Hồi sinh làng ươm tơ, dệt nhiễu Hồng Đô | Ký sự Nhất nghệ tinh

Nghề Truyền Thống
340 Người theo dõi
229 Lượt xem video·16 thg 6, 2025
Làng Hồng Đô thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một làng nghề thủ công truyền thống có hàng trăm năm tuổi. Người dân trong làng không rõ nghề ươm tơ, dệt nhiễu được truyền từ đâu và tự bao giờ. Chỉ biết nong tằm, khung dệt đã trở thành người bạn thân thiết của của biết bao gia đình, bao thế hệ và cứ thế cha truyền con nối cho đến tận ngày nay. Với công đoạn khép kín, bí quyết gia truyền, thương hiệu nhiễu Hồng Đô từ xưa đã nổi tiếng khắp cả nước.
Làng Hồng Đô, huyện Điệu Hóa là một làng nghề thủ công truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm.
Người dân trong làng không biết ươm tơ, dệt nhiễu có từ đâu và có từ bao giờ.
Chỉ biết nong tơ, khung dệt đã trở thành người bạn thân thiết của biết bao gia đình, bao thế hệ
và được tra truyền con nối đến tận ngày hôm nay.
Với quy trình sản xuất khép kín cùng bí quyết tra truyền,
thương hiệu tơ Hồng Đô đã nức tiếng trong cả nước từ xa xưa.
Theo lời kể của các cụ cao niên,
làng Hồng Đô còn có tên gọi là làng Hồng,
thuộc Tổng Thiệu Hóa, chuyên làm nghề nuôi tầm, ươm tơ và dệt nhiễu.
Tương truyền vào thế kỷ 15,
trong một lần anh hùng dân tộc Lê Lợi bị giặc minh truy kích,
ông đã ẩn nó tại làng Hồng,
được người dân mang những tấm nhiễu làm ra, phủ lên người để che giấu.
Sau khi lên ngồi, Hoàng đế Lê Lợi đã ban cho làng tên mới là Hồng Đô.
Giờ kia làng Hồng Đô thường tổ chức lễ hội vào mỗi dịp đầu sân năm mới,
để tưởng nhớ ông tổ của nghề ươm tơ dệt nhiễu.
Truyền thuyết là vậy,
nhưng thực tế làng Hồng Đô nổi tiếng nhất khoảng 100 năm trở lại đây.
Vào nửa đầu thế kỷ 20,
thương hiệu nghề ươm tơ dệt nhiễu Hồng Đô đã phát triển ngang hàng
với các nghề truyền thống nổi tiếng cả nước,
như lụa Hà Đông, tơ Nam Định.
Nguồn tơ đẹp, mượt, kỹ thuật dệt tinh xào,
tạo nên những tấm nhiễu có giá trị cao,
là một trong những món hàng quý, bậc nhất thời bấy giờ.
Hơn nửa người dân trong làng vốn chăm chỉ khéo léo,
cùng với đất đai trù phú phù hợp với nghề trồng râu nuôi tầm,
giúp cho nghề ngày càng trở nên thị vượng.
Dẫu vậy, làng nghề 100 tuổi này từng trải qua những thang trầm.
Vào những năm cuối thế kỷ 20,
trong xu thế hội nhập đến kinh tế thế giới,
sản phẩm tơ nhiễu Hồng Đô không đủ sức cạnh tranh
với các hàng may mặc, tơ lụa công nghiệp về giá thành,
nên người dân chuyển dân từ trồng râu nuôi tầm sang làm các nghề khác.
Một phần đất trồng râu ven sông chuyển sang trồng các loại cây lương thực.
Làng nghề đứng trước nguy cơ mai một, tưởng chừng không thể vượt dậy.
Cả làng chỉ còn vài ba không rệt.
Nhằm khôi phục và phát triển nghề truyền thống,
tháng 7 năm 2011, xã Tiệu Đô trước kia,
nay thuộc thị trấn Tiệu Hóa,
thành lập Tổ hợp tác Liên minh trồng râu nuôi tầm.
Với mục tiêu đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
Tổ hợp tác đã bắt đầu từ khâu giống,
thay thế giống râu mà làng nghề đang sản xuất
bằng giống râu VH15 của Viện nghiên cứu râu tạm tơ Trung ương.
Đây là giống râu được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận,
có năng suất chất lượng cao.
Ngoài ra, tỉnh và huyện Tiệu Hóa cũng đã có nhiều hỗ trợ về vốn, công nghệ
để làng nghề được hồi sinh.
Vốn là con nhà nòi của làng nghề ươm tơ diệt nhiễu.
Anh Hoàng Viết Đức là một trong những người đi tiên phong,
phục dựng nghề truyền thống Hồng Đô.
Vừa làm vừa học,
anh đã nghiên cứu đưa máy sơ chế kén tầm vào địa phương.
Công ty của anh đã đứng ra thu mua nguyên liệu kén tầm cho bà con.
Vào vụ sản xuất, bình quân mỗi tháng, công ty thu mua khoảng 9 tấn kén.
Số nguyên liệu này được sơ chế định hình sản phẩm để tiêu thụ
ở các tỉnh Nam Định, Hà Bắc, Hà Tây và sang cả Lào, Thái Lan.
90 tấn kén thu mua mỗi vụ, sau khi sơ chế được 10 tấn tơ,
với giá bán 500-600 nghìn đồng 1 kg tơ.
Một năm, doanh thu của công ty đã đạt trên 5 tỷ đồng.
Không chỉ có doanh thu cao, công ty còn giải quyết việc làm cho 25 lao động thường xuyên
với mức thu nhập từ 4,4 đến 5 triệu đồng một người một tháng.
