Lời nói đầu, vài nét về nghi thức
Kinh Vu Lan Báo Hiếu là tên gọi tác của Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân cha mẹ
dạy về đạo hiếu thảo của Phật giáo theo truyền thống Bắc Tông
Hai tụng bản trong nghi thức này là bản dịch Sông Thất Lục Bác của Hòa Thượng Thích Huệ Đăng
mà phần lớn Tăng Ni và Phật Tử đều thuộc lòng
Nghi thức được biên soạn gồm 3 phần
phần dẫn nhập, phần tránh kinh và phần hồi hướng
Đây là nghi thức thuần việt có nhiều bài sám nguyện
thường đọc tụng suốt mùa vu lan tháng 7 như là tháng báo hiếu của người con Phật
nhưng thật ra kinh này có thể được đọc tụng hàng ngày để hồi hướng công đức cho cha mẹ hiện tiện
đồng thời thắp sáng truyền thống hiếu đạo cho con cháu
Ngoài ra, nghi thức này có thể được sử dụng trong những dịp chúc mừng sinh nhật mẹ cha
chúc thọ cho ông bà và ngay cả các khóa lễ kỳ siêu cho cha mẹ quá cố và cử huyền thất tổ
Vì tính đa dạng của nghi thức, người thọ trì đọc tụng phải chọn đúng bài sám nguyện với nội dung thích hợp
Tụng nghi thức này là để tiếp tục nuôi lớn các hạt giống biết ơn và đệnh ơn đối với hai đấng sinh thành
Niên đại xuất hiện của hai kinh này không rõ, nhưng trễ nhất là vào thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch
Mặc dù tính chất nguyên thủy của bài kinh còn trong vòng nghi vấn và gắn liền với văn hóa Trung Quốc
Nhưng giá trị giáo dục đạo hiếu và đạo đức làm người trong hai kinh này
là điều nổi bật và không thể phủ nhận
Đó là đường hướng truyền bá Phật Pháp chung của các kinh điển đại thừa
Những mạnh tính giáo dục và đạo đức chứa tải trong từng bài kinh hơn là lai lịch và xuất xứ của các bài kinh đó
Sơ lược ý nghĩa vu lan
Thuật ngữ vu lan viết đủ là vu lan bồn và là từ dịch âm của người Trung Quốc về chữ phạm Ullambana
Một dịch âm khác nữa là Ullambana
Tùy tương đối gần âm với chữ phạm hơn nhưng chữ này lại không thông dụng trong giới Phật giáo
Ý nghĩa của chữ vu lan bồn còn trong vòng tranh luận
Theo quan niệm thông thường Ullambana được Ngài trí hút dịch nghĩa là giải đảo huyền
Về sau được diễn dịch thành giải đảo huyền cứu thống khổ
Giải là động từ có ý nghĩa cỡi trói hay giải phóng ai ra khỏi một cái ách nào đó
Đảo là ngược hay dốc đầu xuống đất, chân chổng lên trời
Nhằm ám chỉ cho hình thức nghiêm khắc và đau đớn tột độ của hình phạm
Huyền là treo
Như vậy giải đảo huyền có nghĩa là tháo bỏ các cực hình treo ngược của nghiệp xấu
Và cứu thống khổ là cỡi trói đau khổ cùng cực của chúng sanh trong các đường dưỡng
Theo tinh thần của kinh vu lan, cái khổ nguy khốn nhất của chúng sanh là bị sanh vào cảnh giới quỷ đói
Do đó, tháo gỡ cái cực hình treo ngược là tháo gỡ cái ách bị đầy đọa trong cảnh giới ngạ quỷ và địa ngục
Xin lưu ý thêm rằng, cách giải thích chữ Bồn với ý nghĩa là cái chậu, cái thao
Để đựng đồ cúng giường trong ngày rằm tháng 7 của Chư Tăng
Là cách giải thích dựa vào nghĩa chữ Hán của chữ Bồn
Vốn là từ phiên âm của thành tố Bà Na
Chứ không có trong ý nghĩa từ Nguyên của từ Ulam Bà Na
Cách giải thích như vậy rõ ràng không có cơ sở và lạc dẫn
Mặc dù trong suốt mạch văn của kinh
Kinh có đề cập đến việc sử dụng cái thao chậu để dân cúng phẩm vật cho các vị thánh tăng
Tấm tắt nội dung kinh Vu Lan
Vật thuyết Vu Lan Bồn Kinh là một bản kinh ngắn kể về nguyên nhân và phương pháp báo hiếu của tôn giả Mục Kiền Liên đối với thân mẫu của Ngài
Đại ý của kinh gồm có ba phần chính
Một, nói về nguyên nhân của pháp báo hiếu Vu Lan
Hai, phương pháp báo hiếu nhờ vào đạo đức cộng đồng
Và ba, báo hiếu là trách nhiệm chung của những người con
Duyên khởi của kinh như sau
Ngài Mục Kiền Liên vận dụng sáu phép thần thông tìm thấy mẹ bị tái sanh trong cảnh giới ngạ quỷ, đói khát, tiêu tuyển
Ngài liền lấy bát đựng cơm đem hiến dân cho mẹ
Do vì lòng tham, bà mẹ lấy tay trái chè lấy cái bát, tay phải vội vã vóc cơm
Nhưng cơm đã biến thành lửa nên không ăn được
Tôn giả sầu thang trở về thưa Phật để cầu cách cứu mẹ Ngài
Đức Phật dạy rằng chỉ nhờ vào uy lực đạo đức tu tập của Chư Tăng trong ba tháng an cư mới có thể đổ được mẹ Ngài Mục Kiền Liên
Ngài Mục Kiền Liên đã y theo lời Phật dạy thiết lập trai đạng nhờ oai đức chuyển hóa nghiệp lực của Chư Tăng
Mà mẹ Ngài đã thoát khỏi cảnh ngạ quỷ, tái sanh về cõi trời
Nhân dịp đó, Đức Phật đã quyên tất cả những người con nên học theo gương hiếu hành của Ngài Mục Kiền Liên
Để bao đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ hiện tại và cha mẹ bảy đời quá khứ
Nhân sự kiện Đức Phật đảnh lễ đóng xương khô, trong đó có cha mẹ nhiều đời trong quá khứ của Ngài
Đức Phật đã dạng dạy về 10 đức ân của hai đấng sanh thành như sau
1. Dình giữ con khi mang thai
2. Khổ đau trong sinh nở
3. Lo lắng trăm bệ đến lúc sinh
4. Nuốt đắng nhả ngọt
5. Nhường khô nằm ướt
6. Bụ mấm nuôi nấng
7. Tắm rửa săn sóc
8. Thương nhớ không nguôi
9. Quá vì con, thậm chí làm ác
10. Thương con trọn đời
