Mộ Đá Cổ Dinh Hương Bị Đào Trộm Hé Lộ Xác Ướp Bí Ẩn Còn Nguyên Vẹn Ở Bắc Giang #hnp.mp4
Anh Đức
212 người theo dõi
2 Lượt xem video·10 thg 3, 2025
Nhiều người cho rằng vì là vị quan có nhiều công lao và được ban thưởng nhiều bổng lộc,
trầu báu nên khi ông mất, rất nhiều đồ vật quý hiếm đã được an táng theo.
Thục tìn ấy đã khiến lăng mộ không ít lần rơi vào tầm ngắm của giới săn đồ cổ.
Vào năm 1979, khu lăng đá cổ đã bị kẻ gian xâm phạm và đào bới lật tung khu mộ táng.
Lúc đó, khi thi hài của vị tướng công bị xâm phạm,
nhiều người đã kiến nghị nên sang quan, thay cát cho ông.
Tuy nhiên, vì sự linh thiêng và lâu đời của lăng mộ,
người Làng Dinh Hương quyết định vá lại áo quan và lấp đất lại như cũ.
Duy Hà Nội Phố xin biến chào quý vị.
Thưa quý vị hiện tại Duy đang đứng ở lăng mộ của quận công La Quế Hầu
ở Làng Dinh Hương, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 60 km, cách thành phố Bắc Giang khoảng 26 km.
Phía trước quý vị đây chính là phần lăng mộ chính của ngài.
Trước lăng mộ thì có hai vị quan được tạc bằng đá xanh rất uy nghi
và có kích thước gần như người thật.
Khi vào lăng mộ thì chúng ta qua ba ố cửa rất nhỏ,
tường bao được làm bằng đá ong.
Lăng mộ này bên trong bị những mộ tạc đào bới để kiếm cổ vật.
Có thể nói đây là một công trình kiến trúc đồ sộ được trạm khắc đá công phu với tài nghệ điêu luyện.
Quần thể lăng mộ và công trình điêu khắc nghệ thuật đá tiêu biểu hẳn nhất ở tỉnh Bắc Giang.
Các cổ vật trong lăng được giữ gìn tương đối còn nguyên mẹn.
Điểm nổi bật, độc đáo của lăng Dinh Hương là các bức tượng đồ sộ
to lớn hơn hẳn ở các lăng mộ khác được trạm khắc tinh tế.
Bên cạnh lăng mộ của ngài đó là nơi thờ tự của ngài.
Cạnh lăng mộ nữa bên phía này đó là nhà bia.
Đây được xem như là một trong bốn sáu quần thể lăng mộ bằng đá
được xếp hạng qua tỉnh Bắc Giang và là một trong ba di tích được xếp hạng là di tích quốc gia.
Cụ thể chi tiết như nào mời quý vị và các bạn cùng Duy đón xem nhé.
Trước khi quý vị xem tiếp, quý vị nhớ ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ video.
Đừng quên bình luận ở phía dưới để góp ý cùng Duy những địa điểm,
địa danh lịch sử mà quý vị muốn Duy tới trải nghiệm.
Và quý vị nhớ nhấn đăng ký kênh youtube Hà Nội Phố để khi Duy up lên những video mới nhất quý vị không bỏ lỡ trúng nhé.
Cảm ơn quý vị rất nhiều.
Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên, xin lê lệ số 0989 260 877.
Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội Phố, nhận, giao hàng toàn quốc.
Lăng Dinh Hường là nơi ăn nghỉ của vị Võ Quang Thủy Binh, Quận Công, La Quý Hầu.
Ông có tên thật là La Đoan Trực, sinh năm 1688 và mất năm 1749.
Vào năm 1730, dưới chiều vua Lê Duy Phường, ông được cử làm dịch quân thị hầu, thị đội rồi làm thái giám.
Dưới chiều vua Lê Ý Tông, ông được cử hai lần đi xứ sang phương Bắc vào năm 1735 và 1739.
Sau năm 1740, dưới chiều vua Lê Hiển Tông, ông cầm quân đi dẹp loạn ở các vùng thuộc đạo Kinh Bắc,
Sơn Nam, Hải Dương. Ông bất mùng 9 tháng 6 năm kỳ tị, tức năm 1749, thọ 61 tuổi.
Vào năm 1754, ông được vua phong là Phúc Thần Trung Cẩn Đại Vương. Sau khi thuê làm quan với những chiến công
của mình, ông được nhà vua ban tặng rất nhiều bổng lộc và cho phép xây dựng lăng đá tại quê hương,
lăng được chính Quận Công xây dựng tại quê nhà khi còn sống.
Bên cạnh những giá trị về lịch sử, kiến trúc, điều khác, khu lăng đá cổ còn ẩn chứa nhiều
đồn đoán liên quan đến sắc ướp của vị tướng quân được thờ phụng.
Theo lời kể của các vị cao niên, khi vị tướng công mất, người lăng vô cùng thương tiếc và tìm
mặn cách để, lưu giữ được lâu nhất thi hài của ông. Học theo cách ăn táng thời cổ, áo quan của vị
tướng công được làm bằng gỗ thông, loại gỗ có hương thơm và được trang trí rất cầu kỳ. Thi hài được
ướp cùng với các hợp chất để giữ cho thi thể có thể nguyên vẹn trong thời gian dài nhất. Theo đó,
thi hài được ngâm vào dầu thông cho thơm, sau đó được mặc rất nhiều quần áo đẹp có theo hình dồng
vựa. Không những thế, bên trong áo quan còn có nhiều chè búp, hoa hòe và các hợp chất tinh chế quý
hiếm giúp cho sắc ướp được thơm và khô giáo. Trải qua thời gian, thi hài dù được bảo quản rất
tôn nghiêm nhưng không tránh khỏi sự dòm ngó của kẻ gian. Nhiều người cho rằng vì là vị quan có
nhiều công lao và được ban thưởng nhiều bộng lộc, trâu báu nên khi ông mất, rất nhiều đồ vật quý hiếm
đã được an táng theo. Thực tình ấy đã khiến lăng mộ không ít lần rơi vào tầm ngóng của giới
săn đồ cổ. Vào năm 1979, khu lăng đá cổ đã bị kẻ gian xâm phạm và đào bới lật tung khu mộ táng.
