"Những Sự Cố MẤT TÍCH Vũ Khí Hạt Nhân Tai Tiếng Nhất Nước Mỹ
Vũ khí hạt nhân, với sức hủy diệt mạnh mẽ có thể đặt dấu chấm hết cho nền văn minh nhân loại, đây cũng là loại khí tài được bảo vệ nghiêm ngặt và theo dõi sát sao nhất trên thế giới. Ấy vậy nhưng, Hoa Kỳ, cho dù là một trong những quốc gia có năng lực hạt nhân hàng đầu, đã có không ít lần đánh mất những đứa con của Oppenheimer. Qua đó làm dấy lên lo ngại cho tình hình an ninh địa chính trị toàn cầu bởi những hậu quả thảm khốc tiềm ẩn.
----------------------------- 📋 ""CDTeam - Kiến Thức Quân Sự"" là Kênh chia sẻ với các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới.
Vũ khí hạt nhân, với sức hủy diệt mạnh mẽ, có thể đặt dấu chấm hết cho nền văn minh nhân loại.
Không nghi ngờ gì, đây chắc chắn là loại khí tài được bảo vệ nghiêm ngặt và theo dõi sát sao nhất trên thế giới.
Đấy vậy nhưng, Hoa Kỳ, cho dù là một trong những quốc gia có năng lượng hạt nhân hàn đầu, đã không ít lần đánh mất những đứa con của Oppenheimer.
Quả đó làm giấy lên lo ngại cho tình hình an ninh địa chính trị toàn cầu bởi những hậu quả thảm khốc tiềm mặt.
Đồng thời khiến công chúng phải chất vấn về tính hiệu quả của các giao thức bảo mật mà Washington áp dụng để quản lý kho đô trường nguyên tử của mình.
Trong video lần này, chúng tôi sẽ kể cho các bạn về những sự cố làm mất vũ khí hạt nhân nổi tiếng nhất của quân đội Hoa Kỳ.
Trước khi bắt đầu, nếu yêu thích các nội dung của kỹ thức quân sự,
Vậy quý vị còn trần chờ gì mà không đồng hành cùng chúng tôi trên hành trình khám phá, học hỏi và chia sẻ những kỹ thức hay hò về lĩnh vực quân sự?
Đừng quên để lại một lượt thích nhấn vào nút đăng ký kênh và nút chung thông báo bên cạnh để không bỏ lỡ những video mới nhất từ kênh.
Cảm bây giờ, chúng ta hãy đi vào nội dung chính.
Vào năm 1950, 5 năm sau khi sử dụng vũ khí nguyên tử lần đầu tiên để buộc Nhật Bản đầu hàng trong chiến tranh thế giới thứ 2,
Quân đội Mỹ đang chuẩn bị cho một kỳ nguyên xung đột hạt nhân với đối thủ thời chiến tranh lạnh của họ là Liên Xô.
Vì lẽ đó, Bộ Tức lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ SAC rất mong muốn được thử nghiệm Convair B-36 Peacemaker,
Loại máy bay ném bom xuyên lục địa đầu tiên có khả năng mang vũ khí hạt nhân đến bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Vào ngày 13 tháng 2 năm 1950, một chiếc B-36 mang số hiệu 075 cất cánh từ căn cứ Không quân Elson gần thành phố Fairbanks, bãng Alaska,
với phi hành đoàn 17 người để thực hiện nhiệm vụ huấn luyện tấn công hạt nhân vào một thành phố lớn của Liên Xô.
Theo kế hoạch, chiếc B-36 sẽ bay từ bãng Alaska đến bãng Montana,
sau đó men theo bờ biển Thái Bình Dương của Bắc Mỹ xuống mục tiêu giả định của cuộc tập trận là thành phố San Francisco.
Và cuối cùng là hạ cánh xuống căn cứ Không quân Carswell ở bãng Texas.
Để tiến hành tập luyện, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Hoa Kỳ đã thuyết phục được Quỹ Ban Năng lượng Nguyên tử cho họ mượn một quả bom nguyên tử Mark IV.
Vào ngày thực hiện cuộc diễn tập, nhiệt độ tại căn cứ Elson rất lạnh, đến mức nếu động cơ của máy bay ngừng hoạt động thì chúng không thể khởi động lại được.
Do đó, phi hành đoàn đã phải bảo dưỡng chiếc oanh tạc cơ kỹ càng trước khi cất cánh thực hiện nhiệm vụ huấn luyện.
