Vườn Tháp Tổ Lớn Nhất Việt Nam Chứa 2000 Nhục Thể Sư Tăng Ai Được Khai Sáng Sẽ Nhìn Thấy Điềm Lạ.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
4 Lượt xem video·8 thg 4, 2025
Vươn tháp Chùa Bổ Đà được đánh giá là đẹp và lớn nhất Việt Nam. Với hơn 100 ngôi tháp được xếp hàng hàng,
lớp lớp, nơi tảng lưu xá lị cho cốt nhục thân của hơn 2.000 vị tàng nỉ, có dòng lầm tế khắp nơi trên cả
nước từ gần 3 thế kỷ qua. Đặc biệt có ngôi tháp an táng tới 26 nhà sư, tương truyền ở đây vào những
ngày rằm, những người được khai nhãn sẽ thấy được ánh sáng hừng lên từ những ngọn tháp cổ.
Với những giá trị văn hóa, quý báu và ý nghĩa tâm linh to lớn cùng với số lượng thực tế,
vươn tháp và bộ mộc kinh của Chùa Bổ Đà đã được tổ chức kỷ lục Việt Nam công nhận là vươn tháp lớn nhất
Việt Nam và bộ mộc bản kinh Phật thuộc thiền phái lầm tế khắp trên gỗ thị cổ nhất.
Phường ngôn xưa có cầu Bắc Bổ Đà Nam Hương Tích, tức là phía nam thành Thăng Long có Chùa Hương Tích,
phía Bắc có Chùa Bổ Đà, đây là một trong những ngôi chùa cổ kính, linh tiêng bậc nhất của miền Kinh Bắc.
Nơi đây đứng trên đỉnh núi có thể quan sát toàn bộ phòng tuyến sông Như Nguyệt,
ghi dấu ấn lịch sử bao đời này của dân tộc. Đây cũng là nơi sơn thủy giao hỏa,
nhìn sông tựa núi, cảnh sắc, không gian nhuốm màu huyền thoại đúng như lời thơ của người xưa.
Bốn bề phong cảnh lạ thay, bồng lai kia cũng thế này mà thôi.
Chùa Bổ Đà còn có tên gọi khác là Chùa Quản Âm, theo những cứ liệu lịch sử thì chùa có từ thời Lý,
thế kỷ thứ 11 và được trung tu mở mang vào năm 1720 dưới thời Lệ Trục Hưng và các giai đoạn sau này.
Chùa thờ Tam Giáo gồm Phật Giáo, Nho Giáo, Đạo Giáo, Phối thờ Thạch Linh Thần Tướng và Trúc Lâm Tam Tổ.
Chính vì vậy, hệ thống tượng phật ở Chùa Bổ Đà được bài trí theo dòng phái Lâm Tế,
có sự kết hợp tiếng ngưỡng dân gian bản địa và đạo giáo.
Chùa Bổ Đà là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật các quốc gia đặc biệt được công nhận vào năm 2016.
Duy Hà Nội Phố xin mời chào quý vị.
Thưa quý vị hiện tại Duy đang ở một trong những ngôi chùa cổ có từ thời Lý.
Đây là chùa Bổ Đà.
Tại sao có một cái tên đặc biệt như thế?
Chùa tọa lạc trên ngọn núi Phượng Hoàng phía bắc dòng sông Cầu, thông địa Phận xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Vị trí này cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 50 km và cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 20 km.
Đây là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Bắc Giang cũng như là một trong những danh lam thắng cảnh rất nổi tiếng thời Lê.
Đây là một trong những ngôi chùa thiền cụ thể chi tiết như thế nào?
Mời quý vị đón xem ở phía sau video nha.
Trước khi quý vị xem tiếp quý vị nhớ hùng kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất.
Cảm ơn quý vị.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên xin lên lệ số 0989 260 877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố nhận giam hàng toàn quốc.
Khu di tích chùa Bồ Đa gồm chùa cổ có tên là chùa Bồ Đà hay còn gọi là chùa Quản Âm hay chùa Cao.
Cách chùa chính tứ ân khoảng 300 mét.
Đứng trước chùa Cao đó là am Tạm Đức, vườn tháp và am biếu.
Ngoài ra trên núi Bồ Đa còn có đền thờ Đức Thánh Hóa, tước thạch Linh Thần Tướng
người có công giúp vua chống giặc ngoại sầm và đền thờ Sơn Thần.
Chùa Bồ Đa tọa lạc trên ngọn núi Bồ Đa ở về phía bắc dòng Nguyệt Đức,
còn gọi là sông Cầu, thuộc địa phận xã Tiên Lát huyện Việt Yên, phủ Lạng Giàng tỉnh Bắc Ninh Sửa
và xã Tiên Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giàng hiện nay.
Ngôi chùa mang tên Bồ Đa, không rõ tên núi có trước hay tên chùa có trước.
