Triệu Đà Triệu Vũ Đế người có công giữ bờ cõi Nam Việt #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
3 thg 4, 2025
Chúng tôi mới khôi phục được khoảng mấy chục năm thôi
Chỉ còn suốt đây là lại vì một cái thời gian cải cách văn hóa
Mình theo anh Trung Quốc
Cải cách văn hóa là đây hoang tàn
Bây giờ mới được khôi phục lại
Thì khôi phục lại chúng tôi mới được tu sứa này
Duy Hà Nội Phố xin biến chào quý vị
Thưa quý vị, hiện tại Duy đang đứng ở đỉnh Long Hưng
Thuộc thôn 10, xã Xuân Quảng, huyện Văn Giang, Hưng Yên
Đây là một trong những ngôi đỉnh cổ có từ hàng nghìn năm nay rồi
Trong đỉnh thờ triệu Vũ Đế
Tức triệu Đà
Trải qua rất là nhiều quá trình biến thiên của lịch sử
Hiện tại ngôi đỉnh vẫn hiện diện ở đây
Và ngày càng được kháng trang hơn
Trong clip này, Duy xin chia sẻ với quý vị và bạn về lịch sử ngôi đỉnh
Cũng như về triệu Vũ Đế
Trước khi quý vị xem tiếp, quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất
Quý vị nhớ bình luận ở phía dưới để góp ý cho Duy những địa điểm lịch sử mà quý vị muốn Duy tới trải nghiệm
Cảm ơn quý vị rất nhiều
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên
Xin lê lệ số 0989 260877
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên
Được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, Nhận, Giam Hàng, Toàn Quốc
Thưa quý vị, hình ảnh quý vị đang xem là đỉnh Lòng Hưng ở xã Xuân Quang, Văn Giang, Hưng Yên
Cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 15 km
Đỉnh được xây dựng trên nền cung điện Lòng Hưng cổ 2000 năm trước
Đỉnh thờ Nam Việt Vũ Đế triệu Đà với lưu kiến trúc theo kiểu kinh đồ Huế
Nhiều nơi ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Quốc đều có miếu thờ cúng ông
Theo thống kê, có hơn 30 nơi ở Việt Nam thờ triệu Vũ Đế, đơn cửa như đỉnh thờ Cha Mẹ
và đỉnh thờ của triệu Đà ở xã Quang Bình, huyện Thành Hoài, thành phố Hà Nội
Đền Đồng Sâm ở xã Hồng Thái, huyện Kế Xương, tỉnh Thái Bình, thờ triệu Đà và phu nhân Chính Thi
Nhiều nơi xung quanh khu vực Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội như các làng Văn Tinh,
Lực Cành, thuộc xã Xuân Cành, Thạc Quả, thuộc xã Dục Tú đều thờ triệu Vũ Đế
Bài hình ảnh quý vị đang xem là đỉnh Long Hưng ở Xuân Quang, Văn Giang cũng nằm trong những dưới thích đó
Thưa quý vị, làng Xuân Quang xưa có tên nôm là làng Xuân, xưa thuộc tổng Đồng Dư, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Đình
nay là xã Xuân Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Nghiền
Tương truyền, xưa kia làng nằm trên bờ sông Cái, tức sông Hồng
Thời triệu Vũ Đế, tức triệu Đà vi hành qua đây, thế địa thế đẹp đã cho lập một hành cung tên là Long Hưng Điện
chính là vị trí đỉnh làng hiện nay. Sau khi mất, triệu Vũ Đế được riêng làng thờ làm thành hòa làng.
Do những giá trị lịch sử và nét tinh hoa của kiến trúc nghệ thuật nên đỉnh Long Hưng được chứng nhận
Di tích Quốc gia về Kiến trúc Nghệ thuật ngày 3 tháng 8 năm 2007, theo quyết định số 49-2007, quy đề BVHTT.
Triệu Đà là một nhân vật lịch sử có thật nhưng còn nhiều tranh cãi về vai trò của ông trong lịch sử
phát triển của người Việt cho đến nay. Trong video này, chúng ta sẽ tìm hiểu số lượng vai trò của ông ở phần sau video này nhé.
Đỉnh Xuân Quang còn có tên là Nam Việt Linh Tử, đến thời Lý Anh Tông mới đổi tên là Đỉnh Long Hưng.
Đỉnh Long Hưng mang đậm nét kiến trúc của thế kỷ thứ 17 tới 18. Khuôn viên đỉnh rộng rãi, thoáng đáng,
với diện tích vào khoảng 13.000 m2. Đỉnh được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc,
các hạng mục công trình nằm trên một chục đường thẳng trải dài từ cổng đỉnh vào đến hậu cung.
Các hạng mục chính của di tích bao gồm cổng ngoài, các chuông, các chống, nghi môn, đạn bái, hậu cung hạ, hậu cung thượng và rãi giải vũ.
Đỉnh quay hướng nam. Đó là hướng của trí tuệ, của sự sống.
Hình ảnh quý vị đang xem là sự đan xen giữa kiến trúc cũ và kiến trúc mới qua một thời gian và các tiến trình lịch sự khác nhau.
Đỉnh bị bỏ hoang phế và mới được hoàn thiện xây dựng những hạng mục mới cho tới nay.
Con chào bác ạ. Thưa bác, bác có thể giới thiệu về mình không bác?
Tôi là Lê Ngọc Dâm, chú nhang của đỉnh Nông Hưng.
Ngoài kia là cái hồ bán nguyệt, khi mà lễ hội là sẽ có hát quan họ.
Thế ngoài kia thì lại có 2 cột đồng trụ và 2 nhà voi.
Đường có kế hoạch là tôn tạo và xây dựng lại, cho cao lên.
Ngày trước là phù sa, mỗi năm bồi đáp vào thì nó thấp xuống, bây giờ phải lâng lên.
Kế hoạch là tu sửa, lâng lên.
Được xây dựng khi nào đấy bác?
Cái này xây dựng thì ngay như bản thân tôi cũng chưa biết, mà cũng không biết rõ là từ bao giờ.
Đây tôi nói là khả năng phải hàng mấy trăm năm.
Không phải là đời tôi cũng chưa biết.
Và đời đến ông chúng tôi cũng không biết.
Xây rất lâu rồi.
Và con thấy là có lầu chuông, lầu trống.
Đây là 2 lầu từ ngày xưa.
Cũng lâu rồi, lâu đời rồi đấy.
Lầu chuông, lầu trống vẫn nguyên như ngày xưa.
Chứ chưa thay đổi, chưa xây lại.
Còn cái nhà tàm quan này chúng tôi cũng đã xây lại rồi.