Để con cháu đền đáp công cha nghĩa mẹ, Phật dạy phương pháp bao hiếu về phương diện vật chất lẫn tinh thần
Nếu đối với cha công ơn trời biển thuộc về phần nuôi nấng và giáo dục con cái
Thì đối với mẹ là cả bầu trời tình thương
10 tháng cư mang, 3 năm bú mấm cho đến lúc con cái được trưởng thành và hạnh phúc trong đời
Trong hành trình mang lại hạnh phúc cho con cái
Đôi lúc cha mẹ đã hy sinh hạnh phúc của bản thân
Có nhiều bậc cha mẹ trong kế sinh nhai đầy lao khó
Đã phải bất đắc dĩ, tính sao có lợi thì làm khác
Chẳng màn tội lỗi bị giam cầm
Hiểu được công ơn trời biển của hai đấng sinh thành
Tất cả những người làm con phải lo bao hiếu cụ lao
Đạo đức của lòng hiếu thảo theo kinh này khởi đi
Bằng đời sống đạo đức của bản thân
Thấy được sông thân ân trọng, nỗ lực đền đáp
Bằng tất cả tấm lòng trong mọi tình huống
Dù trong lúc khốn đốn khó khăn, vật đổi sao dời
Lòng hiếu kính của con cháu đối với cha mẹ trước sau như một
Vì tình thương và tấm lòng của cha mẹ dành cho con cái là không bờ bến
Tất cả sự bao hiếu của con thảo cháu hiền
Chỉ đáp đền được phần nào đó trong muôn một
Những kẻ bất hiếu là tự gieo bất hạnh cho bản thân
Và khó có cơ hội sống trong hạnh phúc thật sự
Do đó, hiếu thảo là nhu cầu không thể thiếu của hạnh phúc
Và là giá trị làm thăng hoa mọi giá trị trong cuộc đời
Các vấn đề Phật học
Đạo Hiếu Thảo
Điểm nổi bật và quan trọng nhất trong Kinh Vù Lan và Kinh Báo Ân Cha Mẹ
Là đạo hiếu như một phương pháp tu tập
Nếu trong Kinh Vù Lan, đương sự bao hiếu là ngày một kiện liên
Vì đệ tử lỗi lạc với thần thông số một
Thì trong Kinh Báo Ân, sự bao hiếu được khởi đi
Bằng sự kiện đức Phật đảnh lễ đóng xương khô
Trong đó có cử nguyền thất tổ của Ngài
Giá trị giáo dục ngụ ý của hai Kinh này rất cao
Thảnh nhân và Phật còn hiếu thảo với cha mẹ như vậy
Thì huống hồ là người phạm phu tục tử chúng ta
Mà không chịu sớm lo báo đáp
Điều đó còn nói lên rằng
Đạo hiếu là nền tảng của đạo làm người và đạo thánh nhân
Thiếu hiếu thảo, tính cách đạo đức của con người đã bị phá vỡ
Và do đó không thể trở thành các bậc hiền thánh
Để đời ca tùng và học hỏi theo được
Chính vì thế mà Kinh Nhẫn Nhục thuộc hệ Đại Thừa
Đã đẳng thức khóa hiếu với điều thiện tối cao
Và bất hiếu là điều ác nguy hại
Điều thiện tối cao là chí hiếu
Điều ác tối cao là bất hiếu
Kinh điển Đại Thừa cũng khẳng định
Tâm hiếu là tâm Phật
Hạnh hiếu là hạnh Phật
Nhằm xác quyết rằng
Đạo hiếu là con đường mà tất cả các bậc thánh hiền
Các bậc giác ngộ đã đi qua
Nói cách khác
Đạo hiếu thảo là đạo làm người và đạo làm thánh
Đây là bước khởi đầu của mọi đạo lý trên đời
Nếu tính cách thiền liền của đạo hiếu bị phá vỡ
Thì tính cách đạo đức của một cá nhân cũng không thành tựu được
Nghĩa là người bất hiếu không phải là người hiền lương và đạo đức
Và do đó không phải là con người đúng với nghĩa
Là một động vật tiến hóa về ý thức và đạo đức
Bằng cách đưa vai trò của chữ hiếu lên ngang hàng
Với điều kiện cao cấp
Phật giáo Đại Thừa đã nhấn mạnh
Tinh thần luân lý đạo đức của xã hội loại người
Như là điều kiện tiên quyết của sự sống nhân loại
Các nhà Phật học nguyên thủy
Dù khó tánh cách mấy
Cũng phải thừa nhận điểm mấu chốt của Kinh Vưu Lan
Là thần thông và tha lực không thể thắng được nghiệp lực
Kinh Vưu Lan còn đề cập đến sự kiện
Là trì quốc ở phương Đông
Tăng trưởng ở phương Nam
Quảng mục ở phương Tây
Đà vằng ở phương Bắc
Cũng không thể giúp tôn giả mục kiện liên
Ra khỏi quả báu ngạ quỷ
Đây là điểm nhất quán giữa hai hệ tư tưởng
Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa
Thần thông và tha lực
Không thể giúp chúng ta thoát khỏi luân hồi sinh tử được
Với sáu phép thần thông
Là thần thông biến hóa
Thiên nhãn thông, thiên nhị thông
Tha tâm thông, túc mạng thông, lậu tận thông
Và dù cho có được sự trợ giúp
Tha lực của bốn vị thiên vương hộ đời
Vậy mà tôn giả mục kiện liên
Đã không thể giúp cho mẹ ngài ăn được bát cơm
Uống hồ là cứu mẹ ra khỏi cảnh khổ hành hình của ngạ quỷ
Sự kiện sáu phép thần thông của ngài mục kiện liên
Mà không thể cứu được nghiệp ngạ quỷ của người mẹ
Cho thấy rằng nghiệp của chúng sanh
Chỉ có thể cải tạo và chuyển hóa
Do chính nội tâm và hành vi thiện ích của họ
Tất cả sự hỗ trợ nếu có của người khác
Cũng chỉ là những chất xúc tác
Để giúp họ từ chuyển hóa nghiệp của chính họ mà thôi
Oai lực của đạo đức cộng đồng
Cách thức mà ngài mục kiện liên
Cứu thoát mẹ ngài khỏi cảnh quỷ đói
Là nhờ vào oai đức giáo hóa
Qua hình thức chú nguyện của cộng đồng tì kheo thanh tịnh
Và có đủ giới đức
Đây là điểm quan trọng trong kinh vưu làng
Oai đức của cộng đồng
Được xem như là biển cả bao la
Chúng đức như hải
Có thể giúp chúng ta hoàn tất các Phật sự
Một cách mỹ mạn
Ở đây là giáo hóa và cứu độ nạn nhân
Trong thế giới ngạ quỷ
Nội dung của bài kinh
Khuyến khích và dạy bảo chúng ta
Nên sống nương tựa vào đạo đức cộng đồng
