Tướng Thái Lan DÁM THÁCH THỨC CHẤP CẢ VN Và Lào Nhận Cái Kết Khóc Thét ! | Triết Lý Tinh Hoa
#Trietlytinhhoa #vandehomnay #tintuc24h
Mô Tả Nội Dung: Tướng Thái Lan DÁM THÁCH THỨC CHẤP CẢ VN Và Lào Nhận Cái Kết Khóc Thét ! | Triết Lý Tinh Hoa
=================
#linhdan
"Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày
===================
vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn nhân gia đình
Không ngờ tướng Thái Lan ngông cuồng dám thách thức chấp cả Việt Nam lẫn Lào và kết kết khóc thét.
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tình Hòa
Quý vị thân mến, từ xưa đến nay, Thái Lan vẫn nổi tiếng là đồng minh thân thiết của Mỹ,
được Mỹ hậu thuẫn cả về kinh tế lẫn quân sự.
Do đó vào năm 1984, khi lực lượng Thái Lan và Lào lúc bấy giờ xảy ra một loạt các vụ chạm súng vô cùng căng thẳng
Trước tình hình vô cùng căng thẳng đó, một vị tướng của Thái Lan đã lên mặt thách thức và chấp cả Việt Nam lẫn Lào
nếu Việt Nam dám đưa quân sang giúp đỡ.
Thế nhưng, ngay sau khi phát biểu được câu nói hùng hồn này thì vị tướng này đã phải hối hật khi dám coi thường sức mạnh của Liên quân Lào Việt.
Vậy cuộc xung đột đó diễn ra như thế nào, quân đội Thái Lan đã phải chịu kết kết thảm bại ra sao?
Hãy cùng Triết Lý Tình Hòa đi tìm hiểu!
Quý vị thân mến, cuộc tranh chấp đất đai giữa Lào và Thái Lan bắt đầu từ nguyên nhân liên quan đến tấm bản đồ do những người đo đạc của Pháp vẽ năm 1907.
Người Pháp đã đánh dấu biên giới giữa Siêm và Đông Dương thuộc Pháp,
trong đó quyền sở hữu ngôi làng Ban-Rom-Klau tại biên giới tỉnh Phitsanulok và 3 ngôi làng biên giới nhỏ ngoài bìa tỉnh Paklay, Lào.
Theo tấm bản đồ của Pháp là thuộc về Lào, nhưng tấm bản đồ do Hoa Kỳ vẽ năm 1965, thì 3 ngôi làng này lại thuộc về Thái Lan.
Bên cạnh đó, việc Thái Lan hỗ trợ, thậm chí xây dựng các căn cứ trên đất Thái Lan cho những lực lượng người Hơ Mông phản động tại Lào
và việc làm trên khiến Lào rất căng thẳng và ngay lập tức xung đột xảy ra.
Một loạt các vụ chạm súng xảy ra giữa lực lượng Thái Lan và Lào năm 1984 và trong thời gian 1984-1987,
Thái Lan liên tục giải truyền đơn chống Lào tại các khu vực có tranh chấp,
ngoài ra là những lời ngon ngọt rụ rỗ dân chống vùng tranh chấp yêu Thái ghét Lào.
Hai bên càng lúc càng điều động thêm quân đội tới vùng tranh chấp, cùng với đó là các lực lượng phá binh, tăng thiết giáp, sẵn sàng tham chiến.
Tháng 12 năm 1987, lực lượng vũ trang Thái Lan tiến vào chiếm đóng ngôi làng tranh chấp Ban Rom Klau,
cấm cờ Thái Lan tại làng trong bí mật, rồi chụp ảnh lại đăng báo loan tin khắp nơi.
Chính phủ Lào sau khi biết chuyện thì lập tức lên tiếng phản đối mạnh mẽ,
nhấn mạnh rằng ngôi làng là một phần của huyện Bò Tên thuộc tỉnh Saiburi của Lào.
Thái Lan đã trả lời rằng ngôi làng thuộc huyện Chad Chakan của tỉnh Phitsanulok.
Để trả đũa Thái Lan và muốn dạy Thái Lan một bài học,
lực lượng quân đội Lào cũng đã tổ chức một cuộc tấn công vào các căn cứ đơn vị đồn chuỗi nhỏ của Thái Lan.