Tuy nhiên bất chấp điều đó, không lâu sau khi cất cánh, băng bắt đầu tích tụ trên thân của chiếc B-36.
Cối lượng dơ thừa này đã gây áp lực rất lớn lên động cơ, khiến 3 trong số đó bốc cháy và phản ứng hoạt động.
Với chỉ 3 động cơ còn lại, chiếc máy bay nằm bom bắt đầu hạ độ cao với tốc độ rơi là 150m mỗi phút.
Đối mặt với tình huống nguy hiểm này, Đại ủy Harold Berry và phi hành đoàn của ông đã mau chóng hành động.
Mệnh lệnh đầu tiên của họ là thả quả bom xuống biển và kích nổ theo quy trình để giữ phũ khí hạt nhân hoặc các bộ phần của nó không lọt vào tay kẻ thù.
Sau đó, Đại ủy Berry đã chuyển chiếc máy bay sang chế độ lái tự động để điều khiển nó hướng ra biển,
trong khi anh và phi hành đoàn nhảy dù lên đảo Công Chúa Hoàng Gia, tại sát bờ biển tỉnh Christie, Columbia của Canada.
Ngay khi nhận được tin báo, lực lượng tổng hợp của quân đội Mỹ và Canada đã phát động một chiến dịch tìm kiếm và cứu hậu quy mô lớn,
với sự tham gia của 40 máy bay lung sục vùng bờ biển động băng.
Nhờ nỗ lực của họ, 12 trên tổng số 17 thành viên phi hành đoàn đã được cứu sống.
Nhưng 5 người còn lại, bao gồm cả chuyên gia vũ khí, là Đại ủy Theodore Steyer, không bao giờ được tìm thấy.
3 năm sau vụ việc này, lực lượng Canada khi tiến hành nhiệm vụ giải cứu một chuyên gia thăm dò dầu mỏ mất tích,
đã phát hiện ra đống đổ nát của chiếc máy bay B-36 trên đỉnh núi Colgate.
Hóa ra sau khi bị bỏ rơi, nó đã bay thêm 300 km nữa,
rồi trách khỏi lộ trình đã định và đâm vào sườn núi đầy tuyết nằm sâu trong vùng hoàng giã nội địa của Canada.
Biết được điều này, không quân Hoa Kỳ đã 3 lần cử các đoàn thám hiểm đến địa điểm xảy ra tai nạn.
Nhưng tất cả nỗ lực đều bất thành do thời tiết xấu và điều kiện khắc nghiệt.
Cuối cùng vào năm 1954, một đội phá rỡ nhỏ đã tiếp cận được chiếc B-36 bị rơi.
Họ tiến hành tháo rỡ các thiết bị tuyệt mật của máy bay và phá hủy nó.
Về số phận của quả bom Mk.IV, báo cáo của phiên đoàn cho biết, nó đã phát nổ sau khi được thả rơi.
Tuy vậy, có thông tin cho rằng, vì là hàng để tập trận,
nên trái bom đã được tháo lõi plutonium và do đó không thể kích hoạt.
Đồng thời, nhiều cuộc khám nghiệm về sau đã phát hiện một vài dấu hiệu cho thấy,
đúng do quả bom phải còn nguyên vẹn.
Thế nên, cho đến nay, điều gì đã xảy ra với nó vẫn còn là bí ẩn.
6 năm sau vụ việc để mất trái bom hạt nhân đầu tiên,
vào ngày 10 tháng 3 năm 1956, một chiếc Boeing B-47 Statojet đã mất tích khi thực hiện nhiệm vụ,
cùng với đó là 2 khối vật liệu vũ khí hạt nhân mà nó mang theo.
Cụ thể, trong chuyến bay từ căn cứ không quân MacDill, bang Florida,
đến căn cứ Ben Gurion tại Maroc,
theo kế hoạch, B-47 sẽ được tiếp nhiên liệu 2 lần ở trên không.
Lần đầu tiên diễn ra mà không gặp sự cố gì.
Tuy nhiên, khi chuẩn bị bơm nhiên liệu lần 2 ở độ cao trên 4.000m,
chiếc Boeing tạc cơ đột nhiên biến mất đầy bí ẩn,
và phi hành đoàn của máy bay chở dầu cũng không thể liên lạc được với nó.
Vị trí cuối cùng được biết đến của chiếc B-47
là khu vực địa trung hải phía đông nam Port Said,
một ngôi làng ven biển Algeria gần biên giới Maroc.