Trong việc tu tập và làm Phật sự
Do đó đạo đức cộng đồng được xem là giải pháp
Của mọi vấn đề đạo đức và luân lý của thời đại
Tương tự trong cuộc giáo hóa chúng sanh
Chúng ta cần đến một sức mạnh đạo đức tổng hợp
Và mang tính cộng đồng như vậy
Chính nhờ vào đạo đức cộng đồng
Của các vị thánh tăng và cao tăng nghiêm trì giới luật
Mẹ ngài mục kiện liên
Đã được cảm hóa rồi đi đến tự chuyển hóa
Và nhờ đó bà được giải thoát
Cần nói rõ thêm rằng
Bà được thoát cảnh ngạ quỷ
Không chỉ đơn thuần do sức chú nguyện của Mười Phương Tăng
Thực chất là do sức oai thần đạo đức
Của Mười Phương Tăng
Đã cảm hóa được bà
Giúp bà tự chuyển hóa các nghiệp xấu ác của ngạ quỷ
Phá quỷ tối đa nghiệp thiện
Tái sanh về cảnh giới tốt
Đây là một quy trình vừa tâm lý vừa đạo đức
Trên nền tảng nỗ lực của tự tâm
Nói cách khác
Nếu bản thân mẹ của ngài mục kiện liên
Không tự nỗ lực để chuyển hóa
Nghiệp xấu ác của chính bà
Thì oai đức của chư Tăng
Cũng vô phương cứu chữa
Đó là mấu chốt của vấn đề cứu độ
Trong kinh điển đại thừa nói chung
Và kinh vu lan bồn nói riêng
Phẩm vật và tấm lòng
Một vấn đề cần lưu tâm về kinh vu lan
Là vấn đề phương pháp báo hiếu
Qua việc cúng dường trai tăng
Trong ngày rầm tháng 7
Kinh văn chép
Đó là ngày Phật hoan hỷ
Và chư Tăng thanh tịnh
Sau 3 tháng chuyền rồng
Tu tập thiền định
Và phá khuy giới đức
Thực ra
Không phải chỉ có ngày rầm tháng 7
Đức Phật mới hoan hỷ
Đức Phật luôn luôn hoan hỷ
Trong mọi thời gian
Nói cách khác
Nơi nào và lúc nào
Có những người con
Hiếu thảo
Cung kính
Nuôi dưỡng cha mẹ đúng pháp
Nơi đó có sự hoan hỷ của Phật
Nơi đó có sự sống đạo đức
Nơi nào con cái
Bất khiếu ngộ nghịch với cha mẹ
Nơi đó không có sự hoan hỷ
Mà chỉ có mặt
Của đau khổ và bất hạnh
Sở dĩ kinh văn nói đến rầm tháng 7
Là ngày Phật hoan hỷ
Là nhằm nhấn mạnh
Vào hành vi hiếu thảo của các người con
Trong ngày mang tính biểu tượng
Đạo hiếu và báo hiếu này
Kể đến vấn đề cúng dường chư tăng
Kinh văn có nói
Xấm đủ mọi phẩm vật tươi tốt và thường hàng
Đây là một cách mô tả
Mang tính ẩn dụ văn học
Trong kinh điển đại thừa
Cách mô tả của kinh văn
Phản ánh một quan niệm rằng
Người con hiếu thảo phải sẵn lòng vì cha mẹ
Không tiết tiền của
Để báo đáp công ơn sanh thành của cha mẹ
Xấm các thức ăn ngon và sang trọng
Phải được hiểu là
Cách thể hiện lòng trí thành
Hay chân thành của người con
Đối với việc chù lo cho cha mẹ
Chứ không nhất thiết
Là các phẩm vật thường hàng trong thực tế
Một khi lòng đã chân thành rồi
Thì số lượng và khối lượng vật chất
Dùng vào việc hiếu thảo
Không còn là vấn đề nữa
Nói cách khác
Chỉ có đủ lòng chân thành
Thì cúng cho tam bảo một nén hương
Một bát nước
Một cành hoa
Một trái cây
Cũng là báo hiếu cho cha mẹ
Thế mới biết
Trong đạo Phật
Chữ tam quan trọng đến thế
Tam là tiêu chí đánh giá thiện ác
Và là cái cân
Để đo lượng các trị số đạo đức của hành vi
Trong báo hiếu nói riêng
Và trong cuộc sống nói chung
Đạo Phật trong ý nghĩa này
Được xem là đạo dạy về tâm
Huấn luyện về tâm
Đối tượng giáo dục
Khi nghiên cứu kinh Vu Lan và kinh Báo Ân
Có một vấn đề cần đặt ra
Là đối tượng giáo dục của kinh này là ai?
Ngài một kiện liêng
Mẹ ngài một kiện liêng
Hay chúng sanh nói chung?
Câu trả lời ngắn gọn là thông điệp
Của hai bài kinh đạo hiếu này
Dành cho tất cả loài người
Những người từng là con
Và do đó phải có trách nhiệm
Kể đến thông điệp kinh Vu Lan và kinh Báo Ân
Còn hướng đến những chúng sanh đang bị đau khổ
Do bị nghiệp bất thiện gây ra
Trong đời sống hiện tại
Cũng như trong quá khứ
Do đó
Việc báo hiếu không chỉ dành cho hàng đệ tử tại gia
Mà còn chung cho hàng xuất gia
Việc cứu độ không chỉ dành cho người sống
Mà còn cho người quá vạn
Với tinh thần cứu sanh độ tử
Đạo Phật đã thật sự đi vào ngõ ngách của cuộc sống
Độ người còn sống
Để giúp họ sống hạnh phúc
Ở hiện tại và tương lai
Độ người đã chết
Để giúp họ sớm thoát khỏi cảnh giới xấu xa
Và đau khổ
Nếu người hành trì Đạo Phật
Muốn biến Đạo Phật thành Đạo
Chỉ độ người sống mà không có độ người chết
Thì họ đã làm cho Đạo Phật
Trở nên không tròn vẹn
Ngược lại
Nếu biến Đạo Phật thành Đạo
Chỉ có độ người chết mà không có độ người sống
Lại càng làm cho Đạo Phật
Không còn là Đạo Phật nữa
Nói cách khác
Đạo Phật không quan tâm đến nhiều phương diện
Của đời sống
Bao gồm sống và chết
Các hình thức nghi lễ cúng kiến cho người chết
Mà không thuyết pháp để độ người sống
Sẽ biến Đạo Phật
Thành một Đạo ma chây
Điều mà Đức Phật đã từng lên án
Khi Ngài còn tại thế
Mong sao những người con Phật
Ý thức được việc làm của mình
Không biến Đạo Phật
Từ một Đạo vì nhân sinh sống đồng
Thành một Đạo vì người chết
Giá trị Đạo Đức
Nếu Kinh Vu Lan Bồn
Và Kinh Báo Ân
Là thông điệp hiếu kính cha mẹ
Thì mùa Vu Lan
Là mùa biểu tượng của Đạo Hiếu
Trong Đạo Phật
Đó là mùa gợi chúng ta nhớ đến công ân sinh thành
Dưỡng dục của cha mẹ
Mùa Vu Lan do đó trở thành
Mùa Báo Hiếu