Quân Thái bắt đầu phải hứng chịu những thương vong đầu tiên,
lực lượng vũ trang Lào đã đẩy binh sĩ Thái Lan ra khỏi ngôi làng này và thay thế lá cờ Thái Lan bằng quốc kỳ Lào.
Thái Lan bắt đầu cảm thấy cay cú nên quyết định tăng cường lực lượng lên gấp 3 lần để đánh bạo quân đội Lào
và hứa sẽ trả thù bằng một cuộc sâm chiếm quỷ bồ lớn.
Tướng Thái Lan Travalis Dung Chai Du nhận định rằng Việt Nam đang cấm vận và xa lầy ở Campuchia.
Người Việt Nam đang gặp vấn đề khó khăn rất lớn nên sẽ không dám làm gì
và nếu Việt Nam có can thiệp, quân đội Thái Lan cũng sẽ dễ dàng đánh bại Việt Nam.
Vì tướng này nói, nếu Việt Nam được quần đến hỗ trợ Lào,
Thái Lan sẽ đánh bại cả hai và cho thấy sức mạnh của quân đội hoàng gia mạnh nhất Đông Nam Á.
Sau khi nghe được những lời thách thức này, Việt Nam không ngần ngại viện trợ gửi quân từ sư đoàn bộ binh Việt Nam 2
đến sân bay Ban Na Cốc tại Sayapuri để hỗ trợ các chiến dịch quân sự của Lào.
Khi ấy một trung đoàn bộ binh của Việt Nam biên chế 2.150 người và nếu khi tăng cường sẽ lên tới 2.510 người.
Một trung đoàn thông thường biên chế đại đội thông kinh 72 người, đại đội trinh sát 66 người, đại đội quân y 70 người,
đại đội vận tải 36 người, đại đội súng không giật 73 người với trang bị từ 8 đến 12 khẩu DKZ 85 ly.
Một đại đội súng cối 64 người trang bị từ 6 đến 8 khẩu cối 82 ly hoặc 4 khẩu cối 120 ly.
Một đại đội cao xạ 92 người trang bị súng máy 14,5 ly.
Một đại đội hỏa tiễn 80 người xử 4 ống phóng hỏa tiễn. Một trung đội tiên lửa chống tăng 22 người.
Lúc đó theo nhiều nguồn tin quốc tế cho rằng Việt Nam đã cử đến Lào cỡ một trung đoàn
và sau đó có tăng cường thêm quân và các chuyên gia sư về việc tại sao Việt Nam lại đem quân đến Lào.
Ngay sau kết mạng tháng 8 năm 1945 thành công tháng 10 năm 1945,
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chính phủ Lào Isara đã ký Hiệp ước Tương trợ Lào Việt
và Hiệp định về Tổ chức Liên quân Lào Việt 30 tháng 10 năm 1945.
Đây là những văn kiện chính thức đầu tiên tạo cơ sở pháp lý để hai nước Việt Nam, Lào,
hợp tác và đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung.
Vậy nên Việt Nam có trách nhiệm đưa quân đến hỗ trợ Lào, Hiệp ước
và kết kết là quân đội Thái Lan thảm bại sau một tuần giao tranh.
Quân đội Thái Lan thảm bại mất hẳn một tiểu đoàn bộ binh.
Quân đội Lào được coi là bên chiến thắng khi đã tái lập được hiện trạng trước khi cuộc chiến nổ ra.
Cuộc chiến ngắn gây ra khoảng 1.000 thương vong.
Quân Thái Lan tổn thất nặng hơn vì phần lớn trong cuộc chiến họ là bên tấn công vào nổ súng trước,
trong khi Lào có lợi thế về phòng thủ.
Kết quả Thái Lan thảm bại, phải rút chạy khỏi làng vĩnh viễn.
Thái Lan 200 thiệt mạng, 400 bị thương.
Lào 92-95 thiệt mạng, 190 bị thương.
Chiều tổn thất nặng nề nhưng không làm bị thương được bộ đội Việt Nam,
nên không có cớ để đưa ra linh hợp quốc tế về việc Việt Nam can dự vào cuộc chiến này.
