Vũ Khí Thời Tiết – Thứ Quyền Năng Thao Túng Toàn Diện Chiến Tranh
Với sự tiến bộ như vũ bão của nền văn minh và khoa học công nghệ, khả năng biến đổi thời tiết theo ý muốn giờ đây đã không còn là điều viễn tưởng, Loài người đang thực sự từng bước làm chủ được thứ quyền năng khủng khiếp này. Thậm chí, chúng ta đã và đang vũ khí hóa nó để sử dụng cho mục đích chiến tranh.
----------------------------- ▶ ‘CDTeam - Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected] ▶ Mọi đóng góp cho kênh (donation) xin vui lòng gửi về STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường. ▶ Xem video Vũ Khí Địa Chấn: • Lịch Sử Thế Giới Suýt Sang Trang Mới ... ▶ Xem video Sự Thật Chưa Biết Về Vũ Khí Hạt Nhân: • Sự Thật Chưa Biết Về Vũ Khí Hạt Nhân ... ▶ Xem video Hệ Thống Trả Đũa Hạt Nhân Tự Báo Thù Của Nga: • Bí Mật Đằng Sau Hệ Thống Trả Đũa Hạt ...
Mưa rồng, bão tố, lớp xoáy, sầm xét
là một vài trong vô số các hình tượng thời tiết khắc nghiệt diễn ra trên trái đất.
Vói thời cô đại, chúng được tổ tiên loài người xem như những thế lực siêu nhiên
là biểu hiện uy quyền của các đứng thần linh, là thứ sức mạnh mà chúng ta không thể chiếm hữu
trước khi bạn sinh ra với bộ gen đột biến giống như dị nhân Storm trong bộ truyện tranh X-Men của nhà Marvel.
Tại thời điểm đó, điều duy nhất mà nhân loại có thể làm là thuận theo tự nhiên
và cố gắng làm hài lòng các vị thần, cầu xin họ bàn cho những cơn mưa tưới tiêu mùa màng
hay làm sóng nghiêng biển lặng để thuận lợi ra khơi đánh bát.
Thế nhưng, với sự tiến bộ như vũ bão của nền văn minh và khoa học công nghệ,
khả năng biến đổi thời tiết theo ý muốn giờ đã không còn là điều biến tượng.
Thay vào đó, loài người đang thực sự từng bước làm chủ được thức quyền năng khổng khiếp này.
Thậm chí với bộ não của loài Homo Sapiens đã phát minh ra những công cụ chiến tranh
gõ phần tận diệt các chiến người khác và vươn lên thống trị địa cầu.
Chúng ta đã và đang vũ khí hoa nó để sử dụng cho mục đích chiến tranh.
Và đây cũng là chủ đề chính trong video ngày hôm nay của Kiến Thức Quân sự.
Vũ khí thời tiết, thứ quyền năng thạo tùng đất trở.
Đầu tiên, chúng ta phải cùng thừa nhận rằng,
Xuyên suốt lịch sử quân sự thế giới, những hiện tượng thời tiết,
đặc biệt là những hiện tượng khắc nghiệt có tác động vô cùng mạnh mẽ,
thậm chí quyết định đến sự thành bại của hoạt động chiến tranh.
Chúng có thể mang lại ưu thế to lớn cho kẻ nào biết tháo túng
và đồng thời cũng có thể gây ra bất lợi không nhỏ đến đối phương.
Các bạn không tin ư?
Vậy thì tiếp theo đây là một số minh chứng không thể trôi cãi.
Trong cuộc sống lực Nhật Bản lần thứ nhất vào năm 1274,
vào ngày 19 tháng 11, quân viễn trình Nguyên Mông
sau khi chiếm được 2 hòn đảo Tutsushima và Iki
đã vượt biển, tiến vào vịnh Hakata và đổ bộ lên đảo Kyushu.
Sau một ngày chiến đấu, quân Mông Cổ lúc này đã kiệt sức,
đồng thời vì lo sợ bị phục kích trong đêm nên rút về tàu nghỉ ngơi.
Đêm đó, một cơn bão lớn bất ngờ nổi lên từ phía đông
và thổi bay hạm đội, đẩy nhiều tàu va đập vào các bãi đá và phá hủy chúng.
Về sau, một số báo cáo thương vong cho thấy
có đến 200 tàu vinh viễn nằm lại dưới đáy đại dương
và hơn 13.000 trên tổng số 30.000 binh sĩ đã xuống làm mối cho cả.
Đột nhiên phải hứng chịu thiệt hại quá sức tưởng tượng chỉ trong một đêm,
buộc quân Nguyên không còn cách nào khác là phải rút lùi.