Lễ hội Vu Lan là lễ hội của sự hiếu thảo
Thương kính cha mẹ
Hiếu thảo cha mẹ
Thì chúng ta phải biết kính trọng cha mẹ
Vân lời cha mẹ dạy
Phùng dưỡng nuôi nấn cha mẹ
Sớm thầm tối viến khi cha mẹ ốm đau
Hướng dẫn cha mẹ
Quy y tam bảo
Trở thành người Phật tử chân tránh
Nếu cha mẹ chưa trở về
Nói chung người Phật tử
Phải biết đệnh ơn cha mẹ hiện đời
Cũng như cha mẹ trong đời quá khứ
Đạo lý của Vu Lan như vậy
Là đạo lý vì con người
Vì sự an lạc
Của tất cả chúng sinh
Từ phương diện xã hội
Lễ Vu Lan Báo Hiếu
Còn là dịp tốt để người Phật tử
Phát tâm cúng dưỡng tam bảo
Làm việc nhân tử
Phóng sanh cứu vật v.v
Tinh thần Vu Lan dạy chúng ta
Ý thức độ lường, bao dung
Hướng đến và giúp đỡ người khác
Trong tinh thần vô vị lợi
Ngoài ra, Vu Lan còn là cơ hội
Tốt cho chúng ta phát tâm bồ đề
Hướng đến các chúng sanh
Ngã quỷ đang đau khổ
Làm các việc công đức
Để hồi hướng cho họ
Một lễ hội có nhiều giá trị đạo đức và luân lý như vậy
Cần được phát huy
Để cho sự sống của con người
Hôm nay và mai sau
Thật sự an lạc
Trong đạo lý và tình người
Kết luận
Nói tóm lại
Hai bản Kinh Vu Lan và Kinh Báo Ân
Cùng chung một thông điệp
Gồm ba nội dung
Một, để cao đạo đức chữ hiếu
Hai, hướng dẫn phương pháp độ sanh
Qua chuyển hóa tâm thức
Của đối tượng
Và ba, khuyến khích các hình thức
Tôn kính và phụng sự tam bảo
Trong các dịp thích hợp
Để cao đạo đức chữ hiếu
Để cuộc đời có nhiều người con hiếu thảo
Bớt đi tình trạng suy thoái
Đạo đức trong dân gian
Xây dựng một xã hội an bình
Và hạnh phúc
Độ sanh qua chuyển hóa tâm thức chúng sanh
Là phương pháp để cao giáo lý nghiệp
Và tinh thần tự lực
Của từng chúng sanh trong ba cõi
Chỉ có con đường
Từ chuyển hóa tâm thức chính mình
Qua sự hướng đạo của tam bảo
Hành vi và lời nói của chúng ta
Sẽ trở nên thiền
Đây là con đường cứu độ bản thân
Và tha nhân có hiệu quả nhất
Mọi hình thức trông chờ
Vào tha lực của người khác
Chỉ là phản ánh
Của một nhận thức sai lầm về lý nhân quả
Ai làm nấy chịu
Ai tù nấy chứng của Đức Phật
Và tệ hơn nữa
Là một sự đổ vỡ
Của đời sống hướng thường của bản thân
Khuyến khích các hình thức
Tôn kính và cúng dường tam bảo
Một mặt gắn liền sự sinh hoạt
Của người con Phật với đạo Pháp
Mặt khác phản ánh thái độ
Tôn kính chân lý và đạo đức
Của người con đã dày công tu tập
Quảng bá chánh Pháp
Vì lợi ích của số đông
Vì lợi ích cho chư thiên
Và loài người
Với một thông điệp gồm ba nội dung như vậy
Kinh vù làng báo hiếu
Và lễ hội báo hiếu
Đã, đang và sẽ còn tiếp tục
Sống mãi trong đạo đức chữ hiếu
Và đạo lý làm người
Của tất cả con người trên hành tinh này
Cho dù, nguồn gốc của nó
Còn trong vòng tranh luận
Nói cách khác, các giá trị
Đóng góp của kinh vù làng báo hiếu
Và lễ hội vù lang cho đạo đức
Cuộc sống của nhân sinh
Đã lấn át hoàn toàn các nghiên cứu
Có tính cách lịch sử
Nhưng lại không phục vụ được gì cho cuộc sống
Đầy đau khổ và thương tâm
Của con người hôm qua, hôm nay
Và mai sau
Trong bối cảnh đó
Kinh vù làng báo hiếu
Đã nghiệm nhiên chói sáng mãi
Như vị cứu tinh cho đời sống đạo đức
Cho đạo lý hiếu thảo
Cho tình người hôm nay
Và mai sau
Mùa vù làng
Tại Ấn Độ năm 2000
Thích nhật từ
Cẩn trí
Một, nguyện hương
Nằm mồ bổn sư
Thích ca mâu ni Phật
Nguyện đem lòng thành kính
Gợi theo đám mây hương
Phượng Phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi tam bảo
Thệ trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật thương gia hồ
Tầm bồ đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chống quay về bờ giác
Hôm nay
Nhân mùa vù làng
Chúng con tệ tự trước Phật Đài
Phát nguyện trì tụng
Kinh vù làng và kinh báo hiếu
Nguyện cho chánh pháp được
Lan truyền khắp chốn
Lời Phật dạy được phổ biến muôn nơi
Người người tự bỏ
Tham giận si mê
Xứ xứ thấm nhuận từ bi hạnh phúc
Kính nguyện
Cha mẹ hiện tại
An khang trường thọ
Sửa pháp đượm nhuận
Trí tuệ nảy xanh
Đảo phiền dứt sạch
Nguyện cho hàng con cháu
Sống hiếu thảo thuận hòa
Nhớ ân đức mẹ cha
Trở nên người hiền thiện
Lại nguyện
Cha mẹ đã quá vãng
Cùng tất cả hương linh
Khởi tâm niệm tuệ giác
Thoát khỏi cõi luân hồi
Niệm Phật được nhất tâm
Siêu sinh về tình độ
Khắp nguyện
Tình sâu lời Phật dạy
Phát triển tâm bồ đề
Thực hành đạo Bồ-Tát
Đền đáp bốn ơn trọng
Mau chứng thành quả Phật
Nam mô hương cúng dường Bồ-Tát
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Này con nguyện quý y
Diệt trừ vô lượng tội
Dần lên lời tán tháng
Ước kiếp vẫn không cùng
Phật là đấng giác ngộ mình
Độ người thoát khỏi
Tử sinh bao đời
Từ bi trí tuệ rạn người
Là thầy ba cõi
Trời người xưa nay
Chỉ tầm đảnh lễ
Tất cả đức Phật ba đời
Thường trú trong mười phương
Pháp là phương thuốc
Dịu thay
Chữa lành bệnh khổ
Bao loại chúng sinh
Như vần trăng sáng lung linh
Soi đường ra khỏi
U minh mê mở
Chỉ tầm đảnh lễ
Tất cả tôn Pháp ba đời
Thường trú trong mười phương
Tăng là những bật chân tu
Biết đời huyển mộng
Giả từ ra đi
Thấm nhuận trí tuệ từ bi