Chùa Bồ Đa chính tên là chùa Quản Âm, còn có tên gọi là chùa Cao
nơi Đức Quản Âm Bồ Tát ứng hiện cứu đời, nên dân còn gọi là chùa Bồ.
Chùa Cao, tiếng truyền là hạng mục được xây dựng đầu tiên nơi phát tích dựng chùa từ thế kỷ thứ 8.
Chùa Cao nhìn về hướng Đông Bắc, xung quanh là cây rừng và dãy Bồ Đa Sơn,
diện tích chùa Cao rộng khoảng 990m2, kể cả sân.
Qua nhiều lần tu sửa hình dáng để lại của ngôi chùa xưa hiện vẫn rất cổ kính,
tổ hợp mái cuốn vòm theo lối kiến trúc am là nét kiến trúc đặc trưng rất cổ xưa của chùa Cao.
Tuy vậy, phần bơ mái trước lại cho thấy rõ nét kiến trúc của thời Nguyễn vào thế kỷ thứ 19.
Khuần viện sân chùa lát gạch vuông, xung quanh sân được xây tường bao lửng,
bình đồ kiến trúc chùa Cao theo kiểu hình chữ nhất, dọc xây cuốn mái vòm.
Trong chùa chia hai gian nhỏ, bên ngoài là nơi hành lễ,
hai bên áp sườn từng đặt ban thờ, bên trái để chữ sơn chấn tĩnh, bên phải để chữ nhạc giáng thần.
Giàn trong cùng cũng tạo ba ô cửa cuốn mái vòm không lắp cánh cửa,
phía trước treo bức cốn thư để chữ hán, quán âm tự, tức chùa quán âm.
Giàn hậu cùng xây bệ thờ trên đặt tượng quần thế âm tống tử và bài trí đồ thờ tự.
Đây là pho tượng cổ mang phong cách thời Nguyễn vào thế kỷ thứ 19.
Tượng sơn thép màu vàng kim đang trong tư thế ngồi.
Trên bệ tay phải bồng con trẻ.
Pho tượng này được tạo vào năm 1842.
Chuyên tích dựng chùa như sau.
Vào thế kỷ thứ 11, đời nhà Lý, có vợ chồng bác tiểu phu tên Đoàn Mình.
Hai vợ chồng ngoài 40 tuổi mà chưa có con.
Một hôm lên núi bổ đa đốn củi, bác Đoàn Mình gặp một gốc cây thông gốc bị cắt rất bằng phẳng.
Bác vung diều vào bổ một nhát, từ gốc thông bắn ra đồng tiền bằng vàng.
Bác đã nhắm mắt lại và niệm quan thế âm Phật.
Bổ 32 nhát bắn ra 32 đồng tiền vàng.
Nghe vị cao tăng bảo, mũi đồng tiền vàng thì tương ứng với một điều ước.
Bác tiểu phu Đoàn Mình đã ước một điều duy nhất là xin một cậu con trai.
Nếu điều đó thành hiện thực thì bác sẽ át cho lập một ngôi chùa tại đây để sớm hôn thở phục.
9 tháng 10 ngày sau, vợ của bác đã sinh được con trai và từ đó ngôi chùa được khởi dựng.
Vì thế gọi tên là chùa ông bộ.
Ngày này, nhiều du khách thập phương hiếm muộn gặp khó khăn trong việc sinh nợ đến cầu tự rất linh ứng.
Theo các nhà nghiên cứu phân tích thì tên chùa, tên núi Bồ Đà bắt nguồn từ chữ Bù Đà.
Bù Đà tức là Phật mà dân gian còn gọi là Bụt.
Nếu sự phân tích này là đúng thì Phật giáo đến đây từ khá sớm và tên núi gắn liền với tên chùa.
Còn theo truyền lại từ thùa khai thiền lập địa trong địa phận Tiền Lát có 3 ngọn núi lớn.
Mỗi ngọn có tên riềng, cao nhất là Phượng Hoàng Sơn, có nhiều đá mọc thông dèo.
Ngọn thứ 2 là Mã Yên Sơn và ngọn thứ 3 là Kim Quỳ Sơn.
Cả 3 ngọn núi có tên chung là núi Bồ Đà.
Dải núi thấp nhô, cây xanh tươi tốt, ngàn thông xuông họp gió mát chim kều,
nên sau này có nhà sư đã dựa vào phong cảnh thiên nhiên mà viết lên những dòng mô tả về chốn tổ Bồ Đà như sau.
Bốn bề phong cảnh lạ thay, bồng lai kia cũng thế này mà thôi.
Truyền thuyết thì như vậy, còn dấu vết vật chất và thư tịch còn lại ở chùa cho biết chùa được xây dựng lớn từ thời Lề,
nằm quý mão nền hiệu Bảo Thái, nhà Lê từ năm 1720 tới năm 1729.
Có vị trụ trì tên là Phạm Kim Hưng, tiến hành trùng tu tòa chính điện, thiêu hường, tiên đương,
dựng cột đá, cột gỗ, làm thêm được vài giàn, nhưng bìa đá, chữ M không còn gì là dấu vết người xưa.