Xây lại sửa sang rồi.
Nhưng mà vẫn dựa theo cái kiến trúc cũ.
Khi mà chúng tôi xây dựng lại là được phép sở văn hóa là chụp ảnh.
Chụp ảnh lại tất cả là phải chụp ảnh.
Và làm lại nguyên như cũ.
Nghi môn ở đình Long Hưng khác hẳn so với nghi môn của rất nhiều các di tích khác.
Nghi môn được làm theo kiểu trồng riêng 2 tầng 8 mái.
Các đao đắp rồng và đầu con sô ngờ cao.
Mái lợp ngói mũi.
Đường bờ lóc lưỡng long trầu vật.
Phần cổ riêng đắp 3 chữ Hán.
Long Hưng Điện tức Điện Long Hưng.
Kết cấu kiến trúc nghi môn kiểu trồng đường đấu sen.
Bào trơn đóng bén.
2 gian bên cạnh đặt 2 pho tượng túc vệ tức lính canh cổng.
Tự tạo tác trong tư thế đứng thẳng nghiêm tràng của người đứng gác.
Quân túc vệ hay còn gọi là thân quân.
Có nhiệm vụ bảo vệ cho sự an toàn của vô chúa và thủ phủ ở chính rình.
Lực lượng của đội quân này được tuyển từ con cháu của các võ tướng để đảm bảo lòng trung thành đối với vô chúa.
2 bên nghi môn còn có 2 cổng phụ làm theo kiểu 2 tầng 8 mái.
Phía bên trong cổng phụ là con đường nhỏ đi vào khu nội tự.
Đỉnh Long Hưng xây 1 cổng chính và 2 cổng phụ như ngày nay.
Có thể nơi đây xưa kia vua quan trong chiều thường với đây tế lễ, cầu đảo đều linh ứng.
Công trình đầu tiên là tòa đại bái với 3 gian 2 dĩ được xây theo kiểu trồng riêng 2 tầng 8 mái.
Các đao mái hình đầu dông ngẩn cao.
Đầu bờ nóc đắp 2 con sô chầu mặt nhật ở giữa nóc.
Đại bái được làm kiểu thông phong.
2 đầu hồi bị đốc, mặt dưới và sau để trống tạo lên sự thông thoáng cho dây tích.
Các bộ vì đại bái được kết cấu kiểu trồng rượm, đấu sen.
Các con rượm, đầu bầy đều được chạm hoa, lá, cách điệu.
Giàn giữa đại bái đặt nhang áng thở công đồng.
Nhang áng là bằng gỗ và được chạm khắp tứ linh, tứ quý.
Trên nhang áng có các đồ thở cúng như bát hương, bộ đỉnh đồng, đôi lục bình, v.v.
Hậu cung đỉnh Long Hưng bao gồm 3 gian hài dĩ, mái lợp ngói mũi.
Ở gian giữa, phía hẻ hiên được dự nhô về phía trước tạo thành 1 gian.
Gian này được làm kiểu tứ trụ với 2 tầng 8 mái.
Nơi đây đặt cỗ kiểu bắt cống, 2 bên hồi hiên đắp 2 phò tượng túc vệ, lính canh cọng.
Tượng tạo các tư thế đứng thẳng vẻ mặt nghiêm trang.
Ngăn cách giữa hẻ hiên và bên trong là hệ thống các bức màn.
Mỗi các cửa được chạm khắc một chủ đề như phượng cửa mây, lòng mã cuốn mây, v.v. rất tinh xảo theo phong quách nghệ thuật thời Nguyễn.
Kết cấu các bộ vỉa hạ cùng kiểu giá chiêng đơn giản được bảo trơn đóng bén.
Nâng đỡ mái là hệ thống 2 hàng cột cái và 2 hàng cột cuồn.
Tại trung tâm gian giữa đặt bàn thờ.
Bên trên để ngai bài vị thanh hoàng làng triệu mũ đế.
Ngai, bài vị cao 2,1m, dài 0,73m, sâu 0,7m.
Để ngai được làm kiểu chân quỳ dạ cá, mặt hổ vù, bài vị, phần trán hình của cầu lửa.
Bên trong chạm 6 con rồng nằm cuộn tròn.
Phần thân trang trí tứa linh đương riêng làm thanh hình đao lửa.
Trên thân bài vị khóc bài văn bằng chữ Hán các nội công đức của thần.
Ngoài ra trên bàn còn bài trí một số đồ thờ tự như trẻ, đôi chân nến, v.v.
Đặc biệt là một bát hương cổ màu me ngọc có đường kính 0,3m, cao 0,32m.
Được trang trí hoa văn sơn thủy.
Hai bên bàn thờ đặt hai phò tượng thái giám cao 1,76m, ngang vai 0,5m.
Tượng tạo tác trong tư thế đứng thẳng.
Hai bên dĩa hạ cung đặt bàn thờ, gian bên trái thờ con, cháu của triệu đà,
gian bên phải thờ hoàng hậu và hai công chúa, trưởng tràng và thứ công chúa.
Tiếp đối với tòa hạ cung là ba gian tượng cung với kết cấu kiến trúc
Các mảnh trạng khắp ở tòa này tập trung chủ yếu ở mặt trước cửa ra vào với các đề tài,
hoa lá cách điệu, lưỡng long trồng nguyệt, đao lửa, phượng ngậm hoa sen, v.v.
Được bàn tay nghệ nhân chạm trổ rất tài tình và đầy chất sáng tạo.
Triệu Vũ Đế, họ Triệu, tên là Đà, sinh năm 256, mướn năm 136 trước công nguyện.
Người huyện Trân Định, nay là huyện Trinh Định, tỉnh Hà Bắc Trung Quốc.
Thời nhà Tần nắm trước huyện lệnh Long Xuyên, khi nhà Tần suy yếu,
Triệu Đà đánh chiếm đất Quế Lâm, tự quận.
Tự lập là Nam Việt Vương, đóng đô ở phiên ngung, nay là tỉnh Quảng Đông Trung Quốc.
Dưới chế độ phong kiến, hầu hết các triều đại vua chúa của nước Đại Việt,
nay là nước Việt Nam, đều công nhận nhà Triệu là một triều đại của nước ta.
Ngài Triệu Vũ Đế được đánh giá là có công lao to lớn với đất nước.
Sách Đại Việt Sử ký Toàn Thư có biết, họ Triệu, nhân lúc nhà Tần xuyên loạn,
giết trưởng lại Tần chiếm giữ đất Lĩnh Lam, xưng Đế đòi ngang với nhà Hán,
hưởng nước chuyển ngồi 100 năm mới mất, cũng là bậc anh hùng.
