử lông xưa nức tiếng anh hào,
lạc gia sung trận,
nay còn có hổ tướng Giang Ương
đẫm khí cao.
Nguyên văn,
trường bản đương niên,
độc cự Tàu, tử lông,
tòng thử hiển anh hào,
lạc gia thành nội tranh phong xứ.
Hậu kiến Giang Ưỡng đẫm khí cao.
Số là văn Khâm đêm ấy dẫn quân đi
vì đường núi quanh co gập gần,
bị lạc vào hang núi.
Đi đến nửa đêm mới biết lầm đường,
đến khi tìm được lối ra
thì trời đã tan tảng sáng.
Khâm không biết quân mã của con ở đâu,
chỉ thấy quân nguỵ đã đắt thắng reo hò,
nên Khâm chưa đánh đã rút lui.
Quân nguỵ thừa thế đuổi theo đánh giết.
Khâm kéo quân trong dài phía thọ xuân mà chạy.
Trong quân nguỵ lúc bây giờ
có viên điện trung hiệu quý,
Doãn Đại Mục,
giống là người tâm phúc của Tàu Sản trước kia.
Sau Tàu Sản bị Tư Mã Y giết,
Đại Mục cố gần theo giúp Tư Mã Sư,
định mụn hề có dịp lại giết Sư
để báu thù cho sản.
Đại Mục lại chia thân với Giang Khâm.
Bây giờ thấy Sư bị nổ con người ở mắt
có mọc mụn, không cử động được,
mới vào trong trướng bẫm răng.
Giang Khâm dốn không có lòng phản,
chẳng qua bị quán khâu kiệm bức bách
mới hành động như vậy.
Đại tướng quân cho tôi đến dụ
chắc là Khâm về hàng.
Sư ưng cho đi,
Đại Mục đồn mũ mặc áo giáp,
lên ngựa đuổi theo Giang Khâm.
Khi gần kịp, bèn lớn tiếng gọi giới theo.
Giang Thứ Sử,
có cho Doãn Đại Mục này được gặp chút không?
Cầm nghe tiếng gọi,
quay đầu nhìn lại,
Đại Mục cởi mũ ra đặt trước yên,
cầm ro trỏ sang mà gọi răng.
Sao Giang Thứ Sử không nhẫn nại,
đợi lấy vài ngày nữa?
Đó là ý Đại Mục,
biết Tư Mã Sư sắp chết,
cho nên giờ xin đi dụ hàng,
để có dịp bảo Khâm lưu lại,
chờ cơ hội mà đánh.
Nhưng Giang Khâm không hiểu ý tốt của Đại Mục,
cứ lớn tiếng mắng lại,
rồi dân cung định bắn.
Đại Mục thấy vậy,
đành khóc mà quay trở về.
Giang Khâm thu nhặt người ngựa chạy về Thỏ Xuân,
không ngờ Thỏ Xuân đã bị gia các đảng
đem quân đến lấy mất rồi.
Đang định quay về hạng thành,
thì Đạn Ngãi, Hồ Tuân, Dương Cơ
kéo ba đảo quân đuổi đến.
Không thấy thế nguy,
bèn chạy sang Đông Ngô xin hàng tuần tuấn.
Còn quán Khâu Kiệm ở hạng thành,
nghe tin Thỏ Xuân đã mất.
Giang Khâm thua chạy,
mà ngoài thành có ba đảo quân tiến đánh,
đành phải xu hết quân trong thành ra đánh.
Giữa ra khỏi thành,
gặp ngay Đạn Ngãi,
kiểm sai các ung nghênh chiến.
Đánh chưa đầy một hiệp,
ung đã bị Ngãi chém một đao chích lăng.
Ngãi xua quân đánh tràn sang,
kiểm phải liều chết chống đỡ.
Quân sĩ giang hoài thì chưa đánh đã loạn,
lại thêm Hồ Tuân, Dương Cơ
dẫn quân bộ dây kính bốn mặt đánh dao.
Quán Khâu Kiệm liều đánh không nổi,
dội dẫn mười quân kỳ cướp đường mà chạy.
Chạy đến chân thành Thần Quyện,
được Dương Quyện lệnh là Tống Bạch mở cửa đón dao,
rồi sai làm cơm rượu dân.