Đến nền hiệu Cảnh Hưng, nhà Lê từ năm 1740 tới năm 1786,
có vị sư tổ họ Ngô quê ở làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội.
Đây là huyện Thượng Tiến, Hà Nội.
Ngài từ bỏ vinh hòa phu quý, xuất ra tô đạo, sắc phong là hào tuyết hòa thượng.
Tự là tênh ảnh, vẫn dù tới đây ngắm thấy phong cảnh địa linh tịch tĩnh,
có thể lập thành một nơi khai trường tuyết pháp, bèn cùng với nhân dân xây dựng chùa Tứ Ân và am Tạm Đức.
Lại trùng tu chùa Quán Âm, dùng gỗ lim gạch ngói xây dựng một gian, từ đó trở thành nơi tung lâm sầm út.
Chùa bộ bao gồm cả chùa Tứ Ân nên nó có tên là Tứ Ân Tự.
Kế truyền đến đời thứ tư là hòa thượng Chiếu Không.
Trùng tu một ngôi hai gian bằng đá xây vào năm giáp ngọ, nền hiệu Minh Mạng từ năm 1820 tới năm 1840,
đến năm giáp dân nền hiệu Tiệu Trị từ năm 1841 tới năm 1847, được đúc tượng Quán Thế Âm.
Tiếp tục xây dựng chùa Tứ Ân nhất nhất đầu mới,
nằm bính ngọ nền hiệu Tự Đức từ năm 1847 tới năm 1883.
Đệ tử là Ngài Phả Thuần lại dựng tiền đường năm gia làm nơi thờ tụng.
Tiếp đến các hòa thượng như Chiếu, Phả Tiến và ngay nay là hòa thượng Quảng Lâm,
đã nhiều lần trùng tu mở mang xây dựng thêm chùa thành nơi tung lâm quy mô rộng lớn.
Thật là cảnh thiên nhiên đã sẵn bày, mở mang lại có bàn tay con người.
Tất cả các công trình kiến trúc trong khu nội tự chùa được xây dựng bổ sung qua nhiều thế hệ người trụ trì.
Dấu vết kiến trúc còn lại cho thấy các công trình được xây dựng vào thời Lê, Nguyễn.
Từ khi khởi dựng đến nay, nó vẫn ở nguyên vị trí ban đầu.
Về mặt không gian dành cho khu nhà chùa này rộng rãi, thoáng đạt,
xung quanh là đồi núi xóm làng Ba Bọc.
Toàn bộ khu chùa được xây dựng ở phía bắc chân núi Phượng Hoàng thuộc thôn Thượng Lát.
Cùng với các công trình kiến trúc, chùa Bồ Đài hiện nay còn lưu giữ được nhiều tài liệu hiện vật
quý hiếm có ý nghĩa cho việc nghiên cứu, khoa học.
Ngoài hệ thống tượng Phật theo dòng phái Trúc Lâm, ở chùa còn lưu giữ nhiều văn bìa,
văn khác như câu đối, đài tự, sách kinh Phật, các bộ hướng án,
đồ thơ giá trị về mặt lịch sử văn hóa thời Lê, Nguyễn.
Cũng qua các hiện vật, thư tịch còn lại ở chùa không chỉ giúp chúng ta hiểu được
sự hình thành phát triển của ngôi chùa qua dòng phái Trúc Lâm,
mà cả lịch sử văn hóa của một vùng giàu truyền thống.
Thưa vị, hiện tại Duy đang ở vườn tháp tổ của chùa Bồ Đài.
Ở đây thì có khoảng hơn 100 tháp tổ và mỗi tháp tổ có nhục thể
của những vị sư ni ở trong đây.
Và cách bố trí bên phía trên là những vị sư đã trụ trì từ những đời trước
còn càng về phía dốc ở dưới đây là các vị sư ni tu tập ở chùa Bồ Đài.
Vườn tháp chùa Bồ Đài, nơi tàng lưu xá lị,
trò cốt nhục thân của các tăng ni dòng thiền lồng tế
nằm ở bên trái khu nội tự và vườn chùa.
Đó là bãi đất nằm nghiêng theo độ cao của núi Bồ Đài,
có diện tích gần 8.000 m2.
Bào quanh vườn tháp, nhà chùa đã dùng đá núi, gạch trị và đất thó
tạo nên bức tường thành để giữ gìn yên tĩnh giấc ngủ ngàn thu cho các nhà tu hành đắc đạo.
Khu nội viên trước kia cây lá ung tùng nhưng vì sợ dễ cây ưa đất đầm sầu,
vươn dài ảnh hưởng đến các ngôi tháp cổ cho nên gần đây nhà chùa đã chặt hạ
chỉ để lại minh mang những tảng cọ xanh bản địa với những bụi xim mua,
hoàng dại cho vườn chùa có thêm cảnh sắc thiên nhiên.