Một phần góc áo quan ở phía đầu của vị tướng công đã bị vỡ, mất một mạng. Chiếc đài đồng dùng
để gắn miệng áo quan cũng bị bung ra. Người ta quan sát phía trong thì thấy lênh láng một chất lỏng
màu đen như nước dầu luyền. Tuy nhiên, thứ nước ấy không có mùi gì khó chịu. Nhiều người tò mò
đã dùng que đưa vào phía trong áo quan thì nhức lên rất nhiều vài vóc áo gấm dạng như của vô chúa
thời xưa. Lúc đó, khi thi hài của vị tướng công bị xâm phạm, nhiều người đã kiến nghị nên sang quan
thay cắt cho ông. Tuy nhiên, vì sự linh thiêng và lâu đời của lăng mộ, người làng dinh hương quyết định
vá lại áo quan và lấp đất lại như cũ. Và tính từ thời đó đến nay, không ai dám đào bới phần mộ táng này
lên nữa. Chính vì thế cũng không ai dám chắc chắn thời điểm này trong phần lăng mộ còn tồn tại thi
hài của vị tướng công hay đã bị kẻ giàn đánh cắp. Lăng dinh hương được xây dựng từ năm 1727,
xuất hiện trước tất cả các lăng mộ vua nguyễn ở cố đồ Huế. Trong lăng nưu giữ thi hài quận công La
Quý Hầu, ông sinh năm 1688 ở tại địa phương. Năm 1730, triều đại Lê Duy Phường,
ông được cử làm dịch quân thị hầu, thị đội, rồi làm thái giám. Giữa triều đại Lê Y Tông,
ông được cử hai lần đi xứ phương Bắc vào năm 1735 và năm 1739. Sau năm 1740 triều đại Lê Hiển
Tông, ông cầm quân đi dẹp loạn ở các vùng thuộc đạo Kinh Bắc, Sơn Nam, Hải Dương. Ông bất
ngày 9 tháng 6 năm kỳ tị, tức năm 1749, thọ 61 tuổi. Năm 1754, vua phòng ông là Phúc Thần Trung
Cần Đại Vương. Lăng được chính quận công xây dựng tại quê nhà khi còn sống.
Lăng nằm trên một quả đồi hình tròn, rộng khoảng 1 ha, quay hướng đông bắc. Có tường gạch bao
quanh. Ngay xưa là tường đá ong bao quanh. Phía trước có hồ hình bán nguyệt. Quân thể lăng đá
dinh hương được chia làm ba phần chính, đó là phần mộ táng ở giữa, phần thờ tự ở bên trái và phần
bia ở bên phải. Phần mộ rộng khoảng 100 mét vuông, xây đá ong hình vuông. Phía trước khu mộ có hai
quăn hầu rắt ngựa đứng trầu đối diện nhau qua đường thần đạo. Cặp tượng quăn hầu rắt ngựa được
xem là những kiệt tác của nghệ thuật chạm khắc đá, tự chú trọng vào cách tạo khối trên thân,
khiến con vật trở nên đậm chất hiện thực. Một số mảng chạm tỉ mỉ và mang tính cách điệu cao như
phần yên ngựa, bờm quăn ngựa. Võ quan đeo gươm rắt ngựa phía bên phải có mặt to hàm rộng. Võ
quan đeo gươm rắt ngựa bên trái có dâu dài, mặt nhỏ. Phía trước cổng, xưa kia là một hồ nước rất
lớn nhưng nay diện tích hồ bị thu nhỏ lại. Khu thờ tự cũng được xây vuông như phần mộ táng.
Tường vây bằng đá ong, phía trước xây bậc tam cấp, trên đặt sập đá, ngai thờ,
hai bên có tượng hầu, bề cháp và đôi nghê nằm phủ phục. Bên dưới ngai thờ là nhang áng,
bàn đá, đôi nghê ngồi trâu đầu vào nhau qua đường thần đạo. Xa xa là đôi voi quỳ phủ phục trầu về.
Phía bên phải khu mộ là nhà bia trổ bốn cửa quấn vòm, trong đặt bia đá ghi công trạng người
được thờ. Dòng lạc khoản khắc ghi cho biết bia được tạo vào năm 1729. Nhìn tầm quan,
chất liệu tạo dựng công trình kiến trúc nghệ thuật Lăng Dinh Hương chủ yếu làm bằng đá xanh,
được đục đéo, tiệt tót tinh xảo với các họa tiết mây lửa, cụm xoán ốc nổi cao,
các dài hoa văn kỳ hà lồng móc vào nhau đăng đối. Độc đảo hơn cả ở công trình kiến trúc này là
một công trình nghệ thuật chạm khắc tượng tròn theo lối tả thực với khuyên hướng tự nhiên hóa.