Độ đời thoát khỏi
Tham si khổ sầu
Chỉ tầm đảnh lễ
Tất cả hiền thánh tăng
Ba đời thường trú trong mười phương
3. Tán hương
Lò hương
Vừa bén chiên đàn
Tỏa sông Pháp giới
Đạo tràng mười phương
Hiện thành mây báu cát tường
Xin Phật chứng giám
Tâm hương trí thành
Pháp thần các Phật tịnh thanh
Chứng minh hương nguyện
Phước lành rưới ban
Nằm mồ hương vân
Cái bộ tác
Nằm mồ hương vân
Cái bộ tác
Nằm mồ hương vân
Cái bộ tác
4. Phát nguyện trì kinh
Lậy đấng Thầy
Ba cõi
Quy mạng Phật mười phương
Này con Phát nguyện lớn
Thọ trì kinh vu lan
Trên đền bốn ân nặng
Dưới cứu khổ ba đường
Nguyện cho người thấy nghe
Đều Phát tâm bồ đề
Sống an vui giải thoát
Nằm mồ bổn sư
Thích ca mau ni Phật
Nằm mồ bổn sư
Thích ca mau ni Phật
Nằm mồ bổn sư
Thích ca mau ni Phật
Tán dương giáo Pháp
Pháp Phật cao siêu
Lý rồng sâu
Trăm nghìn muôn kiếp
Khó tìm cầu
Này con gặp được sinh trì tùng
Nguyện hiểu chân kinh
Nghĩa nhịm màu
Nằm mồ khai Pháp tạng
Bộ tác
Nằm mồ khai Pháp tạng
Bộ tác
Nằm mồ khai Pháp tạng
Bộ tác
Phật nói kinh vu lan bộn
Ta từng nghe lời dạy như vậy
Một thổ nọ thế tôn an trụ
Xá vệ thành kỳ thụ viên trung
Một liên mới đặn lục thông
Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm lưng
Công dưỡng dục thăm ân dốc trả
Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền
Làm con hiếu hành trước tiên
Bèn dùng hội nhãn dưới trên kiếm tầm
Thấy vòng mẫu sanh làm ngạ quỷ
Không uống ăn tiều tụy hình hài
Một liên thấy vậy bi ai
Biết mẹ đói khác ai hoài tình thâm
Lò phẩm vật đem dân từ mẫu
Đặn đỡ lòng cực khổ bấy lâu
Thấy cơm mẹ rất lo âu
Tay tả che đầy hữu hầu bóc ăn
Lòng bọn sẻn tiền căng chưa dứt
Sợ chúng ma cướp dịch của bà
Cơm chưa đưa đến miệng đà
Hóa thành thang lửa nuốt mà đặn đâu
Thay như vậy âu sầu thế thảm
Mục kiện liên bi cảm xót thương
Màu màu về trốn giãn đường
Bạch cùng sư phụ tìm phương giải nạn
Phật mới bảo rõ ràng căng cội
Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu
Dẫu ông thần lực nhiệm màu
Một mình không thể ai cầu đặn đâu
Dẫu ông thần lực nhiệm màu
Một mình không thể ai cầu đặn đâu
Lòng hiếu thảo của ông giàu lớn
Tiếng vang đồn thấu đến cửu thiên
Cùng là các bậc thần kỳ
Tà ma ngoại đạo bốn vị thiên vương
Cùng là các bậc thần kỳ
Tà ma ngoại đạo bốn vị thiên vương
Cộng ba cõi sáu phương tu tập
Muốn cho cứu được mạng người
Phải nhờ thần lực của mười phương tăng
Pháp cứu tế ta toan giảng nói
Cho mọi người thoát khỏi ách nàng
Bèn kêu mục thị đến gần
Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi
Rầm tháng bảy là ngày tự tứ
Mười phương tăng đều giữ lễ này
Phải toàn sắm sữa chớ chày
Thức ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thâu bồn đèn đuốt nhan dầu
Món ăn tinh sạch báo màu
Đựng trong bình bát vòng cầu kính dân
Trừ đại đức mười phương thọ thực
Trong bảy đời sẽ được siêu thăng
Lại thêm cha mẹ hiện tiền
Đặng nhờ Phước Đức tiêu khiên ách nạn
Vì ngày ấy thánh tăng đều đủ
Dầu ở đâu cũng tù hội về
Như người thiền định sơn khê
Tránh điều phiền não chăm về thiền na
Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả
Công tu hành nguyện thỏa vô sanh
Hoặc người núi thẩm kinh hành
Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tổng
Hoặc người đặng lục thông tấn phát
Và những hàng duyên giác thinh văn
Hoặc chư Bồ Tát mười phương
Hiện hình làm sải
Ở gần chúng sanh
Đều trì giới rất thanh
Đạo đức dạy chánh định chân tâm
Tất cả các bực thánh phạm
Đồng lòng thọ lãnh bát cơm lục hòa
Người nào có sắm ra vật thực
Đặng cúng dường tự tứ tăng thời
Hiện tiền phụ mẫu của người
Ba con quyến thuộc thầy đều nhờ ơn
Ba đường khổ chắc rằng ra khỏi
Cảnh thanh nhạc hướng thọ tự nhiên
Như con cha mẹ hiện tiền
Nhờ đó cũng đặng bá niên thọ trường
Như cha mẹ bảy đời quá vãn
Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung
Người thời tuấn tú hình dung
Hào quan chiếu sáng khắp cùng châu thân
Phật dạy bảo mười phương tăng chúng
Phải tuần theo thể thức sau này
Trước khi thọ thực đàn chay
Phải cầu chú nguyện cho người tính gia
Cầu thất thế mẹ cha thí chủ
Định tâm thần quán đủ đừng quên
Cầu thất thế mẹ cha thí chủ
Cho xong định ý hành thiền
Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dân
Khi thọ dùng nên an vật thực
Trước Phật Đại hoặc Tử Tháp Trung
Chư tăng chú nguyện viên dung
Sau rồi tự tiện thọ dùng bữa trưa
Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt
Mục liên cùng Bồ Tát chư tăng
Đồng nhau tỏ giả vui mừng
Mục liên cũng hết khóc than rầu buồn
Mục liên mẫu cũng trong ngày ấy
Kiếp khổ về ngạ quỷ được tan
Mục liên bạch với Phật rằng
Mẹ con nhờ sức thánh tăng khỏi nạn
Mục liên bạch với Phật rằng
Mẹ con nhờ sức thánh tăng khỏi nạn
Lại cũng nhờ oai thần tam bảo
Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra
Như sau đệ tử xuất gia
Vu lan bồn Pháp dùng mà độ xanh
Vũ lan bồn Pháp dùng mà độ xanh
Độ cha mẹ con đang tại thế
Hoặc bảy đời có thể đặn không?