Thú vị để chúng ta tìm hiểu sâu về nguồn gốc của Triệu Vũ Đế,
đầu tiên chúng ta tìm hiểu về nơi phát tích của họ Triệu.
Họ tộc Triệu là một họ tộc phát triển sớm ở Trung Lưu sông Hoàng Hà từ thời Xuân Thu,
khi nhà Chu khởi nghiệp thiên tử. Triệu tộc là một trong số các chư hầu hùng mạnh,
liên minh Triệu, Nguy, Hàn nổi tiếng trong thời chiến quốc, vốn dĩ là dự ảnh của một liên minh bộ lạc
trước thời lập quốc của ba dòng họ lớn mà tộc danh sau đó đã trở thành cô danh.
Cuối thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, nước Triệu là một tiểu quốc láng giềng hùng mạnh
của nước Tần, đã thường giữ thái tử nhà Tần, tức cha của Tần Thủy Hoàng làm quan tin.
Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, Triệu tộc hoàng thất gần như bị tuyệt diệt.
Còn dân nước Triệu tuân theo chính thể mới của đế chế Trung Hoa đầu tiên.
Nhiều người họ Triệu làm quan cho nhà Tần, ví như Triệu Cao.
Triệu Đà, vốn là một con dân tộc Triệu của nước Tần thống nhất,
đã tham gia đội quân chinh phục vùng đất Việt phương Nam.
Sử ký một cuốn sách do Tư Mã Thiền, người sinh sau Triệu Đà khoảng 100 năm,
cho biết quyết Triệu Đà ở Chân Định Hà Bắc Trung Quốc.
Sự việc này đáng tin bởi vì sau khi Triệu Đà xưng đế cát cứ ở Phiên Ngung,
quận Nam Hải, thuộc Quảng Trông ngày nay, nhà Hán đã cho người phá mổ mả tổ tiên Triệu Đà ở quê.
Sau này, có bức thư của Hán Văn Đế phủ rũ Triệu Đà có nói đến việc Hán Văn Đế
cho người sửa sang trong non mổ mả và họ hạng Triệu Đà.
Đây là sự kiện lớn được nhiều sử sách đương thời và sau này ghi nhận.
Như vậy, ông là người hoa hạ chính gốc.
Có mấy sự kiện giúp xác định thời điểm Triệu Đà sống cùng với người Việt.
Hán thư có một dòng cho biết Triệu Đà tham gia năm chinh năm 20 tuổi,
trước khi Liêu Bang lập nhà Tây Hán 13 năm, trước Thần Thủy Hoàng 28 năm,
tức vào năm 218 trước Công Nguyên.
Như vậy, theo những nghiên cứu mới nhất, Triệu Đà sinh vào khoảng 239 trước Công Nguyên,
mất vào năm Kiến Nguyên tứ niên, tức vào năm 137 trước Công Nguyên, thọ 102 tuổi.
Tuy là người hoa hạ, nhưng theo sự ký cũng như ghi chép trong Hán thư,
ông sớm cùng chủ tướng của mình là Nhâm Ngao có ý định cát cứ.
Nhất là sau khi Thần Thủy Hoàng bị Liêu Bang, hạng Vũ tư diệt lập ra nhà Hán,
tư thường lập quốc gia riêng chống Hán của Triệu Đà thể hiện rất rõ.
Lực lượng quân Thần do ông chỉ huy trở thành đám tướng lĩnh liêu vọng,
hoặc phải đầu hàng nhà Hán, hoặc tiếp tục chống lại nhà Hán.
Ông đã chọn con đường chống Hán, chỗ dựa chính để Triệu Đà chống Hán
chính là địa danh Nhân Kiệt Bách Việt.
Nên nhớ rằng, Nhâm Ngao, Triệu Đà cùng quân đội Thần mới chỉ cây trị
ở một vùng đất mới lạ này trong vòng 13 năm,
thì nhà Thần sụp đổ từ năm 219 tới năm 207 trước công nguyên.
13 năm thời gian là quá ngắn ngủi để tạo dựng một thể chế hoàn trình
và một nền văn hóa mới. Vì vậy, đội quân Thần không hạng Hán muốn tồn tại
được ở đất Bách Việt phải trở thành đội quân Bách Việt.
Đó là lý do tại sao Triệu Đà không thể lập lại một nước triệu của nhà Triệu
mà phải chọn tên nước là Nam Việt, bản thân ông lấy vợ người Việt,
đền thờ một trong số phương nhân người Việt của ông hiện ở Đồng Sâm,
kiến sư Thái Bình ngày nay. Trọng Thủy, là con Triệu Đà,
cũng gửi dề Âu Lạc. Những nghiên cứu về đồ tùy táng trôn trong các khu mộ táng Nam Việt
cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng yêu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt
của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như bộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt
đều trôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hóa Đông Sơn như chống đồng,
thạp đồng, diệt chiến và nỏ, v.v. Nước Nam Việt do Triệu Đà lập ra,
rõ ràng là một quốc gia của người Việt, một nhà nước chống lại sự bành trứng của quan hóa Hán.
Dưới sức ép của nhà Hán cũng như Nam Việt, một loạt tiểu quốc Bách Việt khác ra đời như Đông
Âu, Tây Âu, Lạc Việt, sự còn sát giữa các tiểu quốc này có lẽ tương tự như tình trạng
các nước chư hầu dưới thời Chu Thiên Tử. Tây Âu đã sát nhập được với Lạc Việt trở thành
Âu Lạc, thủ phụ ở Cổ Loa. Nam Việt gây hấn với Đông Âu rồi cuối cùng thôn tính Âu Lạc trở thành
một tiểu quốc cùng mạnh ở khoảng giữa thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên. Sau khi Triệu Đà mất,
nước Nam Việt bị chia rẽ và suy yếu, bị sát nhập vào nhà Hán sau Đông Âu vài chục năm,
vào khoảng năm 111 trước Công Nguyên. Địa bàn đầu tiên của nước Nam Việt là quận Nam Hải,
gồm vùng đuối Hồ Nam đến Trường Sa, toàn bộ Quảng Đông và một phần Quảng Tây phía ven biển
Đông Nam. Đô Thành đóng ở quận Lỵ Nam Hải có tên là Phiên Ngùng, nay là Quảng Châu.