Các chuyên gia quân sự Thái để đưa ra giả thuyết rằng do trang bị quân Lào và Việt Nam là tương đối giống nhau,
hơn nữa rất có thể quân đội Việt Nam đã mang quân phục Lào và đóng giả làm lính đào để tham chiến.
Binh sĩ Thái Lan kể rằng sau những tiếng sung phong là sự tấn công vũ bão đến từ nhiều hướng từ phía quân đội Việt Nam
và binh sĩ Thái Lan phải rút chạy vì trước đó binh sĩ Thái Lan đã nhiều lần thất bải trước quân đội Việt Nam.
Tướng Chavalid Yongchai Du là chỉ huy quân đội Hoàng gia Thái Lan tại thời điểm chiến tranh
đây bị chỉ trích vì khinh Việt Nam và coi thường sức chiến đấu của binh sĩ Lào.
Thế đấy, đất nước Việt Nam đã trải qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ với 2 đế quốc hùng mạnh gấp nhiều lần so với Thái Lan
mà vẫn có thể coi thường sức mạnh của người Việt được thì rõ rồi.
Ngược dòng quá khứ mà đến nay vẫn có ít người biết đến, năm 1833 người Thái đã tham vọng và nhìn về phía đông
nhưng cũng đã nhận về cái kết đắng.
Quý vị thân mến, đối với người Việt, chiến tranh với Xiêm có lẽ chỉ là hình ảnh của trận giày cầm xoài mút
và câu nói trong đại nam thực lục mà người Việt vẫn lấy làm tự hào.
Người Xiêm từ sau cuộc bãi trận Nam Giáp thiên 1784, miệng tuy nói khoác mà lòng thì sợ tầy sơn như cọp.
Vua Nguyễn Phúc Ánh thấy quân Xiêm tàn bạo, đến đâu là cướp bóc đến đây.
Nhân dân ta oán rất nhiều, bảo các tướng rằng
Muốn được nước phải được lòng dân.
Này, chú Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngựa được.
Nếu được già địch mà mất lòng dân thì ta cũng không nỡ làm.
Thà hãy lôi quân để đừng làm khổ nhân dân.
Theo đó thất bại quân sự này là hoàn toàn do tướng Xiêm bất tài và quân Xiêm hẹn nhát.
Tuy nhiên, gần nửa thế kỷ sau, người Thái quay trở lại.
Trong một cuộc tấn công có quy mô lớn hơn nhiều, tạo ra các nguy cơ lớn hơn đối với lịch sử Việt Nam.
Cô điều cuộc chiến tranh này ít được nhắc đến và có vẻ không phải là một chủ đề gây được chú ý của người Việt,
mặc dù nó là nỗ lực lớn nhất của người Thái nhằm mở dọc ảnh hưởng ra vùng duyên hải bán đảo Đông Dương và hạ lưu Mekong.
Người Thái và Tham vọng Đông Tiến
Sự bành trướng của các vương quốc người Thái từ thế kỷ 15 dọc lưu vực sông Mê Nam
đã nhanh chóng trở thành mối đe dọa đối với các cư dân sống ở Trung và hạ lưu sông Mekong,
ngày nay là nước Lào và Campuchia.
Vùng đất này đã thực tế trở thành khu vực đẹp giữa hai nhóm người đang chiếm ưu thế ở Đông Nam Á lục địa.
Thái và Việt sẽ trở thành tâm điểm của cuộc tranh chấp quyền lực khu vực quyết liệt từ thế kỷ 18.
Người Thái đã nhìn sang phía đông nhiều thế kỷ này.
Chính các cuộc tấn công của họ vào thế kỷ 15 và là một trong các nguyên nhân
khiến đế chế Ảng Cò sụp đổ và người Khơ Mê phải di chuyển xuống phía Nam Biển Hồ,
ít nhất là từ năm 1674.
Sở nhà Nguyễn ghi chép về việc chi rẽ trong hoàng tộc Campuchia,
một phe cầu viện Xiêm lúc đó là vương triều Ayutthaya và phe khác thì chạy sang Việt Nam.
Tình trạng này còn kéo dài tới tận năm 1848.
Cuộc cạnh tranh ở Hà Tiên là một ví dụ cho thấy không phải ngẫu nhiên mà người sẵn lập ra vùng đất này.