Theo anh thì yếu tố nào để giúp cho làng nghề ươm tơ,
giật nhũ Hồng Đô khôi phục và phát triển mạnh mẽ như bây giờ ạ?
Để khôi phục lại các nghề truyền thống thơ tẩm của huyện Thổ Hóa, Tân Hóa.
Yếu tố quan trọng nhất để làm nghề phát triển
Một đó là được đảng nhân nước quan tâm,
thay đổi dũng trụ cũ bằng dũng trụ mới năng sức chất lượng cao hơn.
Và đã có cơ chính sách hỗ trợ cho người nông dân,
thay đổi dũng trụ cũ rồi.
Nhưng ở đây, quan trọng nhất là nghề tơ tẩm
phù hợp với điều kiện môi trường cuộc sống ở hai bên mạng sung chung.
Bản thân tôi là một giám sát doanh nghiệp,
thì đã có cái hướng là một,
đối với quân nông dân thì đưa chất lượng sản phẩm lên
và nâng giá lên cho quân nông dân.
Để làm cho quân nông dân đạt những yêu cầu
và nghề công lao động được bảo đảm hơn.
Nhờ trồng các giống dâu mới với năng suất cao hơn nhiều so với giống dâu cũ,
cùng với kỹ thuật ươm tơ phát triển và đầu ra ổn định,
làng tơ nhiễu Hồng Đô đã hồi sinh và phát triển mạnh mẽ.
Toàn xã có hơn 200 hộ tham gia trồng dâu nuôi tằm,
ứng dụng công nghệ trong tất cả các công đoạn từ trồng dâu đến ươm tơ.
Thu nhập từ trồng dâu nuôi tằm lên tới 50-60 triệu đồng một hộ.
Nuôi tằm đã vất vả, công đoạn ươm tơ còn công phu hơn nhiều.
Nhưng dường như được sinh ra và lớn lên ở vùng đất ươm tơ diệt nhiễu từ xa xưa,
nên bàn tay của tất cả những người thợ này đều điều luyện như vốn có sẵn trong gen di truyền.
Trở lại với nghề sau thời gian vắng bóng,
những đôi bàn tay của các chị vẫn thoàn thoát bắt từng sợi tơ vàng ống
nhả ra từ những con tằm với sức nóng lên tới 100 độ C.
Đã bao đời nay, bí quyết và những kỹ thuật riêng biệt
đang mang lại cho làng nghề Hồng Đô một thương hiệu mà không phải nơi nào cũng có được.
Cần thấy sự thiếu lướng và nhanh tay.
Cái nước ươm thì cần phải độ nóng nó đồng đều.
Nóng quá cũng không được, mà nguội quá thì cũng không làm được.
Cái nghề này nói chung là nó thu nhập nó ổn định và nó cao hơn những cái cây trồng khác.
Những ngày vào vụ ở làng Hồng Đô,
đầu đầu cũng nghe tiếng lách cách của con thoi, tiếng máy quay tơ êm êm nhẹ nhẹ.
Cả một vùng đồng ruộng bát ngát đơn dâu và những bó tơ vàng trắng, ống ánh, răng đầy sân phơi.
Hiện nay, thiệu hóa có tới 27 cơ sở tham gia thu mua và chế biến cánh tằm.
Nhiều hộ dân còn đứng ra thu mua tơ tằm từ các huyện lân cận để về phát triển nghề ươm tơ rệt nhiễu.
Để đáp ứng nhu cầu sản xuất khép kín,
khu làng nghề ươm tơ rệt nhiễu Hồng Đô được quy hoạch trên diện tích 3 hectare.
Theo dự kiến, 25 hộ được đưa vào làng nghề.
Tuy nhiên đến nay, số hộ vào làng nghề rất ít.
Vâng, thưa anh, trong thời gian tới, doanh nghiệp sẽ có những chiến lược như thế nào
để phát triển nghề ươm tơ rệt nhiễu Hồng Đô ngày càng phát triển đến bền vững ạ?
Thì tới đây, có hướng phát triển bền vừng vô làng nghề tơ tằm,
tạo cho bản quân đông dân tiếp cận thêm học kỹ thuật
và bản thân doanh nghiệp thì cố gắng thêm nâng giá lên cho bản quân đông dân
để cho tạo giá trị quân kiến của bản quân đông dân được xuất ra.
Hai nữa là, như liệu kiến bây giờ thì bản thân doanh nghiệp cũng đã kết nối nhiều đối tác
trong nước và cũng như nước ngoài.
Cái hai nữa đề nghị là cái bìa mà cấp cho làng nghề,
nhất là đối với doanh nghiệp không được vây vốn ngân hàng để duy trì sản xuất phát triển,
tạo và làm nhân dân ở đây thì nếu như mà không có cái vốn vây
thì bản quân đông dân rất gieo học nhiều cố gắng.
Sau một thời gian dài lụy tàn, tơ vừng nhiễu Hồng Đô đã được khôi phục và phát triển mạnh mẽ.
Thương hiệu tơ Hồng Đô nước tiếng một thời
giờ đã dần trở lại và có chỗ đứng trên thị trường,
sánh ngang với các sản phẩm nổi tiếng trong cả nước như Tây Nam Định, Đụa Hà Đông
được các nước trong khu vực ASEAN như Lào, Thái Lan, Campuchia ưa chuộng.
Chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng,
với bề dây truyền thống của một làng nghề nước tiếng,
cùng với lòng yêu nghề, sự quan tâm và định hướng phát triển mô hình sản xuất phù hợp,
trong thời gian tới, chắc chắn làng nghề ươm tơ diệt nhiễu Hồng Đô sẽ khởi sắc hơn nữa,
mang lại thu nhập cao cho bà con nông dân, góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế địa phương.