Quyết không từ bỏ dã tâm, đến năm 1281,
nhà Nguyên tổ chức tái trinh phạt xứ sở Mặt Trời Mọc.
Tuy nhiên không hiểu số trời rung rủi thế nào khi vào ngày 15 tháng 8,
kẻ thù từng khiến họ ôm hận 7 năm trước
này xuất hiện trở lại và lợi hại gấp đôi.
Mà nói đúng hơn là lợi hại gấp bội phật.
Ở ngoài khơi phía tây đảo Kyushu,
cơn báo đã nhấn chìm tổng cộng hơn 2.000 tàu
và gây ra cái chết của vô số binh sĩ.
Từ đây, tham vọng bắt thiên hoàng quỳ gối xưng thần của hốt tất liệt
đã hoàn toàn chấm dứt.
Đối với người Nhật, họ tin rằng
thần linh đã gửi những cơn báo đến để bảo vệ Nhật Bản
trước cuộc xâm lược của kẻ thù
hoặc trinh trọng gọi chúng bằng cái tên Kamikaze
nghĩa là thần phòng.
Nếu các bạn khán giả thấy cái tên này nghe quen quen
thì đúng vậy.
Người Nhật đã dùng nó để đặt cho các cuộc tấn công cảm tử
thực hiện bởi không quân
để chống lại tàu chiến của quân đồng binh
trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Một ví dụ khác về thời tiết
có thể ảnh hưởng to lớn thế nào
đến một chiến dịch quân sự
đó là chiến tranh Pháp-Nga năm 1812.
Hít tiến vào mùa hè và thu,
bệnh dịch và buồn lây do mưa
đã càn trở đáng kể tốc độ di chuyển
của đại quân Pháp
dưới sự chỉ huy của thần chiến tranh Napoléon
vốn nổi tiếng từ lâu với khả năng hành binh thần tốc
đồng thời khiến hậu cần của họ gặp nhiều khó khăn.
Ngày 14 tháng 9,
quân Pháp chiếm được kinh thành Moscow.
Lúc này chỉ còn là một đống hoang tàn đổ nát
không có chút nhu yếu phẩm nào
do người Nga đã tiến hành tiêu thủ kháng chiến.
Năm tuần sau,
Napoléon buộc phải hạ lệnh rút lùi.
Lúc này đến lượt đại tướng Mùa Đông ra tay
mang theo cài đỏi, cài Z
kết hợp cùng chiến tranh du kích của Nga
để bón cho đại quân Pháp rất nhiều hành.
Khi vừa xông Nieman
để tìm đánh đất Nga vào ngày 12 tháng 6,
Napoléon sở hữu 60 vạn đại quân
đông nhất trong lịch sử châu Âu
tính đến thời điểm đó.
Thế nhưng chỉ có đến chưa đến 10 vạn là trở về
với một phần không nhỏ là do thời tiết gây ra.
Tuy nhiên,
có lẽ không hoạt động quân sự nào trong lịch sử thế giới
mà sự thành công hay thất bại của nó
lại phụ thuộc vào thời tiết
nhiều như chiến dịch Overlord
hay còn được biết đến với kẻ tên thông dụng hơn
là cuộc đổ bộ Normandy
vào tháng 6 năm 1944
trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Mỗi quân binh chủng tham gia đều có những yêu cầu
đặc biệt nghiêm ngặt về yếu tố thời tiết
để thực hiện nhiệm vụ.
Chẳng hạn như thời điểm hoàn hảo nhất cho chiến dịch
là lúc có trăng tròn để cung cấp ánh sáng cho không quân
và thủy chiều đạt đỉnh
giúp dễ dàng triển khai tàu đổ bộ.
Bên cạnh đó,
quan đồng minh muốn thực hiện đổ bộ ngay trước bình minh khi chiều đang lên
bởi khi đó họ sẽ có tầm nhìn thuận lợi nhất
để phát hiện các công sự và chứa ngại vật của kẻ thù
đồng thời giảm thiểu thời gian
mà binh sĩ phải phơi mình trên bãi biển
chống trải trước hỏng súng quân Đức.
Ngoài ra,
một số tiêu chí cụ thể cũng được đặt ra
về tốc độ gió, tầm nhìn và độ che phục của mây.
Cụ thể,
tốc độ gió trong ngày đổ bộ vào 3 ngày tiếp theo
phải đạt 19 km trên giờ ở trên bờ
và khoảng 39 km trên giờ ở ngoài khơi.
Độ che phục của mây
chỉ được tối đa là 3 phần 10
ở độ cao giới 2,4 km
với nền mây không được thấp hơn 914m
Cùng với đó,
tầm nhìn xa phải đạt ít nhất 5 km.