Một thương nhân người Hoa đã tới quỳ thuận chú Nguyễn vào đầu thế kỷ 18 để yêu cầu sự bảo hộ.
Ông ta biết vùng đất của mình nằm trong tầm ngắm của người Thái và Khơ Mê và các nhóm người Hoa khác.
Việc chú Nguyễn biến Hà Tiên thành một trấn trong vương quốc của mình cũng không thể bảo đảm
cho sự yên bình của mảnh đất chiến lược này.
Hà Tiên là cửa ngõ để vào hạ lưu Mekong và người Thái đã đánh chiếm tàn phá nó vào các năm 1715-1771-1833.
Đình cao là cuộc cạnh tranh Xiêm-Việt diễn ra giữa Xiêm với nhà Tây Sơn và vương triều Nguyễn.
Hệ quả của nó góp phần định hình nên trật tự và cấu trúc chính trị của bán đảo Đông Dương thời sơ kỳ hiện đại.
Nếu không có cuộc kéo co chính trị quân sự này, có lẽ vần mạnh của người Lào và người Khơ Mê đã rất khác biệt.
Thực tế là các chú Nguyễn, nhà Tây Sơn và vương triều Nguyễn đã để mắt tới tham vọng của Xiêm nhanh chóng tìm cách đối phó,
thu thập thông tin địa lý, đường xá và tình báo là công việc thường xuyên của Huế.
Xiêm là quốc lộ trình tập lục 1810 là một khảo sát bí mật như thế,
nơi Sứ đoàn Việt Nam ghi chép lại các lộ trình từ Hạ Lưu Mê Công tới Xiêm.
Huế cũng liên tục cử người do thám tình hình Xiêm như sứ mệnh của Mạc Hầu Hy năm 1832.
Một sự tình cờ không ấu nhiên của lịch sử là Đa Ma Ba chỉ vì giai đoạn 1824-1851
và minh mệnh chỉ vì giai đoạn 1820-1841 là những đối thủ không hẹn mà gặp của nhau.
Lên ngôi lúc 37 tuổi và là người kiểm soát nền thương mại của Bangkok,
Đa Ma Ba là một nhà tập quyền và bành trưng lãnh thổ không khoan nhượng đối với các nỗ lực đòi độc lập của Trừ Hầu.
Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1833 là một nỗ lực tiếp theo của người Thái
trong việc mở rộng ảnh hưởng sang Phi Đông khi Bangkok áp đảo Huế
trong cuộc chiến giành quyền kiểm soát Vương quốc Viên Trăn 1827.
Minh mệnh có thể nhún bằng cách cử quân voi tới vùng Nghệ An và yên tâm rằng Xiêm không thể đi xa hơn,
nhưng khi họ can thiệp vào Campuchia thì ứng xử của ông hoàn toàn khác.
Từ khi Minh mệnh lên ngôi, chính sách của Việt Nam đã giúp lại bỏ ảnh hưởng của Xiêm ở Campuchia.
Chính vì thế Rama III luôn tìm cách khôi phục ảnh hưởng trở lại của Bangkok.
Rama III nhìn thấy sự chia rẽ và nổi loạn của Việt Nam,
một cơ hội không chỉ giúp xác lập lại bá quyền ở Campuchia,
mà còn mở rộng ảnh hưởng sang cả vùng hạ lưu Mekong.
Bangkok hy vọng việc duy trì một nước Việt Nam chia rẽ sẽ giúp thúc đẩy quyền lực vùng của họ trong khu vực.
Xiêm đã huy động hai đạo quân chổ lực xâm lực Việt Nam.
Đạo quân bộ khoảng 40.000 người dưới sự chỉ huy của Cao Freya Bodin tiến qua Campuchia tẳng tới Gia Định
và đạo quân thủy 10.000 người xâm nhập qua cửa ngõ Hà Tiên-Phú Quốc,
sau đó đi ngược lên Vĩnh Thế, chiếm Châu Đốc và hội với quân bộ.
Đạo quân thứ ba được tổ chức từ lính là người Lào
và các tỉnh phía đông của Xiêm sẽ nhắm tới miền trung Việt Nam.