Để cách trị nước mới này, việc đầu tiên Triệu Đà thay thế tướng lĩnh hòa hạ không trung
thành với mình bằng thủ lĩnh người Việt. Cùng một phản ứng như Triệu Đà như thủ lĩnh bộ Lạc khác
liên minh bộ Lạc các nhóm Bách Việt khác có lãnh thổ giáp danh với nhà Hán đều xung
vương dưới dạng thần phục hoặc chống lại nhà Hán như Đông Âu Vương, Mân Việt Vương,
Dạ Lang Vương, Tây Âu Vương, Điển Vương và có thể là Hùng Vương nữa.
Trong giai đoạn đầu, chưa đủ sức chinh phục, nhà Tây Hán thực hiện chính sách phong vương
cho các thủ lĩnh bộ Lạc hay tiểu quốc các cứ vùng biên trấn. Các tiểu quốc biên trấn quan hệ
với Tây Hán dưới dạng thiên tử trư hầu. Nhà Triệu đã từng bước mở rộng lãnh thổ Nam Việt
trong phạm vi, băng giao, hòa bình và quân sự với các tiểu quốc Việt láng giềng.
Từ năm 185 trước Công Nguyên, sau khi Lã Hậu nhất chính đã thực hiện một loạt các biện pháp
cứng rắn với các tiểu quốc phiên trấn, đặc biệt là chính sách cấm giao thương biên
ải với Nam Việt ở vùng Trường Sa, tuộc Hồ Nam. Phản hứng trước chính sách của Lã Cá Hậu vào năm
182 trước Công Nguyên, Triệu Đà xưng đế, tấn công Trường Sa, công khai chống lại nhà Tây Hán.
Vào năm 181 trước Công Nguyên, nước Nam Việt được mở rộng gần như toàn bộ phần đông
của Hoa Nam, đã thân phục được cả Đông Việt, tuộc Triết Giang, Bân Việt thuộc Phúc Kiến,
Âu Lạc thuộc Quảng Tây và Mắc Việt Nam. Có hai viên quan dưới thời Triệu Đà đã sang
quản lý giao trị và cửu chân. Sau khi nước Nam Việt bất, nhiều việc đem đột sổ hộ khẩu hai
quận này mà cả hai được nhà Tây Hán cho tiếp tục làm quan coi đất cũ. Điều này cho thấy
việc ghi nhận kỷ nhà Triệu tính từ năm 181 trước Công Nguyên của Việt xử lương là xuất
phát từ Âu Lạc thuộc giao trị cứu chân, sát nhập vào Nam Việt là có cơ sở.
Triều đình Nam Việt còn mang nặng màu sắc chế độ thủ lĩnh Bộ Lạc. Điều này được xứ giả nhà Hán
là lục giả mô tả lại rất rõ qua hai lần đi xứ sang phiên ngùng, như vương ngồi sổm tiếp xứ giả.
Văn tự Hán ở Nam Việt rất kém phát triển, có thể nhận thấy thông qua những văn minh chữ Hán được
khắc rất xấu và mắc nhiều lỗi chính tả trên cả những đồ ngữ được sử dụng dành riêng cho
hoàng đế và phu nhân trong mộ Nam Việt văn đế Triệu Mội.
Nước Nam Việt tuy của một ông vua hòa hạ nhưng duy trì nhiều phong tục và luật lệ hoàn toàn khác Hán,
dường như ông cháu Triệu Đà đã cố tình duy trì như vậy để khắc họa tính khác Hán của Triều
đình Nam Việt của người Việt. Bản thân Triệu Đà lấy vợ Việt, đến đời con là trọng thủy,
tương truyền cũng gửi về âu lạc. Vị vua thứ năm là thuật Dương Vương cũng lấy vợ người Việt.
Có lẽ chỉ có anh Tề, vua thứ ba, lấy vợ họ củ người Hán khi làm thái tử con tin sống trên đất Hán.
Vào năm 111 trước Cầu Nguyên, nước Nam Việt mất vào tay nhà Tây Hán sau chín ba năm tồn tại,
trong đó riêng Triệu Đà đã ở ngôi điều hành đất nước tới 71 năm. Hoàng thất họ Triệu đã là thành tổ
chính hình thành một dòng tộc Triệu lớn mạnh hiện còn phổ biến trong số người Truong.
Tây, Nùng, ở Quảng Tây và các tỉnh biên giới miền Bắc nước ta như Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Cạn,
Lạng Sơn, v.v. Khảo cổ học Việt Nam đã khai cuộn được những gương đồng ghi rõ minh văn Triệu Thị
Tá Kính. Thuộc những thế kỷ đầu công nguyên, họ Triệu cũng từng hai lần phục quốc thành công trong
thời kỳ Bắc thuộc với Triệu Quốc Đạc cùng em gái là Triệu Thị Trình, tức bà Triệu vào thế kỷ
thứ hai và Triệu Quang Phục, Triệu Việt Vương vào thế kỷ thứ sáu.
Triệu Đà và nước Nam Việt được ghi chép rất sớm trong chính sự Trung Quốc. Chính sự Việt Nam
được xây dựng chính thức dưới Triệu Đại Nhà Lý, nhưng sách sử còn lại hiện chỉ có ở đời Nhà Trần.
Đại việt sử ký của Lê Văn Hiếu đời Trần hiện còn lưu lại trong Đại việt sử ký Toàn Thư, đời Lê,
rồi sau đó được biên dẫn lại trong việt sử thông giám Cương mục Đời Nguyễn. Ngay từ những cuốn sử
chính thống đầu tiên đó, nên sự học chính thống của nước ta đã ghi nhận vai trò của những nhân vật
lịch sử đã có công trong việc tạo dựng và giành lại độc lập cho dân tộc.
Lời than của Lê Văn Hiếu được ghi lại trong Đại việt sử ký Toàn Thư, viết tắt là Toàn Thư.
Tập 1 trang 160, khi nhận định về tình trạng đất nước dưới quyền thống trị của các thứ sử,
thái thú nhà Hán, phản ánh tâm trạng của nhân dân, triều đình và sử gia Việt Nam đương thời.
Ông viết, xem sử đến thời nước Việt ta, không có vua, bị bọn thứ sử người Bắc tham tàn làm khổ,
Bắc Kinh đường xa không biết kêu vào đâu, bất giác xen lẫn cảm thương hồ tẹn,
muốn tỏ lòng thành như Minh Tông nhà hậu đường, thường thắp hương khấn trời.
Xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân, tự làm đế nước nhà, để khỏi bị người phương Bắc cướp vét.
Vì vậy, phàm bất kể nhân vật thuộc gốc tích thế nào mà có ý tưởng và hành động đem lại độc lập
cho nước Việt đều được nhà nước lý, trần và các sử gia tuân vinh. Đó là lý do tại sao.