Nhiều du khách đến thăm vườn tháp chùa Bồ Đài không còn ngạc nhiên
chức sự mênh mông rộng lớn của vườn tháp, chất là số lượng các ngôi tháp ở đây quả
xứng đáng được liệt danh vào cuốn sách ghi cửa lục của nước nhà.
Qua gần 300 năm Hưng Thịnh, kể từ khi sư tổ có tên tục là Phạm Kim Hưng viên tịch đến này,
Sơn Bồn Bồ Đài đã xây dựng tất cả 97 ngôi tháp, mỗi tháp lớn nhỏ.
Trong vườn tháp ta thấy đa số là những ngôi tháp 3, 4 tầng với độ cao từ 3 đến 5 mét,
riêng mấy ngôi tháp sư tổ thì độ sộ cao rộng hơn nữa.
Tàng chứa trong 97 ngôi tháp, mộ là xá lị, cho cốt nhục thân của 1.214 nhà sư
tu hành đắc đạo của dòng lâm tế khắp nơi trên cả nước từ gần 3 thế kỷ qua.
Đại đức Thích Tục Vinh, nhà sư kế truyền y bát từ vị cao tăng là hòa thượng Thích Quảng Luân,
cho biết không có một quy mô nào về việc các nhà sư dòng lâm tế khi viên tịch
thì đưa về an táng cốt nhục ở đây. Nhưng từ xưa tới nay, nhà chùa luôn đáp ứng nguyện vọng
các tàng nghi muốn được quê quần an nghỉ chỗ này, cho nên vườn tháp bổ đà cứ đông thời mãi.
Đặc biệt, có ngôi tháp an táng tới 26 nhà sư. Họ đều là anh em cùng sơn môn,
cùng tu một thầy, quý mến nhau muốn khi được về nơi tịch diệt,
vẫn được nằm cạnh nhau nên thể hẹn được thế hệ sau cho cùng yên nghỉ.
Cuộc đời trong kiếp luân hồi xin gửi tháp về người trước kẻ sau,
cho nên có ngôi tháp vẫn còn những ô chờ đợi người sau tháp về với tổ.
Một điều độc đáo nữa mà du khách được triêm bái ở vườn tháp chùa bổ đà,
đó là trong vườn có cả tháp, mộ, sư tăng, sư nì, đều hiếm thấy ở các dòng phái khác.
Nếu những ai quan tâm thì cũng dễ dàng phân biệt đâu là tháp mộ sư tăng, đâu là tháp mộ sư nì.
Tháp mộ sư tăng trên đỉnh tháp bao giờ cũng gắn bình cam lộ đặt trên tòa sen,
tháp sư nì thì khác, đỉnh tháp mộ lại được gắn một búp sen.
Như thế, Phật tử có thể đến vãng cảnh vẫn biết được có bao nhiêu vị tăng,
nì, viên tịch và yên nghỉ ở chỗ này.
Các ngôi tháp chùa bổ đà đều được kiến tạo bằng chất liệu truyền thống xây bằng đá và gạch chỉ,
và bít mạch thì dùng vôi vữa trộn với bật mía và một giấy bản nên rất bền, rất mịn.
Đa số các ngôi tháp đều có tên, nhưng lâu năm nét chữ dần mở phai nên không thống kê hết được.
Trong lòng tháp thường đặt bia ghi bài vị và ghi thời gian sinh, hóa của các nhà sư,
cho nên mỗi ngôi tháp đều là những nguồn tư liệu chân thực giúp các nhà nghiên cứu
tìm hiểu sâu sắc hơn về Phật, Phái, Lâm, Tế nói chung, lịch sử chùa bổ đà nói riêng.
Giờ này, vườn tháp được xem như một công trình kiến trúc góp phần tôn vinh giá trị cho danh làm,
cổ tự và thu hút đông đào khách thập phương đến du ngoạn cảnh chùa.
Vườn tháp cùng hệ thống kiến trúc độc đáo, phần nội tự, hệ thống cổng chùa, tưởng đất cũ,
dừa phòng, vườn cây đại thụ của chùa bổ đà thật xứng danh là ngôi chùa mang đậm bản sắc
văn hóa Việt, cần được tôn trọng và giữ gìn tính biên bản để muôn đời thế hệ sau chiềm ngưỡng bái vọng.
Hiện này, chùa Tứ Ân vẫn giữ được những nét kiến trúc cổ gồm 16 tòa ngang dãy dọc với tổng số 92
gian được bố trí lần lượt như sau, cổng chùa và tưởng đất, tàm bạo, hành lang, tòa tiền tế,
nhà tổ, gác kinh, giảng đường, nhà trụ trì, nhà hành pháp và nhà tạo soạn, nhà khách, nhà nỉ,
nhà ga tức nhà tàng lễ và các công trình phụ trợ khác.