Qua vùng Trấn Ninh và Nghệ An rồi đi xuống Nam Lào, yểm trợ cho hai đạo quân chính.
Quân Xiêm rời Bangkok tháng 11 năm 1833, tiến qua Campuchia mà hầu như không có trở ngại nào
vì quân quân Khmer bỏ thành và chạy hết sang Vĩnh Long.
Trong khi đó, thủy quân Xiêm cũng vượt qua Hà Tiên và ngược theo kênh Vĩnh Thế.
Hai đạo quân Thái gặp nhau ở Châu Đốc, thay đổi kế hoạch bằng cách nhập làm một
và tiến về gia đình bằng đường thủy theo đường Vào Nào tới Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho.
Tháng 1 năm 1834, cuộc đồng độ đầu tiên giữa quân Xiêm Việt diễn ra tại Vào Nào.
Quân nhà Nguyễn bị yếu thế, rút lui về củng cố hệ thống phòng ngự quy mô ở Sa Đéc.
Cuộc đồng độ quân sự lớn đã diễn ra tại đây ngày 29 tháng 1 năm 1834
nơi hai cuộc tấn công thủy bộ quy mô của Xiêm bị quân Việt Nam bẻ gãy.
Thất bại này đã ráng đòn mạnh và hàng ngũ chỉ huy của quân Thái
đã có sự tranh cãi lớn giữa hai nhóm quân thủy bộ.
Trong khi Cao Phêa Bồ Đinh yêu cầu trình đốn lại hàng ngũ, trừng phạt những người sai phạm
và tiếp tục tiến quân thì chỉ huy quân thủy yêu cầu rút lui.
Hai ngày sau đó quân Xiêm lui về Châu Đốc, nơi quân bộ đi theo đường Campuchia
và quân thủy rút lui qua ngã Hà Tiên.
Trong lúc đó đảo quân thứ ba được lệnh tiến về gia đình iểm trợ,
đã không hề hay biết về sự thất bại và thoái lui này cho tới khi được lệnh rút về phía Bắc.
Quân Việt Nam sau đó đã theo sát cuộc rút lui này và gây ra nhiều thiệt hại cho đảo quân xâm lược.
Cuộc rút lui của quân Xiêm qua Campuchia sau đó trở nên hỗn loạn,
tuyên bố rằng họ tới với sứ mệnh giải phóng người Khmer,
nhưng thực tế là xác lập cai trị, bốc lột kinh tế và mở rọc ảnh hưởng.
Vì thế đã bị dân địa phương chống trả.
Đổi lại sau thắng lợi quân sự của người Việt,
vua Campuchia là Ang Chan được đưa trở lại ngay vàng
và quan hệ của ông với Huế vẫn chắc hơn lúc nào hết.
Quy mô và tầm mức của cuộc xâm lược năm 1833 rõ ràng là ít được biết đến trong sở sách,
một phần có lẽ liên quan tới những biến động chính trị lớn ở Việt Nam trong những năm 1832-1836.
Mặc dù vậy việc nhà Nguyễn tiến hành đáp trả thành công cuộc xâm lược này là một thành công lớn
trong nỗ lực không chỉ bảo vệ bờ tỏi mà còn bảo toàn được sự thống nhất
và ổn định lãnh thổ của nước Việt Nam hiện đại vừa được xác lập.
Trước kia Nam Kỳ ngẫu nhiên có giặc siềm đến lấn,
quan quân ở Gia Định đến nơi đánh.
Lần đầu đánh nhau đã đem hơn một vạn giặc siềm giết tan.
Mỗi nhọn quân ta lừng lẫy đi đến đâu không ai ngăn chở được.
Bọn giặc sợ binh uy ta chưa đầy tháng đều đã nghe tình chạy vỡ.
Các nơi châu đốc hạ tiên Nam Vang lần lượt thu phục
đã là không phiền binh lực mà giặc đã dẹp yên công ấy chẳng nhỏ.
Nhờ con thắng lợi này mà cán cân quyền lực ở Đông Nam Á lục địa cân bằng trở lại
và vì thế duy trì sự tồn tại của Lào và Campuchia như vùng đệm
cho tới khi chủ nghĩa thực dân Pháp xác lập trên bản đảo Đông Dương.