Một hãng thông tin Pháp đưa tin,
chiếc máy bay có thể đã phát nổ khi đang bay gần Sebatna ở miền đông Maroc.
Thế nhưng thông tin này được cho là vô căn cứ,
bởi chiếc B-47 chỉ chở theo 2 khối vật liệu vũ khí hạt nhân được đặt trong hộp đựng,
nên một vụ nổ nguyên tử là không thể xảy ra.
Sau đó, nhiều cuộc tìm kiếm trên quy mô lớn được tiến hành
bởi các không quân Hoa Kỳ, hải quân Hoàng gia Anh, quân đội Pháp và Tây Ban Nha.
Thế nhưng cuối cùng họ đã không phát hiện được ra bất kỳ dấu vết nào,
cho dù là mảnh vỡ, vũ khí hay 3 thành viên phi hành đoàn của chiếc B-47.
Những người này cuối cùng được tuyên bố là đã chết trong khi làm nhiệm vụ.
Chỉ 2 năm sau, cũng lại là một chiếc B-47 xuất phát từ căn cứ không quân Macdill, Florida,
làm thất lạc vũ khí hạt nhân của quân đội Mỹ.
Cụ thể, vào đêm ngày 4-5-2-1958,
2 oanh tạc cơ loại vừa nêu được triển khai diễn tập mô phỏng ném bom
và đối phó với máy bay đánh trận của đối phương.
Vào lúc 0 giờ 9 phút, theo đúng kế hoạch,
các phi công thuộc lực lượng Vệ binh Quốc gia,
ở băng Nam Carolina, đóng tại căn cứ không quân Charleston,
nhận được canh báo phát hiện nhóm B-47.
Lúc này, đã hoàn thành nhiệm vụ ném bom và đang chiếc đường trở lại căn cứ Macdill.
5 phút sau, 3 chiếc tiêm kích F-86L Sabre
đã kết cánh và nhanh chóng tiếp cận máy bay B-47 dẫn đầu,
mà máy hiệu Ivory I.
Tuy nhiên, không ai trong số này cũng như hệ thống radar phòng không mặt đất
phát hiện ra chiếc B-47 còn lại.
Với máy hiệu Ivory II, bay phía sau đồng đội của nó có 1,6 km.
Kết quả là vào 0 giờ 33 phút,
chiếc F-86L do trung úy Clarence Stewart điều khiển
đã va chạm vào cánh phải của Ivory II.
Hiện chính nó bị gãy cả 2 cánh.
Bộ phi công phải phong ghế thoát hiểm và dành 5 tuần sau đó trong bệnh viện.
Trong khi đó, chiếc B-47 cũng không khá hơn khi bị hư hại nặng nề.
Đồng cơ bên ngoài bị bung ra khỏi giả đỡ,
treo lùng làng trên cánh và có khả năng dụng ra bất kỳ lúc nào.
Cùng với đó, một số bộ phần quan trọng khác của cánh máy bay bị hỏng
làm cho việc điều khiển của nó trở nên hết sức khó khăn.
Trước tình huống nguy hiểm như vậy,
cơ trưởng của Ivory II là tiêu tá Howard Rick Jackson đánh giá rằng
họ cách căn cứ MacDill quá xa để trở về,
trong khi sân bay phù hợp nhất là căn cứ không quân Hunter ở Georgia
thì đang giữ chữa đường băng,
khiến cho việc cố hạ cánh mà không giảm bớt khối lượng
có thể gây ra tai nạn thảm khốc.
Do đó, Rick Jackson quyết định cho máy bay hướng
về phía vịnh Wasatch Sound để tiến ra biển.
Ở độ cao hơn 2.000m,
phi hành đoàn đã thả quả bom Mk-15 xuống vùng nước gần đảo Taipei,
sau đó điều khiển Ivory II thành công đắp xuống căn cứ Hunter.
Dù vậy, chiếc oanh tà cơ đã bị hư hại nặng đến mức
không bao giờ có thể quay trở lại bầu trời được nữa.
Về số phận của quả bom Mk-15,
phi hành đoàn báo cáo rằng
nó đã không phát nổ khi được thả
và cho đến nay, dù đã được tổ chức tìm kiếm,
nhưng quân đội Mỹ chưa thể thù hồi.
Đến năm 1961,
một vụ tai nạn liên quan đến siêu pháo đòi bay B-52 xảy ra,
suy nghĩa gây thảm họa khủng khiếp cho nước Mỹ.