Chùa Tứ Ân ngoài cổng chính còn rất nhiều lớp cổng phụ, cả trước và sau chùa có đến 8 cổng phụ,
với 8 lớp cổng thông lối giữa các công trình kiến trúc với nhau đã tạo nên nét kiến trúc độc đáo
chỉ có riêng ở chùa Tứ Ân. Hệ thống các cổng không to lớn đồ sộ,
phù hợp với không gian bổ cục kiểu nội thông ngoại bế của ngôi chùa.
Phần lớn các lớp cổng trong chùa đều mang nét kiến trúc cổ của thế kỷ thứ 19-20.
Cổng chính phía nam gồm có 3 lớp cổng.
Cổng ngoài cùng, cổng thứ nhất, được xây gạch chỉ miết mạch,
để mộc cao 4,19m, rộng 2,6m, cửa mái vòng cao 2,15m, rộng 1,3m, kiến trúc thời Nguyễn.
Theo lối nghi môn cuốn mái vòng, đỉnh mái vòng xây gạch phủ áo vữa,
tạo hình cuốn thư ở giữa, dưới đề biển chữ Hán, di đạp vật.
Cổng có 2 cánh bằng gỗ, có thể đóng, mở bằng thang cài.
Thú vị vị trí này là một trong những vị trí
nó mang sự rêu phong cổ kính cũng như là thanh bịch.
Khi chúng ta đến đây thì chỉ nghe thấy những tiếng chim hót và những tiếng bước chân của những du khách tới đây.
Đường vào chùa từ cổng thứ nhất đến cổng thứ hai dài 4,5m, rộng 3,2m,
nền lát những khối đá muối có kích thước to nhỏ khác nhau.
Hai bên được đắp tường trình bằng đất nện, rêu phong cổ kính dài 2,5m, cao 2,1m, dày 0,5m.
Bao bọc xung quanh chùa đều được trình tường đất cổ, có tổng độ dài gần 400m.
Tường được trình bằng loại đất sỏi son ở núi Bồ Đà.
Hệ thống tường đất chùa Bồ Đà đã có lịch sử từ lâu đời.
Một số đoạn do lâu ngày thiên nhiên tác động bị nứt, đổ đã được trình đắp lại như cũ.
Tường đất có độ cao từ 1,8-5m, trên tường dày 0,8m, đỉnh tường dày 0,4m, trên đỉnh tường có mũ,
dưới được che bởi các mảnh gốm, chung vại thổ hà.
Tường trình bằng đất nên mùa đông có tác dụng chắn gió rất tốt, mùa hè thì mát mẻ.
Sự kìa, Bồ Đà còn là khu rừng rậm nên tường đất còn có tác dụng ngăn thú giữ rất hiệu quả.
Có thể nói tường đất là nét kiến trúc độc đáo chỉ có ở chùa Bồ Đà.
Hiện nay, gần 400m tường đất bao quanh chùa Bồ Đà còn bảo lưu được gần như nguyên vẹn.
Một số ít đoạn tường do lâu năm trời mưa ẩm nên đã bị đổ vỡ nhưng được rà cố,
bùa đắc trình lại theo kỹ thuật cổ xưa.
Các đoạn tường bị đổ như phía trước tòa tam bào, đoạn tường cạnh cổng thứ 2 vào chùa.
Ngoài có lớp tường đất phía trước chùa Tự Ân, còn có lớp hào sâu và hàng tre già tạo hàng rào bão bọc vũ trắc cho di tích.
Ngoài chức năng tre chắn bảo vệ chùa, hàng tre còn mang giá trị sinh thái tâm linh, tạo vẻ đẹp cảnh quan hồn quê Việt.
Theo giáo sư Trần Lâm Biên, sự đông đức quần tụ của tre ở quanh chùa được nghĩ tới là sự hợp quần của tiến đồ.
Tre với nhiều đốt thẳng còn mang tư cách như chiếc thang lên trời trong ước vọng thông linh. Tre thường được dùng để treo cảnh phan.
Với đạo Phật, do lòng rỗng, ma tre được tượng cho tàm không, dẫn người ta trở về với bản thể chân như để thấy Phật tâm.
Trong tí ngữ dân gian thì tre có sức vươn cao, đu đưa theo gió, có ý nghĩa chúng mềm mại nhưng cưng quyết nên mang ý tùy duyên mà hóa độ.
Trong lễ phá cửa ngục cứu vong, cành tre có treo lá phướn. Với sự đông đưa, đã có tác dụng xua đuổi ma quỷ dẫn vong về trần rồi lên tiên cảnh.
Tòa Tam Bảo
Kiến trúc Tòa Tam Bảo – Chùa Tứ Ân có sự độc đáo và khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam.
Đó là lối kiến trúc nội thông ngoại bế, tạo vẻ ưu tịch, linh thiềng, không cốt ở sự nguy ngà, tráng lệ mà quan tâm với sự liên hoàn, thoáng đạt hướng tới sự thanh tịnh của cảnh giới nhà Phật.