Phật rằng lời hỏi rất thông
Ta vừa muốn nói con liền hỏi theo
Thiện nam tử tỳ kheo nam nữ
Cùng quốc vương, thái tử, đại thần
Tạm công tệ tướng bá quan
Cùng hàng lê thứ vàng dân cõi trần
Như chỉ muốn đền ơn cha mẹ
Hiện tại cùng thất thế tình thâm
Đến rầm tháng bảy mỗi năm
Sau khi kiết hạ chư tăng tự vệ
Chính ngày ấy Phật đã hoang hỉ
Phải sắm xanh đủ vị cơm canh
Đừng trông bình bát tinh anh
Chờ giờ tự tứ chúng tăng cúng dường
Đặng cầu nguyện sông đường trường thọ
Chẳng ốm đâu cũng chẳng khổ chi
Cùng cầu thất thế đồng thì
Lìa nơi ngã quỷ sanh về nhân thiên
Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp
Lại xa lìa nạn khổ cực thân
Môn sanh Phật tử ân cần
Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên
Thường cầu nguyện cha mẹ an ổn
Cùng bấy đời phụ mẫu siêu sinh
Ngày rầm tháng bảy mỗi năm
Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền
Lệ cứu tế trí thành sắp đặt
Để cúng dường chư Phật chư Tăng
Ý là báo đáp thù ân
Xanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu
Ý là báo đáp thù ân
Đệ tử Phật lo âu gìn giữ
Mới phải là thích tử thiền môn
Vừa nghe giức Pháp lan bồn
Môn sanh tứ chúng thảy đều hỷ hoang
Mộc liên với bốn bang Phật tử
Nguyện mộc lòng tính sự phụng hành
Trước là trả nghĩa xanh thành
Sau là cứu giúp chúng sanh muôn loại
Nam mô đại hiếu một kiện liên bồ tác
Phật nói kinh báo hiếu công ơn cha mẹ
Một thổ nọ thế tôn an trù, xá vệ thành kỳ thủ viên trung.
Chừ tăng nhóm hội rất đông, tính ra đến số hai muôn tám ngàn.
Lại cũng có các hàng Bồ Tát, hội tại đây đủ mặt thường thường.
Bây giờ Phật lại lên đường, cùng hàng đại chúng Nam Phương tiến hành.
Bên đường bỗng rành rành mắt thấy, núi xương khô bỏ đáy lâu đời.
Thế tôn bẹn vội đến nơi, lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.
Đức An-an tuổi lòng ái ngại, chẳng hiểu sao Phật lạy đóng xương.
Vội vàng xin Phật dạy tường, Thầy là từ phụ ba phương bốn loại.
Ai ai cũng kính Thầy dường ấy, có sao Thầy lại lạy xương khô.
Phật dạy, trong các môn đồ, ông là đệ tử đứng đầu dạy công.
Bởi chưa biết đục trong chưa rõ, nên vì người ta tỏ đuôi đầu.
Đống xương dồn dập bấy lâu, cho nên trong đó biết bao cốt hài.
Chắc cũng có ông bà cha mẹ, hoặc thân ta, hoặc kẻ ta sanh.
Luân hồi sanh tử tử sanh, lục thân đời trước thi hài còn đây.
Ta lễ bái kính người tiền bối, và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa.
Đống xương hỗn tạp chẳng vừa, không phân trai gái bỏ bừa khó coi.
Người chịu khó xét soi cho kỹ, phân làm hai bên nữ bên nam.
Để cho phân biệt cốt phàm, không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.
Đức An-an trong lòng ái ngại, biết làm sao phân biệt khỏi sai.
Vội vàng xin Phật chỉ bày, vì khó chọn lựa gái trai lúc này.
Còn sanh tiện dễ bề sắp đặt, cách đứng đi ăn mặc phân minh.
Chờ khi rã sát tiêu hình, xương ai như nấy khó nhìn khó phân.
Phật mới bảo An-an nên biết, xương nữ nam phân biệt rõ ràng.
Đàn ông xương trắng nặng oằng, đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.
Người có biết cớ sao đen nhẹ, bởi đàn bà sinh đẻ mà ra.
Sinh con ba đấu huyết ra, tám học bốn đấu sữa hòa nuôi con.
Vì cớ ấy hao mòn thân thể, xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.
An-an nghe vậy bi ai, sót thương cha mẹ công dạy dưỡng sanh.
Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo, phương pháp nào báo hiếu song thân.
Thế tôn mới bảo lời rằng, vì người ta sẽ phân trần trước sau.
Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc, sanh đặng con mười tháng cưu mang.
Tháng đầu thai đầu tợ xương, mai chiều dình dữ sợ tan bất thường.
Tháng thứ nhì dường như sữa đặc, tháng thứ ba như cục huyết ngưng.
Bốn tháng đã tượng ra hình, năm tháng ngủ thể hiện sinh rõ ràng.
Tháng thứ sáu lục căng đầy đủ, bảy tháng thì đủ bộ cốt xương.
Lại thêm đủ lỗ chân lông, cộng chung số đến tám muôn bốn ngàn.
Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ, chín tháng thì đầy đủ vóc hình.
Mười tháng thì đến kỳ sinh, nếu còn hiếu thuần xuôi mình ra luôn.
Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu, nó vẫy vùng đạp vấu lung tung.
Làm cho cha mẹ hải hùng, sự đau sự cổ không cùng tỏ phân.
Sinh được con muôn phận an lạc, cũng vĩ như được bạc được vàng.
Thế Tùng lại bảo An Anh, ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin.
Điều thứ nhất giữ gìn thai giáo, mười tháng trường chú đáo mọi bề.
Thứ hai sanh đẻ gớm ghê, chịu đau chịu cổ mỏi mê trăm phần.
Điều thứ ba thăm ân nuôi dưỡng, cực đến đâu bền vững chẳng lây.
Thứ tư ăn đắng nuốt cây, để dành bùi ngọt đủ đầy cho con.
Điều thứ năm lại còn khi ngủ, ước mẹ nằm khô ráo phần con.
Thứ sáu xú nước nhai cơm, miễn con no ấm chẳng nhợm chẳng ghê.
Điều thứ bảy không chê ô ế, giặt đồ dơ của trẻ không phiền.
Thứ tám chẳng nở chia riêng, nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo.
Điều thứ chính miễn con sung sướng, giàu phải mang nghiệp chướng cũng cam.
Tính sao có lợi thì làm, chẳng mang tội lỗi bị giam bị cầm.
Điều thứ mười chẳng hàm trâu chuốt, dành cho con các cuộc thanh nhạc.
Thương con như ngọc như vàng, ơn cha nghĩa mẹ, sánh bằng thái sơn.
Phật lại bảo Anna nên biết, trong chúng sanh tuy thiệt phẩm người,
mười phần mê mùi cả mười, không tưởng ơn trọng đức dậy sông thân.
Chẳng kinh mến quên ơn trái đức, không xót thương dưỡng dục cụ lao.
Ấy là bất hiếu biết bao, thì những người ấy đời nào nên thân.
Mẹ sanh con cứu mang mười tháng, cực khổ dường gánh nặng trên vai.
Uống ăn chẳng đặn vị thai, cho nên thân thể hình hài kém suy.
Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết, sanh đặn rồi tinh huyết dầm về.
Vĩ như thọc huyết trâu dê, nhức sanh thập tử nhiều bề gian nan.
Con còn nhỏ phải lo săn sóc, ăn đắng cây bùi ngọt phần con.
Phải tắm phải giặt rửa trun, biết rằng dơ giấy mẹ không ngại gì.
Nằm phía ướt, con nằm phía ráo, sợ cho con ướt áo, ướt chăn.