Vào ngày 23 tháng 1,
một máy bay nằm bom B-52 được triển khai
thực hiện nhiệm vụ cảnh báo trên không
ngoài khơi bờ biển Đại Tây Dương của Hoa Kỳ.
Trong quá trình tiếp liệu,
phi hành đoàn của máy bay trở dầu đã thông báo
cho cơ trưởng của chiếc oanh tà cơ,
là tiểu táo Walter Tulloch,
rằng B-52 bị dò dì nhiên liệu ở cánh phải.
Cơ quan kiểm soát mà đất ngay lập tức yêu cầu
anh ta di chuyển đến một khu vực nhất định ngoài khơi,
rồi bay vòng quanh để chờ chỉ thịnh.
Tulloch cố gắng làm theo,
nhưng sau đó báo cáo rằng
chiếc máy bay đang thất thoát một lượng nhiên liệu
đáng báo động, với khoảng 17 tấn
bị dò dì chỉ sau 3 phút.
Nhưng để khiến sự cố thêm phần nghiêm trọng,
chiếc B-52 lúc này đang mang theo
2 cỏ bom nhiệt hạch Mk-39,
có đương lượng nổ khoảng 3-4 megatôn.
Vì vậy, lực lượng kiểm soát mặt đất
đã chỉ đạo cho chiếc máy bay
quay về căn cứ không quân Sherman Johnson
ở thành phố Goldsboro,
bang Bắc Carolina.
Tuy nhiên, khi đang cố gắng hạ độ cao,
chiếc B-52 ngày càng mất cân bằng
và khó điều khiển.
Khi hoàn toàn không thể kiểm soát
chiếc máy bay này bom được nữa,
thiếu tá Tulloch đã ra lệnh cho 8 thành viên
phi hành đoàn nhảy dù thoát hiệp.
Mặc dù vậy, chỉ có 5 người sống sót,
1 người không thể tiếp đất an toàn,
còn 2 người khác không kịp thoát ra
và chết khi chiếc B-52 đầm xuống mặt đất.
Trước đó, khi chiếc máy bay
vỡ vụn giữa không trùng,
2 cỏ bom Mk-39 cũng theo đó
rơi tự do ra ngoài
và chỉ 1 trong 2 kích hoạt hệ thống hãm dù
để tiếp đất,
mà không phải chịu hư hại gì nghiêm trọng.
Khi đội xử lý bom mìn xác định được vị trí,
họ nhanh chóng tiếp cận hiện trường
và di rời cỏ bom đến nơi an toàn.
Trái còn lại không được may mắn như vậy.
Nó đã rơi tự do và bị trôn vùi
dưới 55m đất đá,
khiến việc thu hồi rất khó khăn.
Sau 8 ngày, đội xử lý bom mìn
đã thu hồi được phần lớn cỏ bom.
Sở dĩ nói là phần lớn,
bởi các bộ phận thuộc hệ thống nổ thứ cấp của nó
đã không bao giờ được tìm thấy.
Điều đang nói là
do tác động của sự cố,
cả 2 cỏ bom đều đã tự bắt đầu quy trình
kích hoạt của mình,
thậm chí còn đi ngang qua 3 phần tư các bước
và chuẩn bị gây ra 1 thảm họa hạt nhân khủng khiếp
sẽ cướp đi sinh mạng của hàng triệu người.
Thế nhưng may thay,
2 cỏ bom đều bị hư hại
ở 1 số bộ phận cần thiết để kích nổ.
Sau vụ việc này,
để giảm nguy cơ phát nổ hạt nhân vô tình hoặc trải phép,
Tổng thống mới đắc cử John F. Kennedy
đã ra lệnh giảm hoạt động cảnh báo
của bộ tư lệnh chiến lược thuộc không quân,
đồng thời phải cài đặt các cơ chế kích hoạt
phức tạp và mã bảo mật
cho vũ khí nguyên tử.
4 năm sau, lại 1 sự cố khác xảy ra
ở ngoài khơi Philippines,
cách Okinawa hơn 100 km.
Cuối tháng 11 năm 1965,
hàng không mẫu hạm Iwades Tikanderoga
được cho miễn nhiệm ở Vĩnh Bắc Bộ
và trở về căn cứ
ở thành phố Yokosuka, Nhật Bản
để tiến hành báo chỉ.