Tượng người và thú vật tại Lăng làm bằng đá xanh, được chạm khắc rất sống động. Tượng có kích thước
lớn, hình khối mập, chắc và được tiệt công phu. Có thể nói đây là một công trình kiến trúc đột sộ,
được chạm khắc đá công phu với tài nghệ điều luyện. Quần thể lăng bộ và công trình điều khắc
nghệ thuật đá tiêu biểu hẳn nhất ở tỉnh Bắc Giang. Các cục vật trong Lăng được giữ gìn tương đối
còn nguyên mẹn. Ngày 13 tháng 1 năm 1964, Lăng Dinh Hường được bộ văn hóa thông tin cấp bằng
công nhận di tích lịch sử văn hóa của giả. Trải qua gần 300 năm nhưng những chữ chạm khắc trên
bia vẫn còn rõ nét. Nội dung tấm bia ghi cụ thể về thân thế, sự nghiệp của vị quận công La Quý Hầu
cũng như quá trình xây dựng lòng bộ cổ, nguồn gốc nguyên liệu đá tại Lăng.
La Quý Hầu, Vĩnh Huệ Bi. Dịch nghĩa, bị ghi ơn mãi mãi là Quý Hầu.
Các bậc trên dưới hai đỉnh Đông, Đoài, xã Đức Thắng huyện Hiệp Hòa phủ Bắc Hà dựng bia sinh từ
thờ là cồng. Đền thơ dựng lên để làm gì? Tình cảm do ân Huệ mà nên, lẽ nghi bởi nghĩa cử mà có,
lẽ tự nhiên ấy là ở lòng vậy. Kính Nghĩ
Quang đặc tiến kim tử Vinh Lộc Đại Phu, thị Bắc Cung thị Hầu kỵ hiểu tinh khiên mã hiểu kỹ đẳng đội,
thị Phó Chi thị Nội thư tả công phiên sinh. Cận tư lễ giám đồng Chi giám sự yến Trung Hầu,
quê ở Đức Thắng, cẩm xuyên. Ốc Hiệp Hòa, Bắc Hà, là bậc tướng suý quý như ngọc như vàng,
là bề tôi sùng ái trong cung, trong phủ, được vào ra trốn thâm nghiêm, được ban ơn nơi bệ ngọc.
Ông tử đô đốc thủy quân rồi coi thị vệ, tử nội sai thêm chi rồi giữ chức Phó Chi. Tước vị càng lớn,
sùng ái càng cao, mũ áo tột vinh hòa, tiền đô nhiều rực rỡ, có được như vậy có thể hãnh diện với đám
quan phương, xanh sang với người quê quán. Nhưng là quý hầu lòng dạ chẳng đành,
mà khiêm tốn để đối nhân. Hiền lành đăng xử thế, tiền lương làm quà cho họ, vật lộc hiếu hỷ
xóm giềng, phàm nội ngoại anh em, quê hương tình nghĩa, không ai không tắm gọi ơn nhuồn,
cậy nhờ mưa móc. Bởi vậy hai đình đông và đoài xã Đức Thắng, con trẻ, cụ già,
xây điều nhân, no lòng Đức, núi cao ngửa mặt, kính mộ trung lòng. Cùng xin suy tôn bầu quý hầu
làm hậu thần đệ nhị vị và phối hưởng chính thất nguyễn quý thị. Hiện tại ông bà khỏe mạnh
thỉ truất rượu mừng thọ, để ngày sau mãi mãi, ghi trăm tuổi, được dương rượu nhạt xin tỏ nghĩa
thơ muôn đời, muôn người một ý, men đến thỉnh câu, được quý hầu chấp thuận. Còn cho 200 lạng bạc,
60 xào ruộng tốt, 6 xào ruộng mạ, 2 cái trương đồng. Như ngọc mãi sáng, cảm tình thêm sâu,
men rủ nhau khai phá đổi hoang, đắp bồi nền phúc. Chọn ngày tốt dựng đền thờ, để quanh năm hương
hỏa, lễ nghi tuần tiết, đều có điều ước đặng lời thề muôn đời bất dịch. Công việc đã xong,
men thuật sự việc, cho khắc lên đá để lưu truyền mãi mãi. Ngày lành tháng cuối đông năm kỳ rậu,
năm thứ nhất nền hiệu Vĩnh Khánh – Hoàng Triều, tức năm 1729. Tiến sĩ Khoa Canh Dần,
Đông Các Đại học sĩ, kim tử Vinh Lộc Đại Phu, bồi tụng lại bộ tả thị làng Trung Thư Giám,
thuật Quận Công, Gia Định, Bảo Thiên Phạm Kính Trai, Nhuận Sắc. Tiến sĩ Khoa Đinh Xiểu,
kim tử Vinh Lộc Đại Phu, bồi tụng lễ bộ hiếu thị làng Nhập Thị Kinh Diện Cảo Quận Công,
Tam Nhật Binh Tô, Vạn Truyết Soạn Văn. Huyện Thừa, huyện Tư Nông, Trung Thư Giám,
Hoa học sinh, quê Đại Áng, Thành Trì, Thường Tín, Đạo Sơn Nam viết chữ, thơ khắc đá Kính Chủ,
huyện Sơn, Kinh Bồn Hải Dương, Nguyễn Vịnh, Nguyễn Phục, Nguyễn Tài khắc chữ.
Phụ lục đoạn văn trên bia được khắc thêm sau khi là quý công qua đời. Sinh thời,
ông được cất nhắc phụ quốc tướng quân, đố đốc phủ hữu đố đốc thuần Quận Công,
là quý công tự là đoan trực. Được phong là Phúc Thần Trung Cẩn Đại Vương.
Ông sinh năm bộ thiền, mất năm kỳ tị, thường thọ 62 tuổi. Năm giáp tuốt được phong là Đại Vương.