Gây ra ghệ chóc khắp thân, khiến con phải chịu trăm phần thảm thương.
Trọn ba năm bú nương sữa mẹ, thân gây mòn nạo nệ với con.
Khi con vừa được lớn khôn, mẹ cha dạy bảo cho con vỡ lòng.
Cho đi học mở thông trí tuệ, dựng vợ chồng có thế làm ăn.
Ước mộng con được nên thân, giàu cho cha mẹ cơ bần quản chi.
Con đầu ớm tức thì lo chạy, giàu tốn hao cách mấy cũng đành.
Khi con căng bệnh đặn lành, thì cha mẹ mới an thần định tâm.
Cộng dưỡng dục sánh bằng non biển, cớ sao con chẳng biết ơn này.
Hoặc khi lầm lỗi bị rầy, chẳng tuân thì chớ lại bày ngộ ngang.
Hổn cha mẹ phùng mang trận mắt, khinh trưởng huynh nộ nạt thê nhi.
Bà con chẳng kể ra chi, không tuân siêu phụ lễ nghi chẳng tường.
Lời dạy bảo xong đường không kể, tiếng khuyên rằng anh chị chẳng màng.
Trái ngang chống bán mọi đàn, ra vào lui tới, mắng càng người trên.
Vì lỗ mạng tánh quen làm bướng, chẳng kể lời trưởng thượng dạy răng.
Lợn lên theo thói hung hăng, đã không nhẫn nhìn lại càng hành hung.
Bỏ bạn lành theo cùng chúng dưỡng, nết tập quen làm sự trái ngang.
Nghe lời vụ vỗ quân hoang, bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.
Trước còn tập theo thời theo thế, sau lập thân tìm kế sinh nhai.
Hoặc đi buôn bán kiếm lời, hoặc vào quân lính với đời lập công.
Vì ràng buộc đồng công mối nợ, hoặc trở ngăn vì vợ vì con.
Quên cha quên mẹ tình thâm, quên xứ quên sở lâu năm không về.
Ây là nói những người có chí, chớ phận nhiều du hí mà thôi.
Sau khi phá hết của rồi, phải tìm phương kế kiếm đôi đồng xài.
Theo trợm cướp hoặc là bài bạc, phạm tội hình tù rạc phải vương.
Hoặc khi mang bệnh giữa đường, không người nuôi dưỡng bỏ thân ngoài đồng.
Hay tin giữ bà con cô bác cùng mẹ cha sao xác buồn rầu.
Thường còn than khóc ưu sầu, có khi mang bệnh đuôi mù vấn vương.
Hoặc bệnh nặng vì thương quá lẻ, phải bỏ mình làm quỷ giữ hồn.
Hoặc nghe con chẳng lo lường, trà đình tử điếm phố phường ngao du.
Cứ mãi miết với đồ bất chánh, chẳng mấy khi hôm sớm vấn an.
Làm cho cha mẹ than vang, sành con bất hiếu phải mang tiếng đợi.
Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu, không ai nuôi thiếu thốn mọi điều.
Ôm đau đói rách kêu rêu, con không cấp dưỡng bỏ liều chẳng thương.
Phận con gái còn nương cha mẹ, thì có lòng hiếu để thuận hòa.
Cần lau phục dịch trong nhà, dễ sai dễ khiến hơn là nam nhi.
Xong đến lúc tùng phu xuất giá, lo bên chồng chẳng xá bên mình.
Trước còn loai vãng viến thăm, lần lần ngụy lạnh biệt tâm biệt nhà.
Quên dưỡng dục sông thân ân trọng, không nhớ công mang nặng để đâu.
Chẳng lo báo bổ cụ lao, làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay.
Nếu cha mẹ la rầy quỡ mắng, trở xanh lòng hờn giận chẳng kiên.
Chờ chì chồng đánh liên miên, thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than.
Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ, nói không cùng nghiệp dữ phải mang.
Nghe Phật chỉ rõ mọi đàn, trong hàng đại chúng lòng càng thảm thay.
Dèo xuống đất lấy cây lấy củi, đập vào mình vào mũi vào hông.
Làm cho các lỗ chân lông thấy đều rứm máu ướt đầm cả thân.
Định hồn mề tâm thần bất định, một giây lâu mới tỉnh than rằng.
Bọn ta quả thiệt tội nhân, xưa nay chẳng rõ không hơn người mù.
Này tỏ ngộ biết bao lầm lạc, trụt gan dưỡng như nát như tan.
Tội tình khó nổi than vang, làm sao trả đặng muôn ngàn ơn sâu.
Trước Phật đại ai cầu trần tố, xin thế tôn mẫn cố bi lân.
Làm sao báo đáp thù ân, tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình.
Phật bèn dụng phạm thinh sáu móng, phân tỏ cùng đại chúng lắng nghe.
Ơn cha nghĩa mẹ nặng nề, không phương báo đáp cho vừa sức đâu.
Vĩ có người ơn sâu dốc trả, cổng mẹ cha tất cả hai vai.
Giáp vòng hòn núi tu di, đến trăm ngàn kiếp ơn kia chưa vừa.
Vĩ có người gặp cơn đói rét, nùi song thân dân hết thân này.
Xương nghiền thịt nát phân thay, trải trăm ngàn kiếp ơn đây chưa đồng.
Vĩ có người vì công sanh dưỡng, tự tay mình khoét thủng song ngươi.
Chịu thân mù tối như vậy, đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đau.
Vĩ có người cầm dao thiệt bén, mổ bụng ra rút hết tâm can.
Huyết ra khắp đất chẳng than, đến trăm ngàn kiếp thấm ơn đau bằng.
Vĩ có người dùng ngàn mũi nhọn, đâm vào mình bất luận chỗ nào.
Tuy là sự khó biết bao, trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền.
Vĩ có người vì ân dưỡng dục, tự treo mình cúng Phật thế đèn.
Cứ treo như vậy trọn năm, trải trăm ngàn kiếp ơn thâm chưa đền.
Vĩ có người xương nghiền ra mỡ, hoặc dùng dao chặt bữa thân mình.
Xương tan thịt nát chẳng phiền, đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.
Vĩ có người vì công dưỡng dục, nuốt sắc nóng thấu ruột thấu gan.
Làm cho thân thể tiêu tan, đến trăm ngàn kiếp thâm ơn chưa đền.
Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng, giọt lệ tràn khó nổi cắm ngăn.
Đồng Thinh bạch Phật lời rằng làm sao trả đặng thâm ơn xong đường.
Phật mới bảo các hàng Phật tử phải lắng nghe ta chỉ sau này.
Các người muốn đáp ơn vậy phải toàn biên chép kinh đầy lưu truyện.
Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng, cùng ăn năng những tội lỗi xưa.
Cúng dường tam bảo sớm trưa, cùng là tu phước chẳng chừa món chi.
Rầm tháng bảy đến ngày tử tứ, thập phương tăng đều dự lễ này.
Đặng cầu nguyện xong đường trường thọ, hoặc sanh về tịnh độ an nhạc.