Trên đường đi, thủy thủ đoàn nhận lệnh
chuẩn bị cho một cuộc diễn tập nạp vũ khí hạt nhân.
Ngày 5 tháng 2 năm 1965,
vào khoảng 13 giờ 30 phút,
đội bốc rỡ của con tàu
đã tập trung tại nhà trường máy bay số 2.
Nhiệm vụ của họ là trang bị
một quả bom nhiệt hạch B-43
có đương lượng nổ 1 Megaton
lên cử kích A-4 Skyhawk.
Sau đó, máy bay sẽ được vận chuyển lên sàn đáp
bằng thang máy.
Cuối cùng, sau khi phi công lại máy bay
làm vài đường cơ bản và hạ cánh,
họ sẽ đưa Skyhawk trở lại nhà trứa
để tiến hành rỡ bom.
Kế hoạch này nghe có vẻ
rất đơn giản và không có gì phức tạp.
Thế nhưng mọi chuyện đã xảy ra
theo chiều hướng không ai có thể tưởng tượng được.
Sau khi quả bom được lắp đặt
chắc chắn dưới bụng của chiếc Skyhawk,
viên phi công được giao nhiệm vụ bay thử
là trung ý Douglas Webster
bắt đầu tiến hành bước kiểm tra cuối cùng.
Sau khi thấy mọi việc đều
ổn thoả, anh ta leo lên
thang vào buồng lái
và để các kỹ thuật viên đẩy Skyhawk vào thang máy bay.
Đột nhiên,
nhiều tiếng huyết xáo vang lên
và nhiều người bắt đầu điên cuồng
dùng tay ra hiệu cho Webster nhấn phanh.
Hóa ra, chiếc cường kích
đang lăn bánh khỏi thang máy
và nếu không được dừng lại kịp thời,
tan ảnh kinh hoàng chắc chắn sẽ xảy ra.
Mặc dù như vậy, nhờ những lời khai
được thu thập trong cuộc điều tra về sau cho biết,
phi công lúc ấy dường như đang phân tâm
bởi một điều gì đó và khiến anh ta
không chú ý bên ngoài.
Trong khi vẫn đang ra hiệu cho Webster,
các kỹ thuật viên đã cố gắng chạm đánh xe
một cách tuyệt vọng mà không có kết quả.
Cuối cùng, chiếc Skyhawk
đã đâm vào cuối thang máy và rơi xuống biển.
Khi sự việc xảy ra,
Ildez Ticonderoga
đã dừng lại nhanh hết sức có thể
và triển khai một chiếc trực thăng trục vớt
cùng một thuyền máy đến khu vực nơi
Skyhawk gặp tai nạn.
Cùng với đó, hai khu trục hạm là
Gridley và Turnerjoy
đã được khuy động để tham gia cuộc tìm kiếm
kéo dài suốt hàng giờ liền.
Thế nhưng tất cả mọi nỗ lực lúc này
đã là quá muộn.
Người ta không bao giờ tìm thấy được bất kỳ dấu hiệu nào
của quả bom hạt nhân
hay máy bay bị mất tích.
Và thứ duy nhất có thể thu hồi được là chiếc mũ phi công
của trung quy Webster.
Về sau, sự kiện này có được gọi
với cái tên Skyhawk Đảo.
Đến năm 1966,
một tai nạn cũng đã xảy ra
liên quan đến máy bay nằm bom B-52
làm rơi bom hạt nhân
và khiến các đồng minh NATO của Hoa Kỳ
suýt phải chịu cảnh tài bay vạ gió.
Vào ngày 17 tháng 1,
hai chiếc B-52 của không quân Hoa Kỳ
được triển khai thực hiện nhiệm vụ bay tuần trá
cảnh báo hạt nhân trên không
tại khu vực địa trung Hải.
Trong đó, chiếc oanh tạc cơ mang máy hiệu T-16
được trang bị 4 quả bom hạt nhân Mk.28.
Khoảng 10 giờ 30 phút sáng,
nhóm B-52 đã gặp
2 chiếc Stato-Tanker
để thực hiện lần tiếp nhiên liệu trên không thứ 2
ở độ cao hơn 9.000m
ngoài khơi bờ biển phía nam Tây Ban Nha.
Trong quá trình tiếp cận,
T-16 đã vá trạm với
máy bay chở dầu từ phía sau với tốc độ cao,
khiến cả hai bị hư hại nặng
đến mức phát nổ ngay giữa bầu trời,
giết chết toàn bộ phi hành đoàn
của chiếc Stato-Tanker
và 4 trên tổng số 7 người
trên chiếc B-52.