Ngày tốt 12 năm kỳ dậu, triều vua Vĩnh Khánh đầu tiên, 5.729.
Khoa canh dần, 5.710, đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ tam danh Khoa Bộ Thân,
đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, bồi tụng lại bộ tả Thị Làng Kim Đông Các Đại học sĩ.
Thự trung thư giám thuật Quận Công Phạm Kính Trai, Phạm Kiêm Ích, Người Bảo Triện, Gia Định,
Nhuận Sắc. Khoa tiến sĩ năm linh xỉu, 5.697, đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu, bồi tụng lễ bộ
Hiểu Thị Làng, Nhập Thị Kinh Diền, Cảo Quận Công, Tô Văn Truyết, Tô Thế Huy, Người Bình Đăng, Bảo Hạc,
Xoạn. Trong Lăng Dinh Hương, ngoài các hạng mục như bệ, sập, ngai thờ, v.v. còn có cả một hệ
thống tượng người và tượng thú xếp thành từng một đôi một đăng đối nhau. Các tượng này được tạo tác bằng
đá, có kích thước tương đương như kích thước thực, tạo liên tưởng tới cảnh phục dịch khi nhân
vật được thờ lúc còn sống. Ngay khi tới cổng Lăng Dinh Hương, hướng đối mặt với khu mộ phần,
ở hai bên tà, hữu của cổng Lăng có đặt một cặp tượng võ quan cầm trùy, tượng cao 1,8m,
bờ vai rộng 0,5m. Cả hai vị võ tướng đầu đều đội mũ, sắc mặt nghiêm nghị, lông mày rộng,
râu dài tới ngực, tay nắm chặt trùy đặt chéo thân, vận áo thụng dài, tháp đai lớn có chạm khắc mặt hổ
phù. Cả hai vị võ quan đều đi chân đất. Hai vị võ quan này được tác bằng những khối đá nguyên khối
hình chữ nhật, cân xứng theo một trục, hai cánh tay ép sát vào thân nên phần nào gây cảm giác
gò bó, cứng nhất về mặt bổ cục. Nhờ tư thế cao, thấp của hai cánh tay kết hợp với nếp áo thụng
chảy dài hai bên vai xuống ống tay áo và đặc biệt là tròn râu dài đã làm cho bức tượng võ quan bớt đi
ít nhiều vẻ khô cứng. Đặc điểm chung giống nhau của hai vị võ quan này là ở tư thế đứng, kiểu cách cầm
trùi, trang phục, quy tắc đối xứng và đặc biệt là hoàn toàn lệ thuộc vào những khối đá hình
chữ nhật nguyên khối. Đây cũng là một tinh thần chung của tất cả các tượng võ quan các cổng long
bộ thời kỳ này. Đặc điểm riêng của hai vị võ quan cũng có nhiều nét khác biệt. Viên võ quan bên trái
trông có vẻ trẻ hơn, khuôn mặt đầy đặn, quắc thước, dáng mạo cũng cao to hơn, ngay cả các ăn
vẫn cũng đẹp đẽ hơn vị võ quan còn lại. Điều khác lăng nói chung, dù là tượng người hay thú thì
đề tài phổ biến vẫn là tượng người, ngựa, voi, nghê, xấu, v.v. Thường được chạm khắc ở dạng tĩnh lặng,
nghiêm trang, đứng đơn chiếc, độc lập. Nhưng tượng ở lăng dinh hương lại là một trong số ít các trường
hợp ngoại lệ. Các tượng này được bố trí thành nhóm đặt cạnh nhau, điền hình nhất là cặp tượng quan hầu
và ngựa. Nhóm tượng này cũng tìm thấy sự tương đồng nhất định với cặp tượng ở lăng Phạm Đồn
Nghị, Hoài Đức, Hà Nội. Quan võ rắt ngựa là cặp tượng đá đứng trầu đối diện nhau trước khu mộ phần
cuộn công. Hai vị võ tướng đều cao 1,49m, đường kính thân 0,39m, được tạc bằng đá nguyên khối đứng
cách nhau 4,87m. Cả hai tượng đều trong tư thế một tay nắm đốt kiếm, một tay nắm dây cương ngựa.
Trang phục của hai vị bao gồm mũ phía sau có khăn che gáy, áo quần thụng dài, trần đi đất.
Về bố cục, hai khối tượng hoàn toàn giống nhau trong tư thế đối diện nhưng chi tiết lại có nhiều
điểm khác nhau, ví dụ như kiểu mũ, độ dài của quần. Và đặc biệt trong các khắc họa khuôn mặt,
tính cách, tuổi tác của hai vị được bộc lộ rõ. Tượng võ quan đeo gươm rắt ngựa phía bên trái có
khuôn mặt nhỏ, râu dài, trông già, nét mặt nghiêm nghị, mắt hướng thẳng ra phía trước.
Võ quan đeo gươm rắt ngựa phía bên phải trông cao lớn, trẻ hơn, dáng oai vệ,
khuôn mặt to, hàm rộng, toát lên vẻ đạo mạo phi phạm.
Những nét chạm khắc để tạo sự sống động cho tượng như cách tạo nếp gớp của áo người,
những trang trí bên mình ngựa như bờm, yên cương, chuông nhạc, sự tinh tế, tỉ mị trong nghệ
thuật chạm khắc làm cho khối tượng trở nên thực. Khối đá vô chi, vô giáp bỗng trở nên có
sức sống, có linh hồn. Tượng nữ quan hậu
Phía trong cùng khu thờ tự có hai tượng nữ quan đứng hậu quay mặt vào nhau,
màng vóc dáng và dung mạo sống động như nguyên mẫu đời thường, đứng đăng đối hai bên trước bàn thờ.