Với những điều kiện hết sức ngặt nghèo
thì tỷ lệ xuất hiện một ngày hội tủ đủ
thiên thời địa lợi như vậy là vô cùng thấp
khi chỉ là 1 phần 24 vào tháng 5
1 phần 13 vào tháng 6
và đến tận 1 phần 33 vào tháng 7.
Vào ngày 8 tháng 5
năm 1914,
tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh
là tượng Eisenhower đã ấn định đi đẩy
tức ngày tiến hành chiến dịch
sẽ là ngày 5 tháng 6
với các ngày mùng 6 và mùng 7 thay thế.
Tuy nhiên vào đầu tháng 6
tình hình rõ ràng là không thích hợp
một chút nào cho cuộc tấn công.
Một loạt cơn bão gây do to biển động
khiến các tâu độc bộ không thể triển khai
và lớp mây dày đặc sẽ làm cho phi công
phải tìm kiếm kẻ địch bằng giác quạt thứ 6.
Sáng sớm Chủ nhật ngày mùng 4
Eisenhower ra lệnh khoảng 24h
để đợi thông tin khí tượng.
Ngay trong đêm, đội ngũ chuyên gia
của quân đồng minh báo cáo rằng
thời tiết trong 24h tới sẽ được cải thiện đủ
dù chưa tối ưu
để đổ bộ vào ngày mùng 6.
Dựa trên báo cáo đó,
vị tư lệnh tối cao đã đưa ra
một trong những quyết định quan trọng nhất lịch sử quân sự thế giới
phát động chiến dịch Overlord
vào ngày mùng 6 tháng 6 năm 1944.
Nhờ vậy, cuộc đổ bộ đã thành công
tính mạng của hàng ngàn binh sĩ
phe đồng minh được bảo vệ.
Trong khi đó, do thiếu kiểm soát đối với Đại Tây Dương
nên các chuyên gia của Đức Quốc Xã
không thể dự báo được những thay đổi của thời tiết.
Trước đi đây,
Trung tâm Khí tượng thuộc Không quân Đệ Tạm Đệ chế Luftwaffe
của Paris đã báo cáo rằng
sẽ có báo trong hai tuần tới
khiến nhiều chỉ huy và binh lính Wehrmacht buông lọc cách giác.
Điều này dẫn đến kết quả
là họ đã bị bất ngờ khi quân đồng minh
tấn công và phải chịu thương vong vô cùng nạn nề
lên đến 30 vạn người
chiếm gần một nửa tổng lực lượng trong trận chiến.
Qua những ví dụ vừa rồi,
không khó để thấy được tiềm năng quân sự của thời tiết
bỏ tác động to lớn của nó
đến kết quả của một trận đánh đơn lẻ
hay thậm chí là toàn bộ cuộc chiến tranh.
Thậm chí điều này đã được công nhận
trong một báo cáo đưa ra
bởi Ủy ban Cố vấn về Kiểm soát Thời tiết
của Tổng thống Hoa Kỳ vào năm 1957
là một tổ chức bao gồm nhiều nhà khoa học nổi tiếng
như Edward Teller
nhà vật lý lý thuyết được mạnh danh
là cha đè của bóng khinh khí.
Theo đó, họ đã cảnh báo rằng
công nghệ kiểm soát thời tiết
có nguy cơ trở thành một vũ khí nguy hiểm
hơn cả bóng nguyên tử.
Khi đào sâu nghiên cứu
về biến đổi thời tiết về mục đích cơ sự
người ta đã phân chia rõ ràng các phương pháp
thành hai bộ kỹ thuật là phòng thủ
và tấn công. Ngoài ra một cách phân loại khác
đó là chia thành kỹ thuật ngăn chặn
và kỹ thuật khởi tạo
hoặc tăng cường các hình tượng thời tiết bất lợi.
Cụ thể hơn,
ngăn chặn thời tiết bất lợi là việc sử dụng các kỹ thuật
nhằm bảo vệ các nguồn lực cảo vệ vật chất
lẫn con người tránh khỏi thiệt hại
cùng như tạo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động vốn có thể gặp khó khăn
do thời tiết.
Ví dụ dễ thấy nhất của loại kỹ thuật này
là vào lễ rượt binh kỷ niệm ngay trên tháng Pháp Xít
ở Quảng trường Đỏ, thủ đô của Moscow
của Liên bang Nga vào ngày 9 tháng 5 hàng năm.
Tại thời gian đó,
thời tiết thủ đô giống như một con nàng đòng đành
mưa nàng thất thưởng, gây ảnh hưởng không nhỏ
đến các hoạt động kỷ niệm ngày lễ quan trọng
của đất nước. Chính vì vậy trước khi
buổi rượt binh diễn ra, chính quyền thành phố Moscow
đã bỏ ra nhiều triệu đô la Mỹ
để phun các loại hóa chất
như iôt bạc và nitralong
ở độ cao 3.000-8.000m
nhằm gây mưa ở xa trung tâm
và xua tan mây trên bầu trời thủ đô.