Kiệm uống say rồi nằm quay ra.
Bạch sai người giết chết,
cắt lấy đầu, đem nộp cho quân hủy.
Thế là khắp dùng giang hoài bình định.
Từ mã sư bị đau nặng không dạy được,
cho đòi gia các đảng vào trướng,
trào ấn thụ,
gia gia phong làm chinh đông đại tướng quân,
đô đốc các lộ quân mã dân châu.
Xong việc, sư đem quân về hứa xương.
Từ ngày về hứa xương,
mắt sư lại càng đau dữ,
đêm nào cũng nằm mơ thấy bọn Lý Phong,
Trương Tập, Hạ Hầu Quyên,
ba người đứng trước giường.
Vì vậy, sư lại càng quản hốp tâm thần,
biết mình khó sống,
bèn sai người đến lạc giương gọi tư mãi chiêu.
Chiêu về đến nơi khóc lại trước giường,
sư dạng rằng,
ta giữ trọng quyền của triều đình,
nay muốn sang cánh nặng cho ai cũng không thể được.
Vậy em nên kế chức anh mà làm,
phàm diệt lớn giớ khinh thường quỹ thác cho người ngoài,
ma rứt lấy cái giả diệt tộc đó.
Nói xong, lấy ấn thụ trao cho chiêu,
nước mắt ràng rụa đầy mặt.
Chiêu vừa toan hỏi lại,
thì thấy sư kêu thét lên,
con ngư bên mắt còn lại cũng nổ bật ra ngoài mà chết.
Bây giờ là tháng 2 năm chính nguyên thứ 2 nhà Nguyễn.
Tư mãi chiêu,
một mặt làm lễ phát tan,
một mặt tôm về vương nguyện tạo mau.
Mau sai sướng mang chiêu đến hướng xương,
truyền chiêu đóng quân ở đấy để phòng đông ngô.
Chiêu còn do dự chiêu quyết,
chung hội bàn rằng,
tại tướng quân mới mất,
lòng ngư chưa định,
nếu tướng quân đóng binh lại đây,
dạng nhất xảy biến cố gì ở triều đình thì hối sao kịp.
Chiêu nghe lời đem quân và đóng ở phía nam sông Lạc.
Tạo mau nghe tin sợ hãi,
chưa biết định đoạt ra sao,
thì thái quý dân túc tàu.
Chiêu đã thấy anh giữ quyền lớn,
bè hạ cứ phong tước để y yên lòng là xong.
Mau bàn sai dân túc mang chiêu chỉ đến phòng tư mãi chiêu,
làm đại tướng quân,
coi việc thượng thư.
Chiêu nhận chức,
giao triều tạ ơn.
Từ đó các việc lớn nhỏ trong ngoài đều bịa tay chiêu quyết đoán.
Quân tế tác tây thuộc do được tin ấy,
dội báo về thành đô.
Hương Duy tôn với hậu chúa rằng,
này từ mà sương về chết,
từ mà chiêu mới giữ quyền lớn,
hẳn không dám rời khỏi Lạc Dương.
Thần xin nhân cơ hội này ra đánh ngụy,
để khôi phục trung nguyên.
Hậu chúa y tấu.
Duy ra hãng trung chỉnh đốn quân mã,
thì chinh tây đại tướng quân trưng dựt can rằng,
đất thuộc tà hiểm trở,
tiền lương chẳng có là bao,
không nên đi đánh xa.
Chỉ bằng cứ giữ lấy bờ cỏ cho an phận,
nâng đợi kẻ sĩ dộ yên dân chúng,
đó là kỳ hay để giữ nước lâu dài.
Duy không nghe nói.
Sư kia, lúc thừa tướng chưa ra khỏi lều tranh,
đã đoán biết thiên hạ chi ba.
Thế mà còn sáu lần đem quân ra kỳ sơn
để đánh trung nguyên,
chẳng may nửa đường tà thế
khiến cho công nghiệp chưa thành.
Ta chịu di mệnh của thừa tướng
phải hết lòng trung báo ân nước,
để nối chỉ người.
Dẫu chết cũng không ân hận.
Nay nước nguy gặp rắc rối ta có thể đánh,
không đánh còn đợi đến bao giờ.