Theo hướng tay mặt, nữ quan đứng phía tay trái tay cầm chát,
còn nữ quan đứng phía tay phải lăng tay cầm quạt. Cả hai tượng đều cao 0,9m,
rộng 0,39m, dày 0,38m. Tất cả trong trang phục áo vải dài, phủ kín, vai và gáy,
chân đi đất. Cổ áo khá đẹp, được chạm hình lá sen mềm mại với những đường lượn,
nếp vải trùm xuống ngực và vai. Ấn tượng nhất là chiếc mũ được cách điệu như những
lọn tóc buông mềm xuống bờ vai. Tượng có dáng thấp lùn do cách tạo hình chân ngắn.
Trong dáng đứng ngay ngắn, nghiêm tràng, cung kính, bức tượng vẫn toát lên vẻ sinh động nhờ
cách tạo hình chiếc quạt, với hình dáng của chiếc lá bàng, với sống và gân lá nổi cao. Chính
đường cong tự nhiên của chiếc quạt đã che bớt một bên cánh tay, giảm bớt sự đơn điệu của bức tượng.
Tuy dáng đứng, trang phục có giống nhau, nhưng sự khác nhau về vật dụng của mỗi người,
với dáng tay, cách tạo hình khối tượng đã tạo nên sự thay đổi vui mắt hơn.
Toàn bộ bức tượng được cách điệu từ tiểu lệ cơ thể, trang phục, vật dụng,
thì duy nhất khuôn mặt tượng lại mang tính chân dùng, được tạ kỹ với khối thực quả mắt,
mũi, miệng gần với người. Tượng Thú
Trong nghệ thuật điêu khắc làng mộ, bên cạnh tượng người còn có tượng thú như chó, vòi, nghề,
lân, hổ ngựa, cũng được sóc đăng đối hai bên đường thần đạo với tinh thần chung của điêu khắc
làng mộ là nghiêm tràng và cung kính, tuy đa dạng về chủng loại, song chúng thuộc hai nhóm.
Những con thú thật như chó, vòi, ngựa, hổ, những con thú huyền thoại như nghề, sấu, lân.
Vị trí của những con thú này trong làng không cố định mà thay đổi tùy tường làng,
nhưng thông thường tượng chó đứng hoặc ngồi phía ngoài hai bên cổng làng hoặc cổng bộ.
Tượng nghề được đặt trước hương án, còn tượng ngựa thì đứng cạnh quan hầu.
Tượng ngựa
Ngựa là con vật có nhiều ý nghĩa, là phương tiện vận chuyển gần gũi với con người.
Về ý nghĩa biểu trưng, ngựa là hình ảnh tượng trưng cho sự
uy nghi, ngoài vệ. Trong các đình đền, tượng ngựa trắng là con vật biểu tượng cho sự cao quý,
linh thiền, gắn với thần linh, là chỗ dựa tinh thần của cả dân làng.
Trong cuộc sống, ngựa là con vật kéo xe hoặc cưỡi, dùng trong chiến trận,
săn bắn và du hành. Theo quan điệm của Phật giáo, ngựa được coi là con vật trở pháp đến với chúng
sinh. Vòi là con vật trung thành, trí tuệ, sức mạnh như nước. Ở phương Đông cũng như phương Tây,
ngựa được gắn cho những phẩm chất của sự thanh khiết, cao quý và khôn ngoàn.
Ở Trung Quốc, người ta rất coi trọng ngựa, đánh giá nó rất cao vì nó liên quan đến việc thi cử.
Các văn nhân chuẩn bị cho môn đồ của mình đi thi được gọi là mã sư, còn bản thân các học trò
được gọi là mã sinh. Dưới thời lây sơ ở Việt Nam, các học trò trường Quốc tử Giám cũng được gọi là
mã sinh và khi họ đổ tiến sĩ thì được vua ban thưởng và cho cưỡi ngựa về tham quê.
Ở lăng bộ, tựa ngựa thường đứng cạnh tượng quan hầu, có ý nghĩa gợi cảnh phục dịch những
vị quan lại như khi còn sống. Các tựa ngựa thường được đặt bên cạnh các tượng vòi ở các lăng bộ,
đền thờ. Đó là những con vật có sức mạnh về thể chất, ngoài ra nó còn hàm chứa ý nghĩa tinh thần,
tâm linh. Trong só lăng bộ ở Hiệp Hòa, bác Giang, bốn lăng bộ có tựa ngựa đứng cạnh quan hầu
là lăng dinh hương, lăng họ ngọ, lăng nội dinh và lăng bầu. Song có lẽ đẹp nhất vẫn là cặp tượng
quan hầu giắt ngựa trong lăng dinh hương. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu,
đây là một kiệt tác đặc sắc trong các lăng bộ, được chạm liền khối mà tưởng như hai phần
tách biệt, ngựa cúi đầu yên lặng, thắng bốn chân, đầy đủ in cương, phủ vải bông gù,
nhạc cầu kỳ. Quan hầu đội mũ che tai, áo thụng quần trùng, tay cầm cương, tay nắm chặt
đốc kiếm, tạo thành vạt chéo tiếp liền khối đá bên in ngựa. Cái đẹp của cặp tượng người ngựa này
trước hết là ở bố cục cân đối. Các yếu tố trang trí tinh tế trên lưng ngựa,
cổ ngựa cho thấy sự cách biệm khéo léo của tác giả. Đôi ngựa ở đây không còn là những
chú ngựa bình thường, chúng được làm đẹp, trang trí hết sức cầu kỳ. Thắng in cương tề trình,
đầu có gù hoa lớn, cổ đeo sáu chuông nhạc, bộ dây cương, dây đai, hàm thiết gắn đinh đồng,
khuy bạc cầu kỳ, v.v. Lớp vải lót trên lưng ngựa được trang trí hoa dây khắc nổ hình khuyên,
sầu yên gắn một bông củ lớn, hai bên đeo hai mặt nạ hổ phù có tua chỉ phủ dài xuống hồng.