Phần kết cấu kiến trúc Chùa Tứ Ân gồm 16 khối kiến trúc khác nhau và 92 gian lối thông nhau tạo thành hệ thống các tòa ngang rãi dọc liên hoàn cổ kính.
Đây là một nét kiến trúc độc đáo, đặc sắc không chỉ riêng trong tỉnh Bắc Giang mà các ngôi chùa truyền thống ở miền Bắc Việt Nam cũng rất hiếm thấy.
Tòa Tam Bảo nhìn về phía đông nam.
Vườn chùa phía trước thấp hơn sân chùa khoảng 2 mét, được ngăn cách bởi hệ thống tường trình đất.
Sân chùa lát gạch vườn trong một hàng cây hoa cảnh hồng trà hoa ngậu.
Tòa Tam Bảo có bố cục kiến trúc kiểu chữ đinh gồm Tòa Tiền Đường nối với Tòa Thượng Điện.
Tòa Tiền Đường với bảy gian bình đầu bí đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi hai, bờ nóc xây gạch phủ áo vữa, chính giữa đắp biển đề chữ Hán, đà sơn phong cảnh.
Hai đầu kiểm nóc tạo hình đầu rồng cách điệu, đầu hình rồng đuôi hình văn kỳ hà.
Bờ rải xây gạch phủ áo vữa chạy dài, giật ba cấp nối hai trụ biểu phía trước tạo thế tường hồi Tênh Ngai.
Tường mái xây gạch miết mạch để mộc, không chặt áo vữa. Đây là tổ hợp kiến trúc thời Nguyễn thế kỷ thứ 19.
Đình trụ biểu tạo hình bốn con chim phượng trung thần, phần dưới ở bốn cạnh tạo hình đèn lồng đắp tứ linh, lòng lì quỳ phượng.
Thân trụ biểu đắp các câu đối chữ Hán. Rất tiếc nội dung đã bị mờ mòn nhiều.
Nền Tòa Tam Bảo được tôn cao hơn so với mặt sân 0,95m.
Thêm hiên được xây giật ba cấp không điều nhau. Bực thứ nhất cách mặt đất 0,55m, rộng 1,5m.
Bực thứ hai cách bực thứ nhất 0,2m, rộng 0,52m được lát bằng đá xanh.
Kiến trúc Tòa Tiền Đường là đơn nguyên kiến trúc chính còn bảo lưu được nhiều yếu tố gốc.
Nhìn bao quát tổng thể trên các cấu kiện kiến trúc như con trồng, ván rong, đấu kê, được chạm nội,
các đề tài hình hoa lá, vần mây, hình hoa cúc, hình trái đảo tiền, hình chữ thọ.
Tòa Tiền Đường còn được bài trí hệ thống tượng Phật, các đồ thờ, di vật, cổ vật đầy đủ.
Đáng chú ý là các pho tượng Đức Âu, tượng Khổng Tử, Lão Tử, Thạch Linh Thần Tướng,
tượng Tam Châu theo cách bài trí Kiều Tiền Thánh Hậu Phật.
Với cách bài trí này cho thấy Chùa Tứ Ân Thở Tam Giáo kết hợp tiếng ngưỡng dân gian bà địa.
Bắc Bồ Đà, Nam Hưng Tích. Đó là cầu phương ngôn lưu truyền trong dân gian ngợi ca
hay danh làm cổ tự thuộc Phật Phái, Lâm Tế, một dòng thiền có ảnh hưởng rộng rãi nhất
ở mọi miền Tổ quốc Việt Nam. Vị Tổ Tông Phái này họ hình tên Huyền Nghĩa,
người Nam Hoa, Tào Châu thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Tư nhỏ đã có trí xuất ra.
Sau khi cắt tóc thụ cụ Túc Giới, Sư Liền hâm mộ Thiền Tông, lúc đầu tới Giang Tây tham
kiếm các thiền học đạo ngài Hoàng Bá Hy Vận, sau đó là các ngài Cao An Đại Ngu, Quỳ Sơn Linh Hiệu.
Cuối cùng quay lại thụ Giới Sư Hoàng Bá, năm đại trung thứ tám, đời vua Tuyên Tông Nhà Đường,
Sư tới trụ trì ở chùa Lâm Tế, Trấn Châu Tổ tỉnh Hà Bắc, rồi đặt ra các cơ pháp tam huyền,
tam yếu, tứ liệu giản dẫn đạo chúng sinh. Có Thiền Phong Mạnh Mẽ nổi tiếng ở đời,
thành một nhà riêng gọi là Tông Phái Lâm Tế. Sư đối với hậu trò rất nghiêm khắc,
vậy màu trò rất đông. Sư tịch tháng 4 năm hàng phong thứ sáu, tức năm 866,
được ban thụy là Tuệ Chiếu Thiền Sử. Thiền Phái Lâm Tế được truyền vào nước ta từ
những năm cuối thế kỷ thứ 17 gắn liên với sự kiện Phái Đoàn Hoàng Pháp của Thiền Sư Thạch Liêm,
Đại Sán, sang nước ta truyền giới theo lời tình cầu của quốc chúa Nguyễn Phúc Trù.