Kỷ nhà Triệu và Kỷ sĩ Vương đã tồn tại suốt trong chính xử phong kiến Việt Nam.
Việc bình ngô đại cáo do Nguyễn Trãi Soạn đã tuyên nhà Triệu lên mở đầu cho chuỗi Triệu đại
độc lập của Việt Nam cũng nằm trong hệ tư tưởng chung đó. Có thể nói Lê Văn Hưu là người đã thiết
lập nền nếp đó khi ông nhận xét về Triệu Đà. Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế
trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là Lão Phu, mở đầu công nghiệp đế Vương cho nước
Việt ta. Công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu bắt trước
Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng, phải đạo,
giữ ngôi bằng nhân tâm thì dinh giữ bờ cõi được lâu dài. Người phương Bắc không thể lại ngấp ngé được.
Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh kỹ về Kỷ nhà Triệu trong Đại Việt Sử ký Toàn Thư và Việt Sử
lược, ta thấy Việt Sử lược chỉ tính nhà Triệu có 74 năm thôi, chứ không phải 9-3 năm như Toàn Thư.
Do đâu mà có sự sai khác đó? Đó là tác giả Việt Sử lược chỉ tính thời gian nhà Triệu từ khi
xác nhập Âu Lạc vào Nam Việt mà thôi, trong khi Toàn Thư tính toàn bộ thời gian tồn tại của Nam Việt.
Triệu Đà và nước Nam Việt bắt đầu bị phê phán để đưa ra khỏi chính sự Việt Nam từ Ngô Thị
Sĩ khi ông viết Việt Sử tiêu án dưới thời Tây Sơn cuối thế kỷ thứ 18.
Đây là thời kỳ dân tộc ta vừa trải qua những biến động xã hội lớn, trong đó xuất hiện những tư
tưởng chống xâm lược, phục hưng dân tộc phi thường của Quang Trung Nguyễn Hệ, đồng thời xuất hiện tư
tưởng bán nước, cõng rắn cắn gà nhà của Gia Lòng Nguyễn Ánh và Lê Triều Thống.
Trong hoàn cảnh đó xuất hiện ý tức bài ngoại trong hệ tư tưởng một số sự gia Việt Nam.
Với hệ tư tưởng đó, Triệu Đà, Sĩ Nhếp là những người gốc hoa hạ,
đương nhiên không thể được tôn vinh như trước nữa.
Quốc sử quán Trầu Nguyễn sau đó đã tôn trọng quan niệm của những người viết sử thời Trần,
Lê về Triệu Đà và Sĩ Nhếp, thậm chí để tôn vinh lại quốc hiệu Việt.
Triều đình nhà Nguyễn đã từng tái sử dụng quốc hiệu Nam Việt và danh xương Hoàng
Đế của Triệu Đà nhằm đối trọi với miêu đồ bạch chướng của nhà Thành.
Hai ngôi nền thờ Triệu Đà hiện còn ở xã Xuân Quang và ở Đồng Sâm, kiến sương Thái Bình,
đều nhận được sóc phong, ca tụng, công đức và tinh phí tu sửa của các đời vua Lê,
Nguyễn. Đó cũng là ý nguyện của chính những người dân trong vùng.
Trong thời đại chúng ta, lãnh tụ Hồ Chí Minh khi sử dụng lịch sử như một vũ khí động viên
tinh thần yêu nước của nhân dân, đã tiếp thu tư tưởng làm sự truyền thống đó khi người cũng mở
đầu chuỗi các triều đại Việt Nam độc lập bằng nhà Triệu.
Cho đến ngày hôm nay, không phải mọi nhà sử học đều có cùng quan điểm đánh giá tích cực về Triệu
Đà và nước Nam Việt. Nam Việt tồn tại chín ba năm,
từ năm 207 đến năm 111 trước Công Nguyên. Về mặt khảo cổ học, chúng ta có một hệ thống mộ
táng thuộc thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên ở Quảng Đông, Quảng Tây làm chuẩn, so sánh cho
khái niệm khảo cổ học Nam Việt. Tiếp được nhất là mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Mũi Quảng
Châu Quảng Đông, mộ một viên quan thuộc hàng huyện lệnh ở Ba Lạc Loan, Quý huyện Quảng Tây,
và hệ thống mộ Quảng Châu Hợp Phố được xếp vào niên đại Tây Hán sớm.
Thoát đầu, các nhà khảo cổ học Trung Quốc xếp các mộ này vào văn hóa Tây Hán nói chung,
nhưng càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng như quốc tế ưa dùng tuần ngữ Nam Việt
hay Giao chỉ để hàm chỉ sự khác biệt mang tính địa phương của văn hóa khảo cổ dưới tác động
Tương tự như hiện tượng nền văn hóa vào thời Tây Hán nhưng rất khác Hán ở Vân Nam,
văn hóa Điển, nền tảng của nền văn hóa này là văn hóa Đồng Thao Bách Việt,
trong đó yếu tố đồng sơn khá đậm nét.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lê lệ số 0989 260877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, Nhận, Giám Hàng, Toàn quốc.
Như phần trên chúng ta đã nói, trước khi đoàn quân tần Nam Trình Bách Việt vào cuối thế kỷ thứ ba
trước công nguyên do những biến động chính trị ở lưu vực sông Hoàng Hà, Dương Tử, nhiều quý tộc,
thường nhân và bại tướng người sở Ngô Việt như Cầu Tiễn đã di chuyển xuống phía Nam
hòn nhập với các nhóm Bách Việt còn lại ở Hoa Nam. Họ có thể là những người gốc hòa hạ hoặc là
người Bách Việt đã hòa hạ hóa trong quá trình 700 năm gia nhập khối chữ hộp của Nhà Tru,
từ thời Xuân Thu qua Chiến Quốc. Sự tham gia của các làn sóng này thể hiện ở ba hướng.