Khi T-16 vữa vụn, 4 quả bom hạt nhân
mà nó mang theo bắt đầu rơi tự do
với 3 trái đáp đất
tại gần khu vực thị trấn Palomares.
Phần chất nổ thông thường
của 2 trái trong số đó vừa đóng
vai trò bắt đầu phản ứng dây chuyển,
đã bị kích hoạt khi vào trạm.
Tuy nhiên may mắn là 1 vụ nổ hạt nhân
đã không xảy ra.
Thay vào đó, nó phân tán plutonium ra khắp nơi
và gây ô nhiếm 226 hectare
đất trong và
xung quanh Palomares.
Số đất này về sau được vận chuyển đến Hoa Kỳ
để trôn cất tại nhà máy Savannah River.
Trái còn lại trong 3 quả bom
rơi xuống thị trấn Palomares
được tìm thấy còn nguyên vẹn dù bị hư hại nhẹ.
Về phần quả thứ 4,
hệ thống hãm dù đã hoạt động
khiến nó bị gió cuốn ra khơi
và rơi xuống 1 dãnh núi sâu 777m
biên giới địa chung Hàn.
Phải mất đến 5 tháng sau
người ta mới có thể thu hồi được nó bằng 1 chiến dịch quy mô lớn.
2 năm sau,
vụ tai nạn tư tự ở Palomares
đã lập lại, lần này
lập tại Greenland.
Ngày 22 tháng 1 năm 1968,
trong bối cảnh cuộc chiến tranh lệnh
đang ngày càng trở nên căng thẳng.
Một máy bay nắm bom B-52 của Mỹ
mang mã hiệu Hobo 28
với 4 quả bom nhiệt hạch trong khoang chứa
đã lao xuống biệt băng Goldstein Home Field
ở cóc tây bắc Greenland.
Một trong số những khu vực
có nhiệt độ thấp nhất trên trái đất.
Sự cố này được xác định là xảy ra
do lỗi của con người.
Cụ thể, một thành viên phi hành đoàn
đã nhét một số đệm ghế trước lỗ thông hơi
để sửa ấm và không cẩn thận để trụ bốc cháy.
Khói nhanh chóng trở nên dày đặc đến mức
phi hành đoàn phải quyết định nhảy dù thoát hiệp.
Thế nhưng, chỉ có 6
trên tổng số 7 người kịp thời
thoát ra an toàn trước khi máy bay
rơi xuống vịnh hẹp đóng băng
cách căn cứ không quân Thor khoảng 11 km về phía Tây.
Dành cho những ai chưa biết,
Thor là căn cứ cực bắc của Hoa Kỳ
được họ thiết lập trên đảo Greenland thuộc Đan Mạch
và đóng vai cho quan trọng
trong chiến lược quân sự của Washington.
Tuy nhiên, Copenhagen không cho phép
sự hiện diện của bất kỳ loại vũ khí
nguyên tử nào trên các lãnh thổ của họ
do chính sách phi hạt nhân hòa khu vực.
Vì vậy, vụ tai nạn của Hobo 28
đã gây căng thẳng nghiêm trọng
cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Đan Mạch.
Thậm chí, mọi chuyện còn trở nên
tồi tệ hơn khi qua điều tra sự việc.
Người ta có biết được rằng
quân đội Mỹ trên thực tế đã thường xuyên
cho máy bay trở bóng hạt nhân bay qua Greenland
và một trong những chuyến bay
bất hợp pháp đó hiện đã dẫn đến
tình trạng ô nhiễm phóng xạ.
Trong vụ cháy sau đó, các đồ đạn đã bị hư hại
tuy không dẫn đến một vụ nồn nhiệt hạch
nhưng chất phóng xạ đã bị giải phóng ra bên ngoài.
Sau vụ tai nạn,
Hoa Kỳ và Đan Mạch có những quan điểm
rất khác nhau về cách giải quyết
đống đổ nát độc hại của Hobo 28.
Trong khi người Mỹ chỉ muốn mặc kệ
cho xác máy bay ném bom chim xuống vịnh
thì Đan Mạch không cho phép điều đó.
Họ muốn tất cả mảnh vớt
phải được thu thập nhanh chóng và vận chuyển
cùng với tất cả băng bị nhiễm phóng xạ
tới Hoa Kỳ.