Hoàng tượng Thạch Liêm cùng hội đồng thập sư sang mở đàn truyền giới tại chùa Thiền Lâm,
Linh Mụ tại Huế và chùa Di Đà tại Hội An. Đầu thế kỷ thứ 18, tông phái này được mở mang
ảnh hưởng tới mọi miền trong cả nước. Ở sứ Kinh Bắc, có hai chốn Tùng Lâm sớm ảnh hưởng và tiếp
nhận vườn tháp nhiều ngôi nhất nước ta. Tuy nhiên do hai cuộc chiến tranh chống ngoại sầm,
nhiều ngôi tháp chùa Bảo Quang tức chùa Bách Tháp bị mai một nay chỉ còn mấy chục ngôi.
Trong khi đó, mặc dù bom đạn chiến tranh vườn tháp chùa Dòng Lâm Tế là chùa Bồ Đà và chùa
Bảo Quang có gọi là chùa Bách Tháp ở huyện Quế Võ. Hai sơ môn này đều được phát triển từ
nửa đầu thế kỷ thứ 18 và là nơi được nhiều tăng nhi thuộc phái Lâm Tế ở miền bắc nước ta chọn
làm nơi an nghỉ vĩnh hẳng. Chính vì thế, hai ngôi chùa này là hai danh lam cổ tự có Bồ Đà
vẫn còn nguyên vẹn và nay trở thành vườn tháp cổ lớn nhất trong các ngôi chùa ở miền Nam.
Chùa Bồ Đà là một trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang thuộc Thiền phái Trúc Lâm hay
Trúc Lâm Tam Tổ. Trúc Lâm là thiền tông thứ tư ở miền Nam do điều ngữ giác hoảng Trần Nhân Tông
lập ra ở yên tử thuộc dòng Lâm Tế, nhưng có tính chất độc lập sáng tạo của Phật giáo miền Nam nên
được coi là tổ đệ nhất. Tổ đệ nhị là Kim Cương Pháp Loa và tổ đệ tam là Huyền Quang. Cả
ba vị tổ đều có tượng thờ ở nhà tổ của chùa. Chùa Bồ Đà còn là nơi kế truyền các vị tổ sư
khai trưởng tuyết pháp đào tạo các tăng ni. Hàng năm kết hạ an cư có các vị tăng ni tín đồ,
tham thiền, học đạo khá đông. Các vị tổ sư còn cho khắc nhiều bản kinh luật đạo thửa như Lăng nghiêm
chính mạch, Yết ma hội bản, Nam hải ký quy… để phục vụ cho việc đào tạo truyền bá kinh Phật,
làm cho kho tàng pháp bảo của Phật giáo Việt Nam càng thêm phong phú. Trải qua những biến thiêng của lịch
sự, mặc dù có những lúc chùa là địa điểm sản xuất vũ khí của bộ đội ta trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, nhưng chùa Bồ Đà vẫn còn bảo lưu được khá nhiều nguyên vẹn các công trình kế trúc.
Toàn bộ chùa có diện tích khoảng 51.784 m2, được phân ra làm ba khu rõ rệt, khu vườn 31.000 m2,
khu nội tự chùa 13.000 m2 và khu vườn tháp rộng 7.784 m2.
Thưa quý vị, hiện tại dưới đang ở am Tạm Đức. Trên am này thì nằm ở lưng trừng của ngọn núi.