Tượng voi. Voi là loài động vật to khỏe, khi được thuần dưỡng sẽ giúp con người trong việc vận
chuyển và trong quân sự. Các triều đại vua chúa Việt Nam đã thành lập những đội tượng binh dũng
mãnh và voi được coi là vật biểu trưng cho sức mạnh. Ở Ấn Độ, voi là con vật để cưỡi của thần
Indra, thân của các thần. Ở các nước theo Phật giáo như Thái Lan, Campuchia, v.v. voi trắng
là biểu tượng của Đức Phật, là vật cưỡi của Bồ Tát. Voi biểu trưng cho sự sùng Phật cũng như
điểm lành khi thế giới xuất hiện Đức Phật. Ở Việt Nam thời Nhà Lý, Trần Sử Cũ đã ghi lại
21 lần voi, nhất là voi trắng, xuất hiện báo điểm lành. Trong lòng bộ, tượng voi nằm phủ phục
hai bên đường thần đạo có ý nghĩa, chấn giữ. Phía trước khu Thở tự Lăng Dinh Hương có một khoảng
sân rộng bằng gạch. Trên sân, ngoài cung có đôi tượng voi bằng đá trong tư thế phủ phục trông hiền
lành, tuột phục. Voi nằm trên bệ đá, tạc từ một khối đá lớn, toàn thân căng tròn. Voi cuộn lại,
cặp ngà, nhô ra. Ở hai bên mép ôm lấy voi. Đầu voi thẳng theo trục dọc. Mắt voi mở hẹp,
tai rộng như hai chiếc quạt. Chiếc đuôi nhỏ xíu vắt sang một bên. So với tượng voi ở Lăng Họ Ngọ,
tượng voi ở Lăng Dinh Hương thô và mộc, có phần kém cho chuốt hờn. Tuy nhiên, vẫn có điểm
chung trong phong cách tạc tượng voi, đó là sự đơn giản về hình khối. Mình voi thường tròn lẳnh,
nhắn rụi, to khỏe. Yếu tố trang trí duy nhất trên tượng voi là đường chỉ nhỏ song song chạm trên vai
và đuôi voi. Tượng Ngê
Ngê là một linh thú được tổng hợp từ các con vật thần thoại khác như mắt,
mũi của sư tử, dâu bờm, ngọc báo của rồng, mình vẩy cá, chân đầy vân xoắn, mây lửa hoặc mây lưỡi mát,
túm lông sau khủy chân. Ngê được tạc rất nhiều trong các lăng bộ và đền thờ với dáng ngồi trống chân
trước hoặc phủ phục, bò xoài ra đất, miệng ngậm ngọc, cười thoải mái. Vị trí đặt Ngê trong lăng bộ
thường ở hai bên hương án, sập thờ, tạo sự linh thiêng cho lăng bộ. Cặp tượng Ngê ở Lăng Dinh Hương
có kích thước lớn nhất trong số các tượng Ngê ở lăng bộ vùng hiệp hòa Bắc Giàng. Ngê được tạc trong
tư thế ngồi trống chân trước, hai chân sau thụ lại, đầu ngỡn cao, miệng ngậm ngọc, cười hả hê,
trước hương án khu thờ tự. Toàn thân phủ đầy vẩy như vẩy cá, đầu có bờm tóc dài chạy xuống gáy.
Quanh hàng Ngê là những mây lửa xoắn ốc, dưới cằm là hai lọn dâu xoắn hình thùng trải dài xuống ngực.
Hoàng văn xoắn ốc và mây lửa được chạm hai bên ngực. Dưới bắp chân sau chạy dài đến khóe chân Ngê.
Sống lưng Ngê nổi cao hai bên có hàng vây như giang cưa chạy dọc bến sát đuôi trải xoắn
thường vắt lên giáp lừng. Tuy cầu kỳ, phức tạp trong cách chạm khắp, nhưng tổng thể Ngê ở
Lăng Dinh Hương không có được vẻ khỏe khoắn, sống động như Ngê trong lăng họ ngọ.
Tượng sấu. Sấu cũng là một linh thú phổ biến trong các chùa, tháp và lăng bộ. Theo
cách gọi dân gian là con sấu nhưng nó được gọi là con sóc. Trong các tranh cổ Trung Quốc,
hình ảnh con sóc thường được thể hiện với cây nho gợi khả năng tốc độ. Về dáng giấp,
con vật này quả là nhiều điểm gần với con sóc. Trong điều khắc Phật giáo, thời Lý, Trần,
những con vật này đã biến hành thành loài sóc thần với nhiều chi tiết kết cấu kỳ dị. Trong điều khắc
Phật giáo Việt Nam, con sóc hàm ý hãy thành tâm, nhanh chóng đến với Đạo Phật.
Tượng sấu trong chùa, trước cửa tam quan, cửa tháp thường có tư thế đang lao chạy xuống dốc,
bỗng bắt trượt thu chân, ghi mình lại. Ngê và sấu gần giống nhau với thân hình tròn lằn.