Ấy là báo đáp thù ân, sanh thành dưỡng dục sông thân của mình.
Mình còn phải cần chuyên trì giới, pháp tam quy ngũ giới giữ gìn.
Những lời ta dạy đinh ninh, hãy nên y giáo phụng hành đừng sai.
Được như vậy mới là khỏi tội, bằng chẳng thì ngục tối phải xa.
Trong năm đại tội kể ra, bất hiếu thứ nhất thật là trọng thay.
Sau khi chết bị đầy vào ngục, ngủ vô gián cũng gọi a tì.
Ngục này trong núi thiết vi, vách phên bằng sắc vây quanh bốn bề.
Trong ngục này hằng ngày lửa cháy, đốt tội nhân hết thảy thành thang.
Có lò nấu sắc cho tan, rót vào trong miệng tội nhân hành hình.
Một vã đủ cho người thọ khổ, lột thịt da đau thấu tâm can.
Lại có chó sắc rắn gan, phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân.
Ở trong ngục có giường bằng sắc, bắt tội nhân nằm khắp đó sân.
Rồi cho một ngọn lửa hồng, nướng quay kẻ tội da phồng thịt thao.
Mọc bằng sắc, thương, đau, gương, giáo.
Trên không trung đổ tháo như mưa, gặp ai chém nấy chẳng chừa.
Làm cho thân thể nát nhựa như tương.
Những hình phạt vô phương kể hết, mỗi ngục đều có cách trị riêng.
Như là xe sắc phân thay, chim ưng mổ mắt, trâu cầy lưỡi lê.
Chợ trì đặng chết liền rất đỡ, vì nghiệp duyên không hở hành thân.
Ngày đêm sống chết muôn lần, đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây.
Sự hành phạt tại A tiên ngục, rất nặng nề ngỗ nghịch sông thân.
Chúng người đều phải ân cần, thừa hành các việc phân trần khoảng trên.
Nhất là phải kinh này in chép, truyền bá ra cho khắp đông Tây.
Như ai chép một quyển này, ví bằng đặng thấy một vị Thế Tôn.
Nếu in đặng ngàn muôn quyển ấy, thì cũng bằng thấy Phật Vạn Thiên.
Do theo nguyện lực tùy duyên, chư Phật ủng hộ y như sở nguyện.
Cha mẹ đặng xa miền khóc lạnh, lại hóa sanh về cảnh Thiên Cung.
Khi lời Phật giảng vừa xong, khắp trong tứ chúng một lòng kính vân.
Lại phát nguyện thà thân này nát, ra bụi trò muôn kiếp chẳng nài.
Dầu cho lưỡi kéo trâu cày, đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên.
Vị như bị bá thiên đao kiếm, khắp thân này đâm chém phân thây.
Hoặc như lưới trói thân này, trải trăm ngàn kiếp lời Thầy chẳng sai.
Dẫu thân này bị cưa bị chặt, phân chia ra muôn đoạn rã rời.
Đến trăm ngàn kiếp như vậy, chúng con cũng chẳng trái lời Thầy khuyên.
Đức A-Nan kiền thiền đảnh lễ, cầu thế tôn đặc đệ hiệu kinh.
Ngày sau truyền bá chúng sinh, dễ bề phúng tụng trì chuyên tu hành.
Phật mới bảo A-Nan nên biết, quyển kinh này quả thiệt cao xa.
Đặc tên báo hiếu mẹ cha, cũng là ân trọng thiệt là chân kinh.
Các người phải giữ gìn châu đám, đặng đời sau y giáo phụng hành.
Sau khi Phật dạy đành rành, bốn bang Phật tử rất mừng, rất vui.
Thấy một lòng vân theo lời Phật, và kính thành tinh chất vẹn tuyền.
Đồng nhau tự tại Phật tiền, nhất tâm đảnh lễ rồi liền lui ra.
Kinh tinh hoa trí tuệ
Quán tự tại thực hành trí tuệ, bác nhã ba la mật sáng ngời.
Bây giờ Bồ-Tát quán soi, thấy rằng năm ẩn ba đời đều không.
Vượt tất cả các vòng khổ ách, hãy nghe này xá lời Phật ông.
Sắc nào có khác gì không, không nào khác sắc, sắc không vốn đồng.
Cả thọ, tưởng, thức, hành cũng thế.
Tảnh chân không các pháp viên thành, thấy đều chẳng diệt chẳng sanh.
Chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, giảm gì.
Trong chân không chẳng hề có sắc, chẳng thọ, tưởng, hành, thức trong không.
Mắt, tay, mũi, lưỡi, ý thân, sắc, thanh, vị, xúc, pháp, hương không còn.
Không nhãn thức đến không ý thức, không vô minh hoặc hết vô minh.
Không điều già chết chúng sanh, hết già hết chết, thực tình cũng không.
Không trí huệ cũng không chứng đắc, bởi có gì là chỗ đắc đâu.
Bảy lầu Bồ Tát dựa vào trí ba la mật thẩm sâu thực hành.
Mọi chướng ngại quanh mình tan biến, mọi việc đều chẳng khiến hoảng kinh.
Xa lìa mộng tưởng đảo điên, niết bàn rốt ráo an nhiên thanh nhạt.
Bác nhã ấy rõ ràng trí tuệ mà ba đời chư Phật nương vào,
Chứng thành quả giác tối cao, nên xem bác nhã thăm sâu đó là
Lời thần chú sâu xa bật nhất, lời chú thần rất mực quang minh.
Chú thần cao cả anh linh là lời thần chú thật tình cao siêu.
Trừ giấc được mọi điều đau khổ, đúng như vậy muôn thuở không sai.
Ngại liền tuyên nói chú này để người trì niệm sáng bày chân tâm.
Niệm Phật
Á-di-đà Phật sắc thân vàng, tưởng tốt không gì thể sánh ngang.
Mắt biết lắng trông trùm bốn bể, tù gì rực rỡ ngập hào quang.
Trong ánh quang minh vô số Phật, ứng thân Bồ-Tát hiện vô vàng.
Bốn mươi tám nguyện vì sanh chúng, chính loại soi đường bến giác sang.
Nam Mô Tây Phương cực lạc thế giới đại từ Đại Bi tiếp dẫn Đạo Sư Á-di-đà Phật.
Nam Mô Á-di-đà Phật
Nam Mô Ai Di Đạ Phật
Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát
Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát
Cảm ơn bạn đã dành thời gian lắng nghe
Nếu bạn thấy video này hữu ích
Hãy nhấn thích để ủng hộ kênh
Và chia sẻ cho bạn bè, người thân
Cùng đón nhận những giá trị ý nghĩa
Đừng quên đăng ký kênh
Và bật chuông thông báo
Để không bỏ lỡ những nội dung mới nhất
Mỗi lượt đăng ký của bạn
Là nguồn động lực to lớn
Giúp chúng tôi tiếp tục mang đến
Những bài học sâu sắc và truyền cảm hứng
Hẹn gặp lại bạn
Trong những video tiếp theo
Chúc bạn luôn an yên và hạnh phúc