Cuối cùng, để được phép tiếp tục vận hành căn cứ không quân thu
Washington đã buộc phải đồng ý
với yêu sách của Copenhagen.
Theo đó, chiến dịch dọn dẹp khẩu quả
của vụ tai nạn ngay lập tức được tiến hành
không chút chậm trễ.
Bởi nếu để đến thời điểm giao mùa từ đông sáng xuân
băng ở vịnh sẽ tan chảy
và mọi mảnh vụn còn lại sẽ chìm xuống đáy biển.
Trong điều kiện thời tiết vô cùng khủng khiếp
với nhiệt độ âm 24 độ C
và tốc độ gió gần
130 km trên giấu.
Cùng với đó là rất ít ánh sáng
vì mặt trời sẽ không mọc trở lại
ở đường chân trời bắc cực cho đến giữa tháng 2.
Các nhóm phi công
phải dàn thành từng hàng ngang 50 người
và quét qua vệnh hẹp băng giá
để tìm kiếm tất cả các mảnh vỡ
với đủ loài kích cỡ
từ to như cành máy bay cho đến bé
như cục pin tiểu.
Trong quá trình đó, họ xác định các mảnh bằng nhiễm phóng xạ
bằng máy đo keger
và các thiết bị khảo sát bức xạ khác.
Bất cứ thứ gì có dấu hiệu ô nhiễm
đều sẽ được cất vào các thùng chừa kín.
Tổng kết chiến dịch cho thấy
họ đã tìm được hầu hết mọi mảnh vỡ
của chiếc B-52,
ngoại trừ một khối trụ
cho Uranium và Lithium-Deuterium
vốn là thành phần nhiên liệu hạt nhân
của một trong bốn co bom nhiệt hành.
Người ta đã không phát hiện ra nó
trên bề mặt đông bắc của vịnh
và ngay cả việc truy tìm giới biển bằng tầng ngầm cỡ nhỏ
cũng không đem lại kết quả gì.
Cho đến nay, vị trí của bộ phần này
vẫn còn là một bí ẩn.
Tiếp theo đây,
chúng ta sẽ đến với vụ tai nạn cuối cùng
trong video ngày hôm nay.
Tuy nhiên, khác với những sự kiện được kể từ đầu tới giờ,
nó không liên quan đến những chiếc máy bay,
mà thay vào đó là tầng ngầm.
Được đưa vào hoạt động
từ ngày 29 tháng 7 năm 1960,
Iridescent Scorpion
là một chiếc tầng ngầm thời chiến tranh lạnh
được thiết kế để chống lại các đối thủ liên xô.
Nhỏ gọn và chạy bằng năng lượng hạt nhân,
nó có thể hoạt động ở khoảng cách xa hơn
và với tốc độ nhanh hơn
so với những người tiền nhiệm.
Bên cạnh đó, Scorpion cũng được trang bị
hai quảng ngừa lôi mang đầu nạn hạt nhân.
Vào tháng 2 năm 1967,
đạo kế hoạch, chiếc tầng ngầm này
sẽ phải trải qua một cuộc đại tù toàn diện
tại căn cứ Norfolk bằng Virginia.
Tuy nhiên, do áp lực tăng cao
từ cuộc chiến tranh lạnh, Scorpion được quyết định
là phải được quay trở lại nhiệm vụ tuần tra
càng sớm càng tốt.
Để đạt được điều này, các hạng mục bảo trì lớn
đã bị trì hoãn và con tàu
chỉ được sửa trước khẩn cấp.
Đến ngày 15 tháng 2 năm 1968,
Scorpion rời Norfolk đến địa Trung Hải
với 99 thành viên thủ thủ đoàn có mặt trên tàu.
Tại đó, nó sẽ thực hiện các nhiệm vụ
cùng hạm đội 6 của Hải quân Hoa Kỳ.
Vào ngày 20 tháng 5,
con tàu được cử đi do thám
một đội tàu Liên Xô.
7 ngày sau, con tàu đã trở về
sau 3 tháng triển khai tới địa Trung Hải.
Đến ngày 30 tháng 10 năm đó,
Hải quân Hoa Kỳ chính thức thông báo sát tàu
cùng 99 thủ thủ
đã được tìm thấy
ở khu vực giữa Đại Thế Giương
cách quần đảo Azores, gần 640 km về phía Nam.
Tuy nhiên,
nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn thảm khốc này
chưa bao giờ được công bố.