Có dâu tóc, bờm, đuôi dài, hình và chân đầy vân xoắn, lưỡi mát hoặc mê lửa, mắt lồi. Mũi
sư tử, miệng cười ngậm ngọc. So với ngê, sấu có mình nhỏ, thân và đuôi dài hơn,
sống lưng nổi cao hơn. Cũng như ngê, sấu là linh vật được tổng hợp từ nhiều con vật thần
thoại giống như ở hình tượng rồng, phượng. Sấu trong khu làng mộ thường được tag trong tư thế ngồi
chầu hoặc nằm phủ phục tạo sự kỳ bí, linh tiên cho làng mộ. So với sấu lăng họ ngọ,
sấu trong lăng dinh hương, trông hiền lành, ít bí hiểm hơn. Nó giống như đôi thú nhỏ trong tư
thế vờn nhau, hai bên sập thở khu đảng tế. Hai con trong dáng bò xoài, ngức đầu quay nhìn lên
về phía ngai thở trên cao. Hai con sấu vẫn được tag theo dáng chung, miệng cười ngậm ngọc,
tuy nhiên đôi sấu này ít cầu kỳ trong họa tiết trang trí trên cơ thể. Mình sấu để trơn,
chỉ chạm nổi hai cụ mê lửa ở phần mông và hai bên vai bốc cao về phía lưng.
Dọc hai bên lưng sấu là hoa văn hình răng cửa, phần đầu cũng hết sức đơn giản, tóc trải ngược ra phía
sau thành những lọ dài xoán lại phía đuôi. Xung quanh miệng chạm nổi những hoa văn xoán ốc,
phần miệng đặc tả chi tiết hàm răng xấu với hai chiếc nanh sắc nhọn ngậm chặt miền ngọc, miệng cười.
Các tượng tròng lăng dinh hương giống như tượng các lăng khác thuộc thế kỷ thứ 18 đều được tạc bằng
chất liệu đá có sẵn trong tự nhiên, có đặc tính bền trước sự tác động của thời tiết.
Theo thống kê, ở Bắc Giang đã phát hiện và công nhận 46 công trình kiến trúc đá cổ,
chủ yếu là lăng đá. Hệ thống lăng đá là minh chứng của một nền nghệ thuật điều khắc lăng bộ
phát triển đến đỉnh cao và giữ vị trí quan trọng trong nền kiến trúc, điều khắc đá cổ trong
các lăng tầm Việt Nam. Nét độc đáo nhất trong hệ thống các lăng đá ở Bắc Giang là nghệ thuật điều
khác được thể hiện qua các bức tượng, các hiện vật đá được các nghệ nhân dân gian xưa chế tác mà lăng
dinh hương là một điển hình. Đây thực sự là những tinh hoa của nghệ thuật điều khắc cổ với những nét tinh
xào thể hiện trong từng đường nét trên các bức tượng. Những hiện vật, tượng đá cũng góp phần
tăng thêm giá trị lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật của các lăng đá cổ.
Lăng đá dinh hương là nơi tôn vinh truyền thống kiến trúc điều khắc đá của dân tộc,
thể hiện rõ ở nghệ thuật điều khác tựa người hay linh thú cùng đồ thờ, cũng như trang trí kiến trúc
phong phú với nhiều mô típ. Đồ án hòa văn sinh động thực sự điển hình cho nghệ thuật điều
khắc đá của Việt Nam. Với những giá trị về lịch sử văn hóa và nghệ thuật kiến trúc tiêu
biểu, lăng dinh hương đá và đăng hấp dẫn du khách tới tham quan.
La Quý Hầu, Vĩnh Huệ Bi, mặt sau.
Ghi sự lệ xã Đức Thắng, Ngọ Viết Huy, Nguyễn Công Tạo, v.v. Cùng mọi người trên,
dưới, trong hai đỉnh Đông, Đoài, xã Đức Thắng, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà,
cùng ghi lại việc tôn bảo hậu thần của hai đỉnh, việc phụng thờ những người có tên tuổi lẫy lừng,
được dân chân tình tôn kính, tôn trưởng quan làm hậu thần của hai đỉnh trong bản xã.
Hiện nay đường lúc triều đình còn coi trọng ông nên làm lễ tôn kính bậc trưởng tôn để tỏ
lòng thành. Đến sau này khi ông đã qua đời về với cõi nhàn du thì được lễ phụng thờ như bậc thần
minh, vào các ngày rỗ chạp có sướng ca cung kính, vào các lễ tiết lễ xuân thu được hưởng sự
cúng tế theo những nguy thức. Tôn trưởng quan tránh thất tức vợ, nguyễn quý thị cùng phối thờ.
Lễ cũng như vậy. Các sự lệ và các điều lệ khác có kê khai đầy đủ ở phía sau. Kể ra,
ngày rỗ trưởng quan, lễ mỗi đỉnh gồm lợn một con, rượu một vò, tương đương tiền xử ba quan 500,
xôi hai mâm, mỗi mâm hai đấu, vàng bạc một trăm thép, trầu con một hộp. Hàng năm vào ngày
9 tháng 6, tôn trưởng quan tránh thất tức vợ, rỗ gồm có lợn một con, rượu một vò, tương đương tiền xử
hai quan 500, xôi hai mâm, mỗi mâm năm đấu, vàng bạc một trăm thép, trầu con một hộp.
Tế xuân vào ngày 13 tháng 2, lợn một con, rượu một vò, tương đương tiền xử là hai quan 500,
xôi một mâm, tương đương gạo năm đấu, vàng bạc một trăm thép, trầu con một hộp.