Kể từ lễ kỷ niệm 55 ngày trên tháng
năm 1995 cho đến nay,
công nghệ thẩm mỹ thời tiết này đã được
người Nga sử dụng một cách thường xuyên.
Trái ngược với kỹ thuật ngăn chặn
thì khởi tạo hoặc tăng cường hiện tượng
thời tiết cực đoan là việc biến đổi
thời tiết có chú ý nhằm làm dám đoạn hoạt động
và gây thiết hại cho kẻ thù.
Về bản chất, phương pháp này là việc kích thích
sự bất ổn vốn tiềm mẩn trong hệ thống thời tiết
với mục đích tấn công,
ví dụ như tăng cường lượng mưa trên một khu vực nhất định.
Đó cũng chính là một trong những cách
mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.
Hòng cắt đứt tuyến vận chuyển
của bộ đội Bắc Việt trên đường màu Hồ Chí Minh
sẽ được kính thức quân sự trình bày
ở phần sau của video. Các bạn hãy chú ý theo dõi
để biết thêm chi tiết.
Bên cạnh đó,
các phương pháp gây hiện tượng thời tiết bất lợi
còn bao gồm tạo ra sư mù,
cường hóa và dẫn hướng cho bão
hoặc gây mưa đá.
Có điều thao túng thời tiết không phải chỉ đơn giản
là búng tay, thì vung vẩy cái đũa phép
như trong phim là xong.
Theo giáo sĩ khí tương học
Edward Lawrence, tài viện công nghệ Massachusetts, Hoa Kỳ,
việc điều khiển thời tiết
theo ý muốn đòi hỏi chúng ta phải tạo ra
những hiệu ứng vượt quá mức độ biến đổi
tự nhiên của nó. Ví dụ,
nếu sự biến đổi tự nhiên trong nhiệt độ
ở một khu vực tại một thời điểm nhất định trong năm là nửa độ,
bạn sẽ cần gây ra sự thay đổi
lớn hơn nửa độ trên cả một khu vực rộng lớn.
Và muốn làm được điều này,
thì năng lượng sinh ra từ một vụ nổ bom nhiệt hạch
chưa chắc đã là đủ.
Chính vì lý do đó,
mà không ít người, rất có thể bao gồm
cả những quý vị khán giả đang ngồi trước màn hình đây,
đặt chất vấn rằng
đúng là thời tiết nếu được vũ khí hóa
sẽ có tiềm năng quân sự mạnh mẽ thật đấy.
Thế nhưng đó chỉ là trên lý thuyết mặt thôi.
Còn với trình độ khoa học công nghệ
của quan nghiệp hiện nay thì có thể hiện thực
hoa nó được không? Để trả lời
cho câu hỏi này, thì ngay sau đây
các bạn hãy cùng kết thúc với sự tìm hiểu về lịch sử phát triển
của kỹ thuật biến đổi thời tiết.
Trên thực tế,
từ thời xa xưa, nhân loại đã thực hiện
nhiều nỗ lực hòng điều khiển thời tiết
theo ý mình. Tuy nhiên phần lớn trong số đó
là những hoạt động mang tính chất tâm linh huyền bí
hoặc các thí nghiệm vô trì
kiểu như dùng thuốc nổ gây tiếng ngồn
để tạo rông hay đánh tan mây
bằng cách đổ cát vào chúng.
Phải đến sau Chiến tranh Thế giới Thứ 2
thì những nghiên cứu dựa trên những căn cứ khoa học vững chắc
mới thực sự được tiến hành.
Năm 1946, tiến sĩ từng đoàn giải
Nobel Hóa Học Yves-Lamouine
cùng trợ lý của ông là Vincent Schaffer
đã tìm ra phương pháp gây mưa
bằng cách giải phóng tính thể băng khô
vào các đảm mây lạnh.
Quá trình gieo mây này sẽ đẩy nhanh
tốc độ ngưng tụ và phát triển của hơi nước
để tạo thành mưa.
Không lâu sau đó, tiến sĩ Bernard Vonnegut
trong một nghiên cứu độc lập
đã phát hiện rằng với nguyên lý tương tự
các hạ y ông bạc có hiệu suất gây mưa
lớn hơn nhiều so với băng khô
hay các chất khác trong tự nhiên.
Đây cũng chính là phương pháp mà người Nga áp dụng
để xuôi mây đuổi mưa, chuẩn bị cho lễ kỷ niệm
ngày tri thắng đã được kinh tức quân sự
nói đến cách đây vài phút.