Báo chí Thái Lan viết về Việt Nam
Thứ người Thái Lan thua người Việt Nam hiện nay là lòng yêu nước.
Trên trang Post Today,
có một tác giả người Thái đã có một bài viết nêu đến góc nhìn của người Thái
khi so sánh với Việt Nam.
Một số người Thái thích so sánh Thái Lan với Việt Nam
nhưng có một câu chuyện là Việt Nam cao hơn Thái Lan.
Việt Nam không bằng Thái Lan về thu nhập
nhưng Việt Nam thường được so sánh với Thái Lan về nhiều mặt.
Cả người Thái và người Việt đều có thói quen đó.
Xét về thu nhập và mức độ phát triển,
Thái Lan đang ở mức cố gắng thoát khỏi bẫy của các nước có thu nhập trung bình cao.
Thái Lan có thể sẽ trở thành nước có thu nhập cao hoặc nước phát triển.
Thái Lan có những người bạc ở một quốc gia khác
đã cố gắng từ lâu nhưng không thành công, đó là Malaysia.
Vì vậy, nếu so sánh thì lẽ ra nên so sánh Thái Lan và Malaysia
vì cùng một mô hình.
Còn để so sánh với Việt Nam,
đó là thức đò với vạch mốc cách nhau cả thế hệ, khó thực hiện.
Nhưng có một số vấn đề mà Việt Nam có lợi thế hơn Thái Lan,
ví dụ có một lượng lớn dân số trẻ,
đó sẽ là sức mạnh để sản xuất và tri tiêu.
Thái Lan sắp trở thành một xã hội già hóa
với năng lực sản xuất kém hơn và người dân tri tiêu thấp.
Nếu giải quyết được điểm này,
chắc chắn Thái Lan sẽ khỏi sắc vượt bậc.
Đối mặt vấn đề này,
Thái Lan đã thay đổi chiến lược để tập trung vào sức mua trong nước.
Nhưng nếu hầu hết người dân trong nước là những người già,
về hưu thì sức mua cũng sẽ kém đi.
Ngân hàng Thế giới gần đây đã cảnh báo rằng
dân số già đang gia tăng nhanh chóng ở Thái Lan.
Điều đó có nghĩa là tỉ trọng của các nhóm
trong độ tuổi lao động trong dân số sẽ giảm xuống.
Nếu không có những thay đổi khác,
điều này sẽ làm giảm mức tăng trưởng GDP trên đầu người hàng năm.
Theo báo cáo điều tra dân số năm 2019,
Ngân hàng Thế giới cảnh báo rằng
Việt Nam cũng sớm đối mặt với tình trạng dân số già.
May mắn thầy, tầng lớp trung lưu hiện là 13%,
sẽ trở thành 26% vào năm 2026.
Việt Nam không chỉ là cường quốc dân số trẻ,
quan trọng là giới trẻ vẫn có sức mạnh nổi tải.
Ý thức dân tộc được định hình từ giai cấp đến giá trị xã hội.
Lật lại một định nghĩa về lòng yêu nước,
phổ biến của người Việt Nam,
một doanh nhân ở TP.HCM bình luận trên Nikkei Asia cho rằng
Ở Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc là niềm tin
về bản chất dân tộc được rèn rũ hàng ngàn năm
để bảo vệ tổ quốc khỏi những kẻ xâm lược tàn nhẫn.
Làm sao bạn có thể không tự hào khi tất cả các bài học lịch sử dạy bạn rằng
đất nước nhỏ bé luôn có thể đánh bại mọi kẻ xâm lược,
thường là từ những đội quân hùng mạnh nhất trên thế giới vào thời điểm đó,
gồm Trung Quốc, Nguyên Mông, Pháp và Mỹ.
Vì doanh nhân cho rằng, do có niềm tin như vậy,
nên người Việt Nam nghĩ rằng bất cứ điều gì phục vụ lợi ích quốc gia đều là đúng.
Trong khi ở Thái Lan,
mặc dù tất cả người dân Thái Lan đều yêu nước như mọi người theo một cách khác,
nhưng chúng ta không giống như cách người Việt Nam yêu nước.
Nhiều trường hợp người Thái có tâm lý chối bỏ quốc gia vì bất mãn
và không biết chút bỏ bức bách đi đâu trên đất nước mình.