Từ am chúng ta có thể view xuống phía khu vực tháp cổ và trên cao nữa thì chúng ta có thể nhìn thấy
mái của ngôi chùa ở phía dưới kia. Am Tạm Đức được xây dựng từ thời Lê 5.723 thế kỷ
thứ 18 và tu sửa thời Nguyễn thế kỷ thứ 19 cùng với chùa Tự Ấn. Tấm bia đá ninh hiệu Tự
Đức năm thứ 31 thứ 5.878 ở chùa ghi rõ về việc này. Trải qua nhiều đời tu sửa, đến nay am Tạm Đức
vẫn bảo lưu được nhiều nét kiến trúc cổ xưa, nhưng nét kiến trúc nổi bật hiện nay ở am Tạm Đức là
của thời Nguyễn. Năm 2013, cùng với việc kè đường lên, am Tạm Đức lại được tu sửa lần nữa theo
lối kiến trúc truyền thống. Toàn bộ công trình xây dựng trên cao lưng trường núi Phượng Hoàng
phía sau chùa Tự Ấn, theo đường kề bậc đá xanh dài khoảng 200 mét, hai bên là hàng cây rừng và
cổ thụ xanh mát dẫn lối tới am Tạm Đức. Bên trong am Tạm Đức đặt một nhang án ở gian giữa trên
đặt tượng sư tổ Phạm Kim Hưng và bài chí đồ thờ tự. Am Tạm Đức là công trình kiến trúc có nhiều
nét đặc biệt ở chùa Bồ Đà. Khi quý vị đến thăm danh thắng Bồ Đà là đến thăm cảnh
quan thiên nhiên kỳ thú. Nơi đây núi sông quanh vòng ôm ấy lấy nhau thực là một trốn sơn tuổi hiểu
tình. Trong núi từ xưa tới nay để lại rất nhiều dấu tích, truyền tích. Đó là hệ thống các di tích về
thạch linh thần tướng, là hệ thống di tích về tín ngưỡng thờ thánh Tam Giang, là hệ thống các di tích
thờ Phật gồm các ngôi chổ cổ. Tục kể lại rằng, núi Bồ Đà không cao nhưng mà thiêng bởi có thần
linh ứng hiện. Sự kìa vào đời các vô hùng dựng nước, nơi này có gia đình nghèo tốt bụng mà lại
không có con. Nơi ông ở có bản đá lớn, một hôm ở đó hiện ra con rắn lớn rồi mất. Đến một ngày
nọ hòn đá ấy bỗng đổ tung, mẹ đá đã sinh ra một đứa bé. Ông và nọ thấy vậy đem về nuôi
dưỡng dậy rỗ. Đứa trẻ lớn lên khi nước có giặc biên cường quấy rối đã xin vua ra trận
dẹp giặc. Giặc tan lại trở về núi Bồ Đà rồi phi ngựa lên đỉnh núi hóa về trời.
Dân tình vì thế mà lập đền thờ cúng. Nơi sinh ra thì có đền hạ, nơi hành lễ thì có đền trung,
nơi ngày hóa thì có đền thượng. Các chỗ ngày đóng cuồn thì nay vẫn còn địa danh như bộ không,
bộ trắng, bộ lêu, bộ chê, bộ nứa v.v. Hàng năm dân đều tổ chức sự lệ,
tế lễ, nước, dước sách hội thờ. Đó là các di tích, truyền tích về thời xa xưa mở nước,
dựng nước ở đất này, truyền tích về đá, đá thiêng. Là truyền tích về một thủa xa xôi của
loài người mà ít nơi nào có được. Tục thờ đá trong dân gian đã được nhân cách hóa,
lịch sử hóa trong đời sống, xã hội. Nó đã trở thành một yếu tố văn hóa tâm linh
của vùng đất núi Tiên Lát. Qua khảo sát thực tế, các nhà nghiên cứu của
địa phương đã phát hiện ở núi Bồ Đa có hệ thống di tích chùa triền từ cổ tới nay,
như các chùa Khám, núi Đót, Vân Sơn, Thạch Long, Linh Tri, Cào Tứ Ân, trong đó chùa Cào,
chùa Tứ Ân, còn gọi là chùa Bồ Đa là tiêu biểu nhất.
Chùa Bồ Đa, trong chùa có lưu giữ bộ mộc kinh Phật, được khắc trên gỗ thị với gần 2.000 bản
khắc bằng chữ Hán, chữ Phạng và chữ Nôm, chuyên lại những giá trị của tư tưởng Phật giáo thế
giới nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng đã trải qua nhiều thế kỷ. Bộ mộc bản kinh hiện
nay vẫn còn khá nguyên vẹn, không bị mối mọt, dù không dùng một loại thuốc bảo quản nào.
Bên cạnh các hạng mộc như vườn tháp, bộ mộc kinh, thì hệ thống cây cổ thụ hàng trăm,
hàng nghìn năm tuổi của chùa Bồ Đa như cây thồng, cây đa, cây vối, cũng được Hội Bảo vệ
Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là cây di sản Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt,
di tích và lễ hội chùa Bồ Đa xứng đáng trở thành một điểm dừng chân cho du khách tạm quan và tìm hiểu
về văn hóa bởi Bắc Sông Cầu. Gắn liền với di tích chùa Bồ Đa là lễ hội chùa Bồ Đa,
còn gọi là hội chùa Bộ. Lễ hội được tổ chức từ ngày 15 tới ngày 19 tháng 2 âm lịch hàng năm,
tại khu vực núi Bồ Đa, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên. Đó là ngày rỗ tổ khai sơn lập ra chùa. Cùng
với những cuộc tế lễ trang nghiêm thành kính, ở lễ hội chùa Bồ Đa còn có nhiều trò chơi dân
gian như đấu vật, trọi gà, cướp cầu đu quay và triển lãm cây cảnh. Đặc biệt là lễ hội chùa Bồ Đa
còn là dịp để các liền anh liền trị quản họ trong vùng gặp gỡ, giao duyên trong những năm qua.
Năm 2016, lễ hội chùa Bồ Đa đã được nhà nước công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi. Quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và
share video. Đừng quên nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để đón xem những video mới nhất.
Hẹn gặp lại quý vị trong những video sắp tới.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lên lệ số 0989-260-877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố nhận giam hàng toàn quốc.