Năm 1947, chính phủ Mỹ khởi động
dự án Cirrus tập trung chủ yếu
vào kỹ thuật gieo mây và tham vọng hơn nữa
là tạo ra hoặc đánh tan những cơn bão.
Ngan hái được nhiều thành công
nhưng cũng gặp không ít thất bại.
Dự án tiếp tục đến cuối những năm 1960
và đã đạt nền móng cho ngành công nghiệp
tạo mưa thương mại.
Năm năm sau, Cục Lâm nghiệp Hoa Kỳ
tiến hành dự án Skyfire với mục tiêu
ngăn xét đánh gây cháy rừng.
Kết quả là giảm được đến 75%
số vụ xét đánh.
Đến năm 1966, Hoa Kỳ tiến hành
dự án Hellsquad nhằm ngăn chặn
những ảnh hưởng xấu của mưa đá
ở Rapid City, bang Nam Dakota.
Những nghiên cứu tương tự cũng được thực hiện
bởi Canada, Liên Xô và Nam Phi.
Trong đó Liên Xô tuyên bố
họ giảm được từ 70% cho đến 80% thiệt hại
còn những quốc gia còn lại
đưa ra con số là 20-50%.
4 năm sau,
một hệ thống động cơ phản lực được lắp đặt
trong các khoa ngầm dọc theo hướng gió
và dưới đường băng của sân bay Olymp
gần thủ đô Paris đến đuổi
các đám sương mù ấm.
Năm 1973, các sân bay của Hoa Kỳ
áp dụng phương pháp gieo băng khô
để làm tan sương mù lạnh.
Đối với các sân bay quân sự, không lừng Hoa Kỳ
dùng hệ thống phân phối Propan-Lau
trên bề mặt có thu được nhiều thành công.
Đến đây, hàng nhiều bạn đã nhận ra
rằng những dự án và thí nghiệm vừa được nêu ra
đều mới chỉ được ứng dụng
trong lĩnh vực dân sự.
Nhưng tên canh là kế thức quân sự cơ mà,
thời tiết được vũ khí hóa đâu.
Vậy thì không để quý vị khán giả chờ lâu nữa.
Tiếp theo đây chính là chiến dịch
duy nhất được ghi nhận trong lịch sử quân sự
mà có sử dụng thời tiết
như một thứ vũ khí để chống lại đối phương.
Hoa Kỳ, cuối những năm 1960.
Đây là khoảng thời gian
mà cuộc chiến tại Việt Nam
đã kéo dài hơn một thập kỷ.
Người dân Mỹ đang ngày một ngán đến tận cổ
cảnh binh lính của siêu cường số 1 thế giới,
đánh mãi không thắng nổi mấy ông nông dân bên kia bán cầu.
Một quân đội bằng mọi giá
phải tìm cách ngăn chặn những đoàn quân Bắc Việt
không ngừng nghỉ nam tiến để nhanh chóng kết thúc chiến tranh.
Theo đó,
người Mỹ đã làm điều mà họ giỏi nhất
đó là ném bom đường Trường Sơn
hay đường Mòn Hồ Chí Minh
tiến hậu cần chiến lược mà miền Bắc dùng để viện trợ nhân lực
và vật lực cho quân giải phóng Việt Nam.
Tuy nhiên,
hàng triệu tấn bom đạn, napalm
và chất diệt cỏ đã bất lực
trong việc cắt đứt con đường huyền thoại
và bẻ gáy ý chí của bộ đội Việt Nam.
Nhận ra các phương pháp phỉ diệt kiểu cũ này không có mấy tác dụng
trong khi thiên nhiên lại có tác động mạnh mẽ
đặc biệt là vào mùa mưa
khi những cơn dông xối xả sẽ biến
các tuyến đường mòn và hầm ngầm trở nên lầy lội
khiến cho hoạt động vận chuyển hậu cần từ Bắc vào Nam
gặp nhiều khó khăn hơn,
mất nhiều thời gian hơn và tối kém hơn đáng kể.
Giữa trên những thông tin này
và trong tình cảnh không còn nhiều lựa chọn,
người Mỹ đã quyết định đóng vai thần linh
hàng thao túng thời tiết
như một nỗ lực cuối cùng để lật ngược tình thế.
Trên thực tế,
đây không phải lần đầu tiên mà Hoa Kỳ tạo mưa ở Việt Nam.
Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo điều tra
Shane Malhurst của tờ New York Times,
một cưu đọc vụ ẩn danh của CIA
đã tiết lộ lần đầu sử dụng công nghệ giao mây
tại Việt Nam là vào tháng 8 năm 1963
nhằm giải tán các cuộc biểu tình
của cộng đồng Phật giáo miền Nam
chống chính quyền ngô định diệp.