Hạ hậu bá bàn.
Lời tướng quân dạy rất phải.
Nay ta nên cho quân Kinh Kỵ ra bào hãng.
Nếu lấy được Thao Tây, Nam An,
thì các quân khác có thể định xong.
Trưng dực Thế Duy quả quyết,
lại phải bàn theo.
Trước đây mấy lần ra quân không kết quả,
đều bởi chậm trễ.
Bình Pháp có nói,
đánh chỗ không phòng bị,
ra quân lúc địch không ngờ.
Nếu đánh thì ta phải quả tốt tiến quân,
khiến quân Nguy không kịp đè phòng,
Khương Duy bèn khởi 100 vàng quân
tiến ra bào hãng đánh Nguy.
Chú thích.
Lần này là tam phạt trung nguyên.
Hết chú thích.
Quân Nguy ra đến Thao Thủy.
Quân canh giữ biên giới Nguy,
rồi báo về Ung Châu,
cho Thứ sư Dương Kinh và phó tướng Trần Thái biết.
Dương Kinh đem 7 vàng quân đi trước đón đánh.
Trước khi giao chiến,
Khương Duy gọi Trưng dực vào dặn.
Cứ làm như thế, như thế.
Lại dặn hậu bá.
Ông thì như vậy,
cứ đúng như vậy mà làm.
Hai tướng lĩnh kế dẫn quân đi.
Duy tự đem đài quân đến bên sông Thao,
quay lưng ra sông bày trận.
Dương Kinh dẫn mấy viên nhà tướng ra trước trận hỏi.
Nguy với Ngo, Thục đã thành cái thế chân giặc.
Sao Nguy mấy lần cướp đất ta?
Duy nói.
Từ mạ sư nhà Nguy vô cớ giám phế trúc vua,
theo lẽ nước lân tiếp còn phải hỏi tội.
Muốn chi nước ta với nước Nguy là hai nước thù địch
lại để yên sao?
Dương Kinh ngoảnh lại bảo bốn tướng Trưng Minh,
Hoa Vĩnh, Lưu Đạt, Chu Phương rằng.
Quân Thục quay lưng xuống sông bày trận.
Nếu thua thì lăn xuống nước chết hết.
Khương Duy dẫu khỏe nhưng bốn người có sức mà đánh.
Nếu hắn thua chạy thì đụi đánh rấn lên cho ta.
Bốn tướng liền chi hai cánh tạ hũ xong ra đánh.
Duy chỉ đánh qua loa vài hiệp
rồi quay ngựa chạy về trận nhà.
Dương Kinh xua tất cả quân mã ô ạt đuổi.
Duy dẫn quân chạy ra Thao Tây.
Khi đến sát bờ sông,
Duy lớn tiếng hô hào quân sĩ.
Đã nguy cấp thế này,
sao chứ tướng không cố sức lên?
Các tướng đều quay trở lại đánh nhau quân nguy.
Quân nguy thua to.
Tức thì trưng dựt hạ hậu bá
từ phía sau cũng đánh ập lại,
dây quân nguy vào giữa.
Khương Duy trổ hết uy võ đánh nhau quân địch.
Sông tả đột hữu.
Quân nguy rối loạn dày đạp lên nhau.
Chết đến quá nữa.
Có một số bị bức bách quá.
Trận này quân thuộc chém được hơn dạng thủ cấp.
Thầy quân nguy nằm ngủ ngang
trên một khoảng dài 2 dặm.
Dương Kinh dẫn hơn trăm quân kỵ
gắn sức chạy được ra khỏi vòng dây
theo lối tách, lẹn vào thành địch đạo.
Vào thành rồi sai đóng cửa cố thủ.
Khương Duy toàn thắng,
cho khao thưởng ba quân,
rồi định tiến quân đánh lấy địch đạo.
Trương Dực can rằng,
tướng quân như thế này là công tràng đã thành,
quay danh gian dội,
chia bằng tạm thôi đi rút quân về.
Nếu tiến đánh nữa,
lỡ xảy việc bất như ý,
thi quá ra, dẻ rắn thênh chân mất.
Duy nói, không được.
Trước kia quân ta thua,
mà ta còn muốn tiến để tung quanh ở Trung Nguyên.