Hướng thứ nhất là hướng qua Tứ Xuyên đi vào tây Nam đến khu vực Đền Trì,
mang nặng màu sắc văn hóa sở. Hướng thứ hai là hướng qua Tứ Xuyên, Quế Châu đi vào tây Nam Ngũ
Lĩnh thuộc Quảng Tây, huyện Văn Sơn thuộc Vân Nam, nơi đầu nguồn của các dòng sông chính đi về phía
Đông vào Quảng Đông như sông Tây Giang và vào về Nam, sông Hồng, sông Lộ. Hướng thứ ba,
hướng ven biển, từ bùng nước Việt cũ của Cầu Tiễn, cửa sông Trường Giang,
liên vực sông Hoài xuống Đông Âu thuộc Chiết Giang, Bân Việt thuộc Phúc Kiến và Lạc Việt
ở Quảng Đông Trung Quốc, Quảng Ninh ở Việt Nam. Đồng bằng ven biển Việt Nam, chính làn sóng này đã
tham gia làm biến đổi màu sắc các nền văn hóa khảo cổ bản địa ở khu vực này, nền tảng cho sự
ra đời một loạt các tiểu quốc mang màu sắc chế độ thủ lĩnh phương Nam như Điền, Dạ Làng, Tây Âu,
Nam Việt, Đông Âu, Mân Việt, Lạc Việt. Ngoài những yếu tố rất chung của Trung Nguyên,
mỗi hướng mang theo địa phương của mình, họ nhập vào những nhóm Bách Việt phương Nam lớn
bị chia cắt nhiều bởi địa hình sông đuối phương Nam. Văn hóa Nam Việt toát đâu chịu
ảnh hưởng trực tiếp từ hàng vạn quân tướng người Hoa, nước Tần, đồn chú, đặc biệt ở các khu
vực quận huyện, phiên ngùng, hợp phố, quý châu. Sau khi nhà hán thành lập, chỉ trừ không đầy 5
lửa hậu cấm do thường, nên văn hóa Nam Việt có quan hệ trao đổi mạnh với Trung Nguyên
thông qua Trường Sa, tổ cổ Nam. Điều đó giải thích tồn tại nhiều dấu ấn văn hóa Tây Hán trong
bộ di vật Nam Việt, bên cạnh những đồ đông sơn bản địa và đồ đã từng ảnh hưởng hoa hạ thời
chiến quốc. Việc so sánh với các ngôi mộ cùng thời ở Trường Sa như mộ Mã Vương Đồi, mộ Vương Quang,
sẽ giúp thấy tính khác biệt của bộ đồ Nam Việt chính là ở khối lượng gốm và đồ đồng phong cách
đồng sơn Nam Hải. Hiện tại đình mình tu sửa với những hình hài hiện tại bây giờ thì từ bao giờ
bác? Năm 2015 được bộ văn hóa chi tiền để xây dựng nhà trung thượng là lên, là nhà đại bái này
là vừa mới được sửa lại cái mái thôi, chứ chưa được lưng. Cho nên là cái lên nhà đại bái mấy nhà
nhà trung là cao thấp khác vì chưa có điều kiện. Lưng cái lên thì lại phải lưng cả cái sân này lên
vì công trình này xuống cấp nhiều. Và đã được ngày 4 sắp phong của các đời vua công nhận cho là thánh
làng này là có công với nước, công với dân. Nếu như xây dựng lên thì đây nó lại còn bồi đắp xuống
nhiều đấy. Khi chúng tôi ở đây là phải xuống dưới cái bậc này là một mét, mét rưỡi nữa, đã tồn
lên bao nhiêu rồi đấy. Thế trên mấy lớp như thế này, cái cột này nó còn phải cái đấu nữa. Khi vào là
rước thánh đi đây. Nhưng mà người dân thì chỉ đi hai cổng phụ này, chỉ không được đi vào giữa. Đi vào,
đi ra cũng đi hai bên này. Chỉ không thể đi thẳng như thế này, chống đít vào trong này. Đó là quan
điểm là như thế. Chứ không phải là cứ vào trong này và đi ra. Bác có thể chia sẻ giúp con về ngày
lễ hội của đình mình? Ngày lễ hội của làng Xuân Quan này thì là vào từ ngày 14. Nhưng mà công tác
chuẩn bị là phải từ mùng 10, mùng 10 tháng 2. Đến ngày 14, trong này đã chuẩn bị làm hoàn thiện
tất cả. Đến ngày 14 là rước, rước quan ở đây đi. Quan không sai ở đây. Rước một bát hương vào cái nông
đình đây, vào trong đỉnh trong. Có nghĩa là rước thánh vào đấy để đón vị thánh ở trong ý. Trong đỉnh
trong, ra ngoài này giữ hội. Từ ngày 14 cho đến chiều 16 bắt đầu lại rước thánh về.
Đỉnh trong là đỉnh gì mà tại sao lại phải rước từ đâu ra đây? Trong đây gọi là đền. Cũng có một vị thánh.
Có nghĩa là thánh là A Trương Công, tôn thần. Cũng là một cái đền tòa xã này. Ngoài này lễ hội thì lại rước
thánh ra. Ngoài này giữ hội. Xong ngày 16, xong hội thì lại rước thánh về. Đức Thánh ở bên đó thì có
liên hệ gì với ngày chợ vũ đế, mà lại rước ra đây ạ? Đức Thánh thì là không có liên quan gì đến họ hàng
hay là anh em gì ở ngoài này cả. Đức Thánh trong ý là một cái vị thánh là như là hiện hình. Có
nghĩa là không phải là người thật. Hiện lên. Có nghĩa là như là những công việc của làng này.
Thế là hay là những cái khi mà bị hạn hay là bị thiên tai hay là bị dịch, dịch bệnh. Thế là
thánh là hiện lên. Hiện lên báo cho là phải lấy cái thuốc này thuốc kia hay làm cái thuốc này thuốc
kia để chữa bệnh. Thế nên là thánh ấy là có cái công chữa bệnh cho dân. Trong ý là cũng được
một cái sát phong của các đời vua là sát phong tôn thờ ngài và cho phép dân làng được lập đền thờ.
Thế là đền thờ trong ý là cũng cũng lâu rồi. Khá lâu rồi. So với lại đền của ngài chợ vũ đế này thì
đền nào lâu hơn? Sâu hơn. Đây vào trong này thì đây là đây là ngai của Đức Thánh Cả. Đây là ngai của
Đức Thánh Cả. Chợ vũ đế ở đây là khu làm việc. Trong kia là cái khu vua, mấy hoàng hậu,
mấy công chúa các quan là ngữ nghỉ ngơi. Chỉ vào được đến đây thôi. Thế bên kia là bên này là hai tượng
Thái Giám. Hai vị hai bên là Thái Giám. Hầu hạ của vua Sai Bảo. Đây là vị trưởng vương.
Ông này là ngai của Thứ Vương. Tức là con của vua. Con của vua là Trọng Thủy. Nhưng mà Trọng Thủy khi
đó chết chưa được làm vua. Chết mấy Mỹ Châu. Thế trên này là không có ở trong này. Đây là con. Con
gọi Trọng Thủy. Ông thì làm vua. Chuyển ngôi cho cháu. Đây là cháu thứ hai. Thế còn cái vị này
vương tướng công nàng này là phò tá cho chợ vũ đế. Phò tá cho hai cháu. Con thấy ngai của ngài
này to hơn. Vì ông này là vương tướng công nàng của Đức Thánh Cảng. Thế bên này là ngai này là của
hoàng hậu. Hoàng hậu là vợ của vua. Đây là hai công chúa là con của vua. Con gái. Hai con gái của vua.