Đọc vụ này cũng cho biết,
họ sử dụng một chiếc máy bay được chất đầy eos bạc
và giải nó trên bầu trời để gây mưa.
Đối tiếp thành công này,
CIA đã liên tục thực hiện giao mây đến tận năm 1966
khi chiến tranh leo thang
dưới thầy Tổng thống của Lyndon B. Johnson.
Do đó,
Bộ Quốc phòng Mỹ đã khởi động một chương trình
ở Nam Lào nhằm kiểm tra tính khả thi
của việc vũ khí hóa kỹ thuật biến đổi thời tiết.
Kết quả thu được là vô cùng tích cực
với hơn 90% lượng mây được giải hóa chất
có phản ứng sinh mưa.
Rất nhanh sau đó,
kỹ thuật giao mây để tăng lượng mưa trên đường mòn Hồ Chí Minh
đã được quyết định đưa vào sử dụng
với vai trò là vũ khí trí thuật.
Năm 1967,
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ
và Cộng tình báo Trung ương CIA
phát động một chiến dịch tuyên mật mang tên Popeye
chung tên với anh chàng thủy thủ ăn rau chân vịt
để có sức mạnh trong phiên bản ấy.
Nhiệm vụ của hoạt động quân sự này
là kéo dài mùa mưa càng lâu càng tốt
ở những khu vực được chọn
nhằm làm suy yếu cấu trúc bề mặt của đất
biến chúng thành những bãi bùn lây lội
gây tình trạng sói mòn và sát lở.
Theo Phó Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ
là Floyd D. Kohler
việc giao mây tăng mưa sẽ là
một biện pháp nhân đạo hơn,
ít gây thiệt hại về người và của hơn
so với ném bom và hóa chất dài thẳng.
Ngày 20 tháng 3 năm 1967,
chiến dịch Popeye bắt đầu được tiến hành
bởi phiên đoàn trinh sát thời tiết số 54
với 3 chiếc máy bay vận tải WC-130
và 4 máy bay chiến đấu đa nhiệm RF-4C
cùng các tổ bay
và nhân viên bảo trì được gửi đến
căn cứ không quân UDON ở Thái Lan.
Trong 5 năm tiếp theo,
đến tận tháng 7 năm 1972,
từng nhóm 2 chiếc C-130 và 1 chiếc RF-4C
được phái đi thực hiện
các phi vụ giải hóa chất gây mưa
với khẩu hiệu
«Make mud, not war»
nghĩa là tạo bùn chứ không gây chiến.
Không quân Mỹ đã tiến hành hơn 2.600 phi vụ
sử dụng hơn 47.000 đơn vị hóa chất
và tư tốn tổng cộng khoảng
18 triệu đô la tiền thuế.
Đổi lại, theo báo cáo của Cơ quan tình báo
Quốc phòng Hoa Kỳ, lượng mưa đã tăng lên
đến 30% ở một số khu vực nhất định.
Đồng thời, trong năm 1972,
miền Bắc Việt Nam cũng ghi nhận mưa bão lớn
bất thường trong mùa khổ, gây hư hại
nhiều con đường, đê điều và phá hủy
khoảng 10% dễ thích lúa.
Bên cạnh đó, nhiều nhà báo cáo điều tra
đã tiết lộ rằng một số đơn vị hóa chất
được điều chế được sử dụng để tạo mưa acid
nhằm gây nhiễu loạn hình thẳng radar
của cộng đội Bắc Việt và khiến họ gặp khó
trong việc triển khai tên lửa phòng không.
Ngoài ra, chiến dịch Pompei còn cung cấp
mưa và mây để che giấu
các hoạt động của Marquis Shock
tức nhóm nghiên cứu và quan sát thuộc
Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ
cùng như hỗ trợ các phi vụ ném bom phá hoại
tại Bắc Việt Nam.
Những bí mật về hoạt động sử dụng vũ khí thời tiết này
bị tiết lộ dưới thời Tổng thống Nixon
mặc dù ban đầu chính phủ đã phủ nhận mọi thông tin
Vào năm 1971, nhà báo Jack Anderson
đã tiết lộ các tài liệu
mà ông điều tra được về chiến dịch Pompei.
Cùng thời gian đó,
cuốn nhật ký về chiến tranh Việt Nam
của chính phủ Mỹ mang tên Pentagon Papers
hay hồ sơ lồng nằm góc
bị do dị với cái tên Pompei nằm trên hình bên trong.
Đến lúc này,
mọi nỗ lực che giấu đã trở nên vô ích.