Hốn chi này đã thắng một trận thao thủy.
Quân tướng Nguy sợp dở mật rồi.
Ta nghĩ rằng thành địch đạo này
chỉ gậy móng tay là lấy được.
Ông chớ can ngăn, làm nản trí các tướng.
Trương Dực cố can nữa,
nhưng Duy không nghe,
cho lệnh tiến quân đến đánh địch đạo.
Bây giờ, chinh tây tướng quân đóng dự ung châu là Trần Thái,
đang định khởi quân đi báo thù trận thua của Dương Kinh.
Thì viên thứ sự duyên châu là đàn Ngãi kéo quân tới.
Thái đón vào chào hỏi xong.
Ngãi nói,
tôi dân mệnh đại tướng quân đến giúp tướng quân đánh giặc.
Thái hỏi Ngãi có kế gì hay không?
Ngãi bàn,
quân thuộc thắng ở thao thủy.
Nếu biết vụ rời Khương,
đem quân ra phía đông tranh mặt quang lũng giới ta,
Nhưng duy không biết làm như vậy,
giờ lại tiến quân đánh thành địch đạo.
Thành ấy rất kiên cố, không dễ gì phá được.
Chỉ làm phí sức quân sĩ mà rốt cuộc,
khó nhọc không công.
Vậy theo ý tôi,
ta cứ giàn quân ở núi Hạng Lĩnh,
rồi sau tiến đánh,
thì quân thuộc chắc chắn đại bại.
Thái khen,
thật là lời bàn xác đáng.
Liên truyền lệnh cho 20 đội,
mỗi đội 5.000 người,
đem theo nhiều cờ quạt, trống ốc,
ngày ẩn đem đi,
ra phục ở các hẹm sâu trong núi,
phía đông nam thành địch đạo.
Đợi quân thuộc đến,
thì cùng đánh trống thổi ốc gian lên.
Đêm thì nổ pháo đốt lửa,
giảm giờ như ứng chiến.
Chú thích,
bắt chiếc mẹo khổng minh,
nét tàu tháo ở Hán Thủy.
Hết chú thích.
Điều động 20 đội quân mai phục,
rồi đặn ngải,
trần thái mỗi người đem 2 dạng quân,
kế tiếp nhau mà tiến.
Khương Duy tiến quân đến địch đạo,
cho dây kính cả 4 mặt đánh vào.
Đánh liền mấy ngày vẫn không hạ được.
Lòng Duy phẫn bước phiền muộn,
chưa nghĩ được cái gì khác.
Sầm tối hôm ấy,
bỗng thấy 3-4 tên lưu tin về báo.
Có 2 đạo quân tiến đến,
trên cờ hiệu ghi rõ hàng chữ rất lớn.
Một đạo là Chinh Tây Tướng Quân Trần Thái,
một đạo là Duyện Châu Thứ Sự Đặng Ngải.
Duy lo sợ,
cho mời hạ hậu bá vào thư nghị.
Bá nói,
trước đây tôi thường nói với Tướng Quân,
Đặng Ngải từ nhỏ đã tin thông các phép dùng binh,
hiểu biết rõ địa thế các nơi.
Này hắn dẫn quân đến đây,
thật là một đám giặc mạnh của ta vậy.
Duy nói,
quân kia từ xa đến,
ta không cho nó nghỉ lấy hơi,
cứ đánh phủ đầu đi.
Thế là Duy để Trưng Dực ở lại đánh thành,
cho hạ hậu bá đem quân đón đánh Trần Thái.
Còn Duy, thân đi đánh Đặng Ngải.
Đi được chừng Nam Dạm,
bỗng nghe phía đông nam có tiếng pháo nổ,
rồi trống ốc gian cả rừng núi,
lửa cháy rực một góc trời.
Duy dọt ngựa lên ngắm xem.
Thấy búng chung quanh cờ nguy cắm sang sát,
Duy lo sợ nói,
mình trúng kế Đặng Ngải rồi.
Dội truyền cho hạ hậu bá Trưng Dực
bỏ thành địch đạo mà lui.
Thế là quân thục rút hết về hãng Trung.
Duy thân đi đoạn hậu,
nghe phía sau trống thúc Liên Hội không dứt.