Còn trong kia thì cung cấm không được vào. Chỉ có lễ hội mới được mở. Trong kia là tượng. Ngoài
này ngai thế nào thì trong kia cũng là tượng thế. Cũng một tượng của hoàng hậu và hai tượng của công chúa.
Thì đấy những cái này là còn nguyên vẹn như ngày xưa. Chúng tôi chỉ có sơn son thiết vàng lại. Khi mà được
phép trùng thu của Bộ Văn hóa là được 11 tỷ. Lần đầu tiên là khôi phục lại cái này. Nằm mới. Những
cột này hỏng và chắp lại. Bác ơi hiện tại đình của mình có những hiện vật, những cổ vật gì mà còn
lưu giữ đến hiện tại ạ? Cổ vật thì đấy khó. Không còn. Vì đây đã xao mảng một thời gian. Khi mà
củ lại là còn cả những cái ba thương đồng đen. Nhưng mà cũng bị xao mảng mất. Rồi bị nước lên
rồi ngập lột rồi nó xao mảng mất hết. Mà chúng tôi mới khôi phục được khoảng mấy chục năm thôi. Chỉ
còn suốt đây là vì một cái thời gian cải cách văn hóa. Mình theo anh Trung Quốc. Cải cách văn hóa
là đây này hoang tản. Đấy vừa mới được khôi phục lại. Thì khôi phục lại thì chúng tôi mới được tu sứa này.
Bác ơi dự kiến trong tương lai đình của mình thì sẽ định xây dựng cũng như là định tôn tạo những
hạ bục gì nữa? Một cái giai đoạn đầu là bộ văn hóa đã cho phép chúng tôi xây dựng và kiến trúc sửa
sáng lại, trúng thu lại. Thì là giai đoạn một là được gây một tỷ để xây dựng từ trung tự cho đến
thượng. Đấy là một giai đoạn đầu. Giai đoạn thứ hai thì cái xã mình chưa kịp xây dựng thì
cái ngân sách của tỉnh lại cấp cho anh Đà Hòa. Thế là mình lại không có. Thì bây giờ là mình đưa
giai đoạn thứ hai là mình làm cái gian đại bái kia. Thì chỉ được phép xin được cấp được 400 triệu. Thế còn
nhân dân lại tự cung đức là hơn 300 triệu. Thế còn cái giai đoạn vừa rồi chúng tôi làm đơn xây dựng
nhà vôi và hai cuộc đồng trụ ngoài kia. Thế nhưng mà dưới sở văn hóa thông báo lại là tại tạm hoãn
1-2 năm trên bộ và sở văn hóa sẽ chi tiền để xây dựng đồng bộ. Chỉ không xây dựng nhỏ lẻ như
thế. Nhỏ lẻ sợ là sau này nó lại không hợp. Có nghĩa là cao thấp nó không đồng bộ. Thì xây dựng đồng bộ
thì nó trong này ra thì nó sẽ cao thấp nó sẽ bằng nhau. Chứ không thì cái cao với thấp nó không đồng
bộ thì lại là phí, lãng phí. Thế còn lễ tháng Tư nữa là dầm tháng Tư là chúng tôi có lễ là lễ rước
ông ý. Có nghĩa là thi ông ý. Mỗi thôn một ông ý mang đến đây để để lễ và chấm thi. Xong
lại được phép mang về chia cho nhân dân để hướng lộc. Không phải là lễ hội nhân dân mới đến lễ
mà những ngày thường như là gia đình có công có việc gì. Một là cưới hỏi này hay là gia đình có
người người mất đi thì cũng mang lễ đến để lễ. Và lễ cũng là cầu cho cầu mong được mạnh khỏe
tài lộc hạnh phúc. Như là có những việc thui xéo trong gia đình đến lễ. Còn cái lễ này cũng
bình thường. Chỉ hoa quả hay là mâm lễ bình thường. Đến khấn lễ Đức Thánh mong Đức Thánh sẽ phù hộ
đội truyền cho toàn gia được mạnh khỏe, tài hóa lạn khỏe. Cầu phúc, cầu lộc, cầu tài cho con gia đình
được mạnh khỏe, tài lộc, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng. Bình thường là như thế.
Dạ thưa bác, hiện tại ở xã Xuân Quang của mình thì kinh tế chủ yếu của bà con là làm về nghề gì bác?
Kinh tế ngày xưa thì là làm ngô, làm núa, làm tầm. Thế nhưng mà bây giờ là xã hội phát triển.
Trên địa phương chúng tôi đã mất diện tích ở trong đồng vào cái dự án. Bây giờ chỉ có đất ngoài bãi.
Đất ngoài bãi chúng tôi bây giờ lại chuyển sang làm hoa. Và cái xã tôi là một cái làng hoa được thở văn hoá,
cấp bằng làng nghề trồng hoa cây cảnh. Và xã tôi đã làm hội hoa lần thứ hai. Có nghĩa là hai lần làm lễ hội hoa rồi.
Và rất được nhiều các địa phương khác đến chiêm ngưỡng và mua hoa. Hiện tại bây giờ là làng tôi hàng nghìn chiếc xe
lũ gặt về kéo về để mua hoa. Mang đi tất cả các lơi. Rồi xe của con cháu xã chúng tôi lại đi vào trong miền Nam.
Đi các lơi để mua hoa, để lấy hoa, về đây để cung cấp cho nhân dân trồng cây giống hoa.
Đây là nghề chính của xã chúng tôi bây giờ là như thế.
Từ đó thì kinh tế của xã phát triển nhiều hơn so với ngày xưa đúng không ạ?
Vâng, vâng. Kinh tế chúng tôi nói thật tình như là bây giờ một xào thì ngày xưa chỉ được mấy tạ thóc hay mấy tạ ngu.
Nhưng mà bây giờ hàng mấy triệu. Công làm của chúng tôi là mỗi ngày cũng được hai trăm rưỡi một công.
Đấy là người ta đến làm.
Thế còn như là bình thường đi các cháu làm hoa, gia đình chúng tôi cũng các cháu cũng làm hoa.
Kinh tế rất phát triển.
Mà thường thường là chỉ làm ba đến bốn năm là có thể xây được một cái nhà hai tầng, ba tầng, tầm tỷ rưỡi một cái nhà.
Kinh tế của xã tôi nổi lên từ phát triển hoa.