Tế thu vào ngày 13 tháng 8, lợn một con, rượu một vò, tương đương tiền xử là hai quan 500,
xôi một mâm, tương đương gạo năm đấu, vàng bạc một trăm thép, trầu con một hộp.
Tiết lệ vào ngày mùng 1 tháng riêng, lễ y như lễ thờ thần. Tiết lệ vào ngày mùng 10 tháng riêng,
lễ y như lễ thờ thần. Tiết lệ vào ngày 11 tháng 4, lễ y như lễ thờ thần. Tiết lệ vào ngày mùng 10
tháng 9, có lệ nhập tịch, xướng ca cúng lễ hậu thần, xôi một mâm, tương đương gạo năm đấu,
gà một con, tương đương tiền xử là 140 đồng, rượu một vại, tương đương tiền xử là 30 đồng,
vàng bạc một trăm thép, trầu con một hộp. Tiết trung thu, ngày tống tiễn thần lệ cũng giống như vậy,
các thở ruộng thêm cho đỉnh đồng. Tiết lệ hàng năm tế thường, tức tế về thu,
lễ y như lễ thờ thần. Tiết lệ hàng năm vào ngày chạp tháng 12, lễ y như lễ thờ thần. Giao
cho hai gia đình bản xã, tiền bạc 200 lang, mỗi lang tương đương với tiền xử là 3 quan 600 đồng,
tổng cộng xử tiền là 733 quan 320 đồng. Chiêng đồng hai chiếc, ruộng 60 xào, ruộng thu 6 xào,
các thử ruộng thêm cho gia đình. Đỉnh đồng được phân chia bạc 100 lạng, chiêng đồng một chiếc,
ruộng tế 30 xào, ruộng thu 3 xào. Đỉnh đồng được phân chia bạc 100 lạng, chiêng đồng một chiếc,
ruộng tế 30 xào, ruộng thu 3 xào. Ruộng huệ điền. Hàng năm luôn lưu mỗi đỉnh một người làm tế viên.
Sáu người của bản đỉnh làm mùi tế, đều phân chia nhau kể cấy. Đến ngày tế lễ,
chiếu theo bản phân chia, phải cung kính chuẩn bị lễ vật đến đền mời tư văn tiến hành làm lễ.
Lễ song các quan viên trên dưới cùng hưởng. À một chiếc, tương đương một mẫu tại sinh tử.
Hế đến lễ thượng điền, hạ điền giao cho người đình cá để làm lễ cúng. Lễ song cùng nhau ăn
để biểu dương ân huệ của người. Giao cho thủ tư ruộng một mẫu cấy cầy lưu truyền cho con cháu đời đời
nối tiếp nhau. Chỉ một người nam nhận cầy cấy ruộng đó thì không được chia cho nhiều người làm của riêng,
cũng không được chuyển bỏ. Nếu có lưu truyền cho người khác cầy cấy thì phải giao lại hai xào cho
lưu truyền việc đó lâu dài vậy. Thêm cho thủ tư ruộng hai xào để cầy cấy. Người cầy cấy hàng
năm vào hai dịp thượng điền, hạ điền phải nộp gạo để làm cơm. Mỗi kỳ năm đấu, kính lễ
cúng thờ. Lễ song giao cho hai đình cùng ăn để tỏ rõ ơn huệ vậy. Trên đây là các điều ước ghi việc
cầy cấy ở ruộng tế, ào tế. Việc tế tự từ nay về sau được lưu truyền cho đến vô cùng không được
bỏ đi. Nếu quan viên nào dám phế bỏ, chuyển đi thì nguyện trời đất quỷ thần chứng dám chu diệt và lại
giao cho bản tộc cáo tại quan tư để chừng trị. Những người mua ruộng ấy cũng nguyện lưu truyền lễ
trước mãi mãi không thay đổi. Nhà thờ quận công La Quý Hầu. Rất tiếc là trong thời chiến tranh nhà thờ
vừa đã bị phá hủy, con cháu chỉ xây dựng lại nhà thờ quận công với quy mô nhỏ để lấy chỗ là nơi
thờ tự, hương hỏa cho quận công. Hiện tại dòng họ Nguyễn mà làng vẫn gọi là dòng họ nhà thờ
vẫn đang thờ tự. Ở đình Dinh Hương, đây là nơi suy tôn ông làm thành hoàng làng thờ cúng trong đình
hàng năm, vẫn mở lễ hội để tưởng nhớ đến ân đức của quận công với làng. Và ông cũng được phối thờ
ở chùa Dinh Hương, được suy tôn làm thánh để thơ phụng. Trước kia có tự mẫu lăng, đây là nơi thờ mẹ
nuôi quận công La Quý Hầu. Ngày xưa dân gian vẫn gọi là lăng bà vãi nhưng sau chiến tranh khu lăng này
đã bị phá hủy gần như hoàn toàn, biển đá cũng không còn. Vị trí lăng này bây giờ là đất của người dân ở.
Cảm ơn quý vị đã chú ý theo dõi. Quý vị hãy bình luận ở phía dưới để giao lưu cùng Duy cũng như góp ý
cho Duy những địa điểm để dành lịch sử mà quý vị muốn Duy tới khám phá và trải nghiệm. Đừng quên nhấn
đăng ký để không bỏ lỡ những video khi Duy up lên. Cũng như hãy ủng hộ kênh bằng cách nhấn like và chia sẻ
video. Hẹn gặp lại quý vị trong những video sắp tới. Quý vị muốn mua đặc sản trà sạch Thái Nguyên,
xin lên lệ số 0989 260 877. Sản phẩm trà sạch Thái Nguyên được phân phối chính thức bởi Hà Nội
phố nhận giao hàng toàn quốc.