Nhiều nhà điều tra đồng lập tin rằng
EODS Scorpion bị chìm là do chính nó.
Theo đó,
tại thời điểm thực hiện nhiệm vụ cuối cùng,
con tàu đã nổi tiếng về các vấn đề máy móc
đến mức nó được đặc biệt dành là
EODS sát vụn
và mọi chuyện đã trở nên trầm trọng hơn
do cuộc đại tu bị bỏ qua.
Vô số các lỗi cơ khí đã được đưa ra
trong các thuyết ẩm mưu về vụ chìm tàu.
Chẳng hạn như
pin nhiên liệu của ngôi lôi Mk. 37 quá nóng
và phát nổ gây ra hỏa hoạn.
Hệ thống xử lý rác thải bị trục chặt
khiến con tàu bị ngập nước
và làm pin của nó phát nổ.
Hay Scorpion bị quá tải hydro khi sạc pin
và phần khi đó bị đốt cháy
gây ra nổ pin.
Bên cạnh đó, Tòa án điều tra chính thức
của Hải quân về vụ chìm tàu Scorpion
cũng đã xem xét một giả thuyết thay thế khác.
Khi các tài liệu sau đó
được giải mật, người ta nhận thấy
khả năng là do một trong số những quả ngư lôi
đã tự bắn vào tàu ngầm.
Theo kịch bản đáng sợ này,
một quả ngư lôi được phóng ra do vô tình hoặc cố ý
sau đó cơ chế giữa đường âm thanh của nó
đã tìm kiếm mục tiêu gần nhất.
Thế nhưng do xung quanh không có đối tượng
nào khác ngoài Scorpion,
những quả ngư lôi đã quay lại phản chủ
vào tấn công chính tàu mẹ.
Ngoài ra, một giả thuyết khác được xem xét
là con tàu bị hải quân Soviet đánh chìm.
Xét trên thực tế là nó bị đắm
khi làm nhiệm vụ theo dõi một đội tàu Liên Xô.
Những người tin vào điều này cho rằng
vào thời kỳ chiến tranh lạnh,
tình hình dưới mặt nước là vô cùng căng thẳng
và các cuộc giao tranh nhỏ lẻ diễn ra
thường xuyên như cơm bữa.
Thêm vào đó, trong cùng năm,
Scorpion gặp tai nạn.
Thế giới đã chứng kiến số lượng tàu ngầm bị đắm cao bất thừa.
Khi ngoài con tàu của Hoa Kỳ,
còn có một tàu của Israel,
một tàu của Pháp,
và một của Liên Xô.
Mặc dù rất nhiều giả thuyết được đưa ra,
cũng như không ít các cuộc điều tra,
cả do chính phủ Mỹ và các đơn vị độc lập tiến hành.
Nhưng cho đến nay,
chuyện gì đã thực sự xảy ra
với EODS Scorpion vẫn là một điều bí ẩn.
Trong một kỷ nguyên được đánh dấu
bởi căng thẳng địa chính trị
và phổ biến vũ khí hạt nhân,
yêu cầu bảo vệ những vũ khí hủy diệt hàng loạt này
đã trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Trong khi những tiến bộ công nghệ
và các biện pháp an ninh nâng cao
đã giảm thiểu một số rủi ro này,
thì khả năng vũ khí hạt nhân rơi vào tay kẻ xấu
hoặc vô tình phát nổ
vẫn là rất đáng lo ngại.
Chỉ thông qua sự giám sát chặt chẽ,
hợp tác quốc tế và cam kết kiên định
về giải trừ hạt nhân,
thế giới mới có thể hy vọng ngăn chặn được
hậu quả thảm khốc của khó vũ khí hạt nhân bị mất.
Như lịch sử đã chỉ ra,
cái giá của việc xem nhẹ vấn đề an ninh hạt nhân
đơn giản là quá cao
Quý vị và các bạn có suy nghĩ thế nào
về những lần người Mỹ bị mất vũ khí hạt nhân?
Bên cạnh đó,
các sự cố nào khác mà chúng tôi chưa nhắc đến
trong video ngày hôm nay hay không?
Người sau Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung,
cần làm gì để hạn chế những vụ tài nạn tương tự?
Hãy đừng ngân ngại để lại ý kiến
bên dưới phần bình luận.
Còn bây giờ, đừng vội thoát khỏi video,
vì phần hài hò vẫn còn ở phía sau.