Mà cái nghề trồng hoa của chúng tôi là nhiều anh đã có mở cái diện tích hoa ở trong đồng.
Vì cây lúa nó không được bao nhiêu.
Các cháu đã phát triển được và học hỏi các nơi khác người ta làm hoa, làm cây cảnh.
Thế là đưa về xã để làm.
Thế bây giờ thì phát triển nhiều lắm.
Bây giờ mà các anh cứ ra đồng ra bãi thì chỗ nào cũng vòm.
Bây giờ là các cháu làm là cái ruộng, một xào ruộng là phải lưng, mất cái tiền đất để lưng lên.
Nó trúng mà.
Thế trên lưng lên thì cũng đã ba, bốn chục triệu một xào.
Thế làm cái vòm lên cũng phải ba, bốn chục triệu nữa.
Thế nên là vào một cái diện tích một xào mà khi mà đã làm ra để trồng hoa được là phải tốn hàng trăm triệu.
Cả giống vốn.
Diện tích ngày trước ở đình này là nhiều, thế nhưng mà không có thu hoạch được mấy.
Thế chúng tôi đã phải tận dụng để bán thuê cho họ để trồng hoa.
Ở đình này là chỉ được phép đặt bịch, chứ không được trồng.
Khi mà lễ hội là phải giải phóng, lại lấy tiền đó để phục vụ cho lễ hội.
Do lịch sử có sự đánh giá khác nhau về triệu đại nhà triệu và vai trò của Ngài Triệu Vũ Đế,
Ban Quản lý Di tích Đình xã Xuân Quang trích những nhận xét, đánh giá của một số vĩ nhân và các
nhà sử học thời đại phong kiến đã được ghi trong sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư để nhân dân hiểu sâu
thêm về những đánh giá của cha ông ta về triệu đại nhà triệu và Ngài Triệu Vũ Đế.
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư tràng 61, Sử Thần Ngô Xĩa Liên có viết,
chuyện, tức trùng dung, có câu,
Người có đức lớn thì át có ngôi, át có danh, át được sống lâu.
Vũ Đế làm gì mà được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi.
Xem câu trả lời lục giả thì oai anh Vũ kém gì hán cao tổ. Đến khi nghe tin văn đế đặt thủ
ấp trong coi phần mộ tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng yêu hậu cho anh em thì bây giờ
vua lại khuất phục nhà hán, do đó tông miễu được cúng tế, con cháu được bảo tồn. Thế chẳng
phải là nhỡ đức ư? Kinh dịch nói, biết khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng,
ngôi thấp mà không ai dám vượt qua. Vua chính hợp câu ấy.
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Sử Thần Lê Văn Hiêu có viết,
đất liều đồng không có cơ tử thì không thành phong tục mặc áo đội mũ như Trung Hoa.
Đất ngô cối không có thái bá thì không thể lên cái mạnh của bá vược. Đại Thuấn là người Đông Di,
nhưng là bậc vua giỏi trong ngũ đế. Văn Vương là người Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại.
Thế mới biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di,
chỉ xem ở Đức mà thôi. Triệu Vũ Đế cái thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước,
đối ngang với nhà hán, gửi thư xưng là lã phu, mở đầu cưng nghiệp đế vương cho nước Việt ta.
Công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt trước vũ đế
mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng, phải đạo, giữ ngôi bằng nhân,
thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài. Người phương Bắc không thể lại gấp nghe được.
Trích Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Sử thần Lê Tung có viết,
Triệu Vũ Đế nhân loạn nhà tần, chếm lấy đất lĩnh biểu đóng đô ở phiên ngung,
cùng với hán cao tổ, đều làm đế một phương, có lòng nhân thương dân, có mưu trí giữ nước,
vũ công khiến tàm tùng phải kính sợ, văn giáo khiến cuộn được chấn hương, lấy thi thư mà biến đổi tục
nước, lấy nhân nghĩa mà cố kết lòng người, dạy dân cầy trồng, nước giàu binh mạnh.
Đến như các việc sai xứ, tức sang nhà hán, thì lời rất khiêm tốn.
Nam Bắc trùng vui, thiên hạ vô sự, hưởng nước hơn trăm năm, đúng là bậc vua anh hùng tài lược.
Ban vương là đích tôn của vũ đế, nối dưỡng nghiệp cũ, phàm các chế độ điển trường,
hết thẩy đều tuân theo phép cũ của vua trước, lấy nghĩa mà cảng nước, láng giềng, đánh
lui quân địch, giữ yên bên cường cũng là bậc vua nối được, thể chế, giữ được cơ nghiệp vậy.
Kế sách giữ nước của hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn cũng được ghi chăm lại trong Đại
Việt Sử ký Toàn Thư như sau. Ngày xưa triệu võ đế giữ nước,
vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh giã, rồi đem đại quân từ Khâm Châu,
Liêm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoàn binh úp đằng sau, đó là một thỷ. Đến thời Đinh Lê,
dùng được người hiển lương, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mỏi mệt suy yếu,
trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, xây thành bình lỗ mà phá được quân Tống, đó lại là một thỷ.
Nhà Lý mở nền, nhà Tống xâm chiếm địa giới, dùng Lý Thương Kiệt để đánh Khâm Châu,
Liêm Châu, mấy lần đến tại Mai Lĩnh là vì có thể đánh được. Mới rồi To Đô và Ô Mạ Nhì bốn
mặt bao vây vì vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt,
đó là trời suy nên vậy. Tóm lại, giặc kệ trận dài, ta kệ binh ngắn, lấy ngắn chế dài là thường
của binh pháp, nếu thấy quân giặc đến ồ ạt như lửa cháy gió thổi thì thế dễ chế ngự. Nếu nó đi
chậm như cách tắm ăn, không cần của dân, không cầu được chóng thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem
xét quyền biến như đánh cờ vậy, tùy thì mà làm, có thu được quân lính một lòng như cha con thì mới dùng
được. Và lại khoản từ sức dân để làm kế sâu dễ bền gốc, đó là tượng sách để giữ nước.
Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo có viết, Từ triệu đinh Lý Trần ba đời gây nền độc lập,
cùng hán đường tống nguyên, mỗi bên hùng cứu một bên. Chủ tịch Hồ Chí Minh trong lịch sử nước ta có viết,
Triệu Đà là vị hiền quân, quốc danh Nam Việt, trị dân năm đời.
Cảm ơn các bạn đã theo dõi. Hẹn gặp lại các bạn trong những video sắp tới.
Các bạn nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video. Đừng quên
nhấn đăng ký kênh Youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất. Cảm ơn các bạn rất nhiều.