Mãi tới khi lưu quân vào khỏi kiếm cát,
Duy mới biết rõ.
Hơn 20 chỗ có lửa đốt
trống đánh ốc thổi đều là hư trương
để dọa mình.
Bèn thu quân về đóng trại Trung Đê.
Hậu Chúa thấy Khương Duy lập được chiến công
ở Thao Tây.
Bèn Hạ Chiếu phong Duy làm đại tướng quân.
Duy nhận chức, dần biểu tạ ơn,
rồi lại bàn kế ra quân đánh nguy.
Đó chính là,
lập công đâu phải thêm chân rắn,
đánh giặc còn lo gắn sức hầm.
Chưa biết lần này bắt phạt ra sao,
xin xem hồi sau.
Lời bình của Mao Tôn Cương
trong Thánh Tháng Ngoại Thư
Người đại này xem đến
hồi động trác bậm vua Hán
hỏi đã mấy ai không tức giận?
Rồi đọc đến đoạn Tư Mã Sư
phếp vua ngụy thì ai mà chẳng hân quan?
Xem đến hồi Tào Tháo
giết Phục Hậu, ai mà không phẫn nộ?
Xem đến đoạn Tư Mã Sư
giết Trương Hậu, ai mà không quan hỷ?
Sao vậy?
Đó là quả báo dành cho họ Tào
mà ai cũng cho là thích đáng.
Tuy nhiên việc Tào Tháo giết Hoàng Hậu
hiếp vua nhà Hán
không nên để cho Tư Mã Sư bắt trước
mà làm giặt nhà ngụy.
Kẻ làm tô nhà Hán vì nhà Hán mà đánh giặt
thì kẻ làm tô nhà ngụy
sao lại không biết vì nhà ngụy mà đánh giặt?
Vì vậy mới có chuyện
quán khâu kiệm, tầm tả rơi lệ
khi nhắc đến việc vua bị phế
và mới có việc dăng khâm hưởng ứng giấy binh
dăng ương, cổ sức giết giặt.
Người trách truyện đã chép tỉ mỉ
từng chi tiết để khen từng người đại.
Hoặc có người hỏi
nhà ngụy bứt nhà Hán
thì có nhà Tư Mã bứt nhà ngụy để báo lại.
Vậy nhà Tư Mã
bứt nhà ngụy sao lại không bị quả báo?
Thưa rằng, có quả báo đi chứ.
Quả báo như tay dạ ở Kim Dung
vua Tấn ngày sau
cũng bị quyền thần đẩy ra thành Kim Dung.
Quả báo như cái nhục thanh y
vua ngoài đế nhà Tấn bị phiên dân
bắt mặc áo xanh đứng dân rượu.
Quả báo như cái xấu hy ngu
sửa nhà Tấn chép
vua nguyên đế là con giam loạn
nên mới có câu ngu hệ mã Hậu
rồi kết quộc cơ nghiệp nhà Tấn
cũng bị tống công là lô dụ
cướp mất. Tư Mã Sư không có con
Tư Mã Chiêu có con
thì con cháu phải gánh lấy quả báo.
Con người không con
thì tự mình đích thân gánh chịu.
Xem việc Tư Mã Sư nổ con người mắt
người ta càng thấy tổ giết hoàng hậu
và bỏ vua bị báo ứng rõ ràng vậy.
Hương Duy đánh Trung Nguyên
lần thứ ba sau khi Tàu Phương
đã bị phế. Tư Mã Sư đã chết.
Sư chết thì có chùa hở cho
mình tiến quân. Phương bị phế
cũng là dịp có giặc cho mình đánh.
Nhưng lòng Duy vẫn là vì
nhà Hán chứ không phải vì nhà Nguy
mà dịp giặc. Đã có ý niệm
đánh giặc cho nhà Hán thì dù có
tạm mượn cớ đánh giặc cho Nguy cũng
chẳng hại gì. Vì sao?
Vì lòng ngư đất Nguy đang muốn đánh họ
Tư Mã thì Duy cứ giảm giờ hưởng ứng
tờ chiếu đánh Tư Mã.
Lòng trời đang hại nhà Tàu thì Duy
càng thỏa chí đánh Tàu vậy.