Ngày 3 tháng 7 năm 1972,
nhà báo Shane Mahush đã đăng
một bài trên tờ New York Times với tiêu đề
Hoa Kỳ sử dụng kỹ thuật gây mưa
làm vũ khí.
Và đây chính là cái đinh cuối cùng
đóng vào cỗ quan tài của chiến dịch Pompei.
Thì nó đã bị hủy bỏ chỉ 2 ngày
sau bài báo được xuất hiện.
Tuy nhiên, mọi chuyện trước dừng lại ở đó.
Việc giải mật và công bố thông tin
về Pompei dưới yêu cầu của các nghị sĩ
Claremont Powell và Clifford Case
dưới danh nghĩa ủy ban đối ngoại của Thượng Viện
đã gây ra một làn sóng phẫn nộ của công chúng
hướng vào Bộ Quốc phòng, CIA
và Tổng thống Nixon.
Chính sự kiện này đã song kiếm hợp
đầy tai tiếng, đã góp phần công nhỏ
trong việc buộc Nixon phải tự rời Nhà Trắng vào năm 1974,
trở thành Tổng thống duy nhất
trong lịch sử Hoa Kỳ từ trước.
Không lâu sau khi những hoạt động
sử dụng vũ khí thời tiết tại Việt Nam của quân đội Mỹ
được công khai, Quốc hội Hoa Kỳ
đã đưa ra nghi quyết kêu gọi một thỏa thuận quốc tế
về cấm sử dụng bất kỳ hoạt động
biến đổi môi trường hoặc địa văn lý nào
làm vũ khí chiến tranh.
Bên cạnh đó, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
NATO đã thông qua một đề xuất
khuyến nghị cấm sử dụng các phương pháp này
ngoại trừ các mục đích hòa bình,
sự tiến bộ của nhân loại và cho những mục đích khác
không ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái.
Đến năm 1974,
Hoa Kỳ và Liên Xô đã đồng ý tổ chức
các cuộc thảo luận song phương về các biện pháp
ngăn chặn nguy cơ sử dụng các kỹ thuật biến đổi môi trường
cho mục đích quân sự.
Cùng năm ấy, Liên Xô đề xuất một nghi quyết
có nội dung tương tự trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
Một năm sau,
hai siêu cường mạnh nhất thế giới cùng đưa ra các văn bản dự thảo
giống nhau của một công ước
tại Hội nghị UBND.
Tất cả những hoạt động này dẫn đến kết quả
là vào năm 1977,
Công ước về cấm sử dụng các kỹ thuật biến đổi môi trường
vào mục đích quân sự và thù địch
gọi tắt là Công ước ENMOD
đã được phê chuẩn và thông qua
bởi Liên Hợp Quốc.
Trong đó, kỹ thuật biến đổi môi trường được định nghĩa là
bất kỳ kỹ thuật thay đổi nào
thông qua việc thạo tùng có chú ý
các quá trình tự nhiên, động lực học,
thanh phần hoặc cấu trúc của trải đất
bao gồm quân thể sinh vật,
thạch quyển, thủy quyển
và khí quyển hoặc không xa bên ngoài.
Công ước quy định, mỗi quốc gia thành viên
cam kết không tham gia vào bất kỳ hoạt động
quân sự hoặc hoạt động thù địch khác
có sử dụng các kỹ thuật biến đổi môi trường
có thể gây tác động rộng rãi, lâu dài
và nghiêm trọng nhằm hủy diệt
hoặc gây thiệt hại cho các quốc gia thành viên khác.
Ngoài ra, mỗi quốc gia thành viên
cũng cam kết không hỗ trợ, khuyến khích
hoặc sử dụng bất kỳ quốc gia, nhóm quốc gia
hoặc tổ chức quốc tế nào tham gia vào
các hoạt động như vậy.
Từ đây, văn kiện này đã trở thành giao cản lớn nhất
đối với bất kỳ thế lực nào có tham vọng điều khiển
trời đất trong tay giống như các đỡng thần lịch.
Bên cạnh sự ràng buộc của pháp luật quốc tế,
thì những khó khăn trong thực tiễn
nghiên cứu cưỡng dụng kỹ thuật biến đổi thời tiết
cho mục đích quân sự, cũng khiến loài người
hiện tại chưa thể đánh nhau bằng bão tổ và sấm xét
thay cho tên lửa và bom đạn.
Một trong những vấn đề chính
đó là chúng ta khó nhận biết được những kết quả
thí nghiệm thu được là do sự can thiệp
có chủ ý của con người hay chỉ đơn giản
là bởi sự biến động bình thường của tự nhiên.
Lấy ví dụ về việc giao mây,
thì câu hỏi ở đây là liệu
cơn mưa đó được gây ra bởi việc giải phóng
iốt bạc hay kể cả khi không
tác động bằng hóa chất thì trời vẫn cứ mưa.
Điều này đã khiến cho các nhà khoa học
gặp không ít khó khăn trong công tác nghiên cứu
và đánh giá mức độ hiệu quả
của kỹ thuật thảo tùng thời tiết.
Ngoài ra, một rắc rối còn khó giải quyết
hơn cái vừa rồi là trách nhiệm pháp lý.
Các thí nghiệm biến đổi thời tiết
có thể được phát triển trong phòng thí nghiệm
và được mô phỏng ở một mức độ nào đó trên máy tính.
Nhưng đến cuối cùng chúng vẫn phải được đem ra
thử ngoài thực điểm.
Khi đó sẽ xuất hiện nguy cơ thiệt hại đến dân thường
bất kể là có hay không
mối quan hệ nhân quả giữa hậu quả
và hành động có chú ý của người thực hiện thí nghiệm.
Năm 1972, chính phủ Mỹ đã
tài trợ cho dự án Skywatch
tại thành phố Rapid bằng Nam Dakota
với mục đích nghiên cứu tạo mưa
bằng cách dài hơn 200kg hóa chất từ phía Bắc.
Sau đó, một cơn bão khủng khiếp
nổi lên gây rào lũ quét
làm vỡ đập hồ Kenya,
dẫn đến cái chết của 238 người
và thiệt đại hàng trăm triệu đô la.
Các cuộc điều tra đã xác định rằng
cơn bão không được gây ra bởi hoạt động gieo mây
của dự án, đồng thời thăm dò dư luận
cũng cho thấy phần lớn cư dân thị trấn
không đổ lỗi cho các nhà nghiên cứu vì thảm họa này.
Thế nhưng, giả dụ
trong một trường hợp tương tự mà thiên tài
là kết quả của những thí nghiệm do qua người thực hiện
thì sao?
Do vậy, ngày nay, theo những gì mà chúng ta biết,
các hoạt động biến đổi thời tiết có khả năng gây thiệt hại
về người và của như thao túng các cơn bão
hầu như đã bị loại bỏ.
Thay vào đó, người ta tập trung vào nghiên cứu
các kỹ thuật phòng thủ hay ngăn chặn hiện tượng
thời tiết bất lợi, chẳng hạn như đuổi mưa
và đánh tắt sương mù.
Dù gặp phải nhiều trở ngại,
tuy nhiên theo dự đoán của kiến thức quân sự
thì trong tương lai, vũ khí thời tiết
đặc biệt là những phương pháp bằng tính chất phòng thủ
ngăn chặn các điều kiện thời tiết bất lợi
vẫn sẽ được nghiên cứu áp dụng.
Bởi lẽ, việc loại bỏ hoặc su toan sương mù
sầm xét, mưa đá
và các hiện tượng nguy hiểm khác sẽ không chỉ hỗ trợ
cho các hoạt động quân sự mà còn mang lại
lợi ích đáng kể cho người dân.
Thế nhưng cùng với đó, nguy cơ hủy diệt
từ các kỹ thuật khởi tạo và cường hóa bão tố,
rồng lốc hay bão tuyết vẫn hiện hiện
bởi tiềm năng quân sự quá lực của chúng
cùng như tham vọng sở hữu quyền năng
thao túng thiên địa giống như thần linh của con người.
Thêm vào đó,
các điều hối cốt tí hiện nay đều không đầy đủ,
chưa được xác định rõ ràng và đầy dãy sở hợp.
Vì lợi ích của tầm bộ nhân loại,
biến đổi thời tiết tấn công
về mục đích quân sự cần bị cấm dưới mạng hình thức
còn đối với các kỹ thuật mạng tính phòng thủ
cũng phải được đặt và phải đặt
dưới những giới hạn hết sức nghiêm ngạc.
Đến đây,
chiến hành trình tìm hiểu tất tật tật về vũ khí thời tiết
của chúng ta đã đến hồi kết.
Quý vị khán giả đánh giá xa về quy lực của nó.
Ngoài ra theo các bạn,
liệu rằng nhân loại có nên đem thứ sức mạnh hủy diệt này
ra chính trường hay không?
Nếu có thì loài người sẽ hứng chịu những hậu quả như thế nào?
Ngược lại thì có nên nhìn nhận nó như vũ khí nguyên tử
hay thậm chí là hóa học và sinh học
để quy định chế tài hay không?
Hãy đừng ngần ngại để lại ý kiến của mình
ở dưới phần bình luận.
Còn bây giờ, Việt Cương thay mặt ekip
Xin chào, hẹn gặp lại
và chúc các bạn có một ngày tốt lành.