Có vẻ như người Thái đã đánh mất sự tin tưởng trên chính đất nước của mình.
Chủ nghĩa dân tộc của chúng ta vì thế không nói đến sự đoàn kết tôn vốn đã quá khan hiếm,
nhất là kể từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng chính trị cách đây gần hai thập niên.
Vì vậy, không có chính phủ Thái Lan nào có thể đoàn kết thành công người Thái
và ly tán còn rõ ràng hơn.
Một số chính phủ cố gắng thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc của Thái Lan,
nhưng họ dẫm chân lên nhau theo những cách lỗi thời
và khiến một số người từ ghét chính phủ chuyển sang ghét chính đất nước của họ.
Điều này cháy ngược với chính phủ Việt Nam,
luôn không ngừng dương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc trong lãnh đạo đất nước,
ngay cả bây giờ cũng vậy.
Trong thời gian bùng phát Covid-19, Việt Nam đẩy mạnh tinh thần chủ nghĩa dân tộc
thông qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội
bằng cách sử dụng những bài hồng biện khơi dậy lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi công dân.
Chẳng hạn như tuân thủ quy định giãn cách, Việt Nam có một chiến dịch,
nếu bạn yêu đất nước và đồng bào của bạn, hãy đứng nguyên tại chỗ.
Những từ khóa là tổ quốc và đồng bào hay từ gợi cảm giác gắn bó,
hòa quyện, giúp người Việt Nam như thẻ, đang chiến đấu trong cùng một chiến hảo.
Truyền thông Việt Nam tích cực quảng bá về sự thành công của việc điều trị cho người nước ngoài.
Kết quả ngày càng rõ ràng và các cuộc khảo sát trên mạng xã hội sẽ cho thấy rằng,
người nước ngoài lạc quan với Việt Nam và họ muốn chuyển đến làm việc tại đây
nếu cuộc khủng hoảng Covid-19 kết thúc.
Cả thế giới đều quảng bá miễn phí cho thành công của Việt Nam,
điều đó đã giúp Việt Nam thu hút được rất nhiều nhà đầu tư.
Mặc dù Thái Lan cũng đã nhận được nhiều lời khen ngợi, nhưng trong một phạm vi hạn chế,
điều đó phản ánh sự thất bại của chính phủ trong việc quảng bá tuyên truyền.
Họ không hề chuẩn bị để quảng bá hình ảnh trước đó.
Còn các anh chị em Thái, một số không theo chủ nghĩa dân tộc,
một số lại chế giữ chủ nghĩa dân tộc là tuột hậu.
Bất chấp thực tế, chủ nghĩa dân tộc đang xây dựng Việt Nam trở nên lớn mạnh hơn.
Tên gọi của chiến dịch kiểm soát Covid-19 của chính phủ Thái Lan,
chẳng hạn như Thái Lan thắng lần nữa và nhiều trận thắng nữa,
cũng phản ánh khái niệm dân tộc chủ nghĩa.
Nhưng những người chỉ trích trong nhà, chúng ta không thích thế.
Một số người chỉ trích việc gọi nhân viên y tế là chiến binh phòng thí nghiệm
hay chiến binh áo trắng là một biểu hiện nghiêm trọng của hữu chiến.
Chính phủ cũng bị chế giữ khi chi 30 triệu bạt để làm một bộ phim yêu nước.
Đối với những người được lòng chính quyền khi xem cảm thấy hài lòng,
nhưng những người ghét chính phủ xem trong lại nói tiền nên được sử dụng vào việc gì đó có lợi hơn.
Ý tưởng thúc đẩy chủ nghĩa dân tộc là ổn, nhưng cách tiếp cận của chính phủ là sai lầm.
Vì nó không xét vào thực tế là nhiều người Thái cũng không thích chính phủ
và thất vọng với việc bị buộc phải yêu đất nước từ một chính phủ mà họ không hài lòng.
Người Thái không giống người Việt Nam vốn chấp hành nghiêm ngay cả lệnh rẽ trái rẽ phải.
Người Thái yêu tự do hơn tất cả.
Cũng như câu nói, hãy làm những gì bạn muốn.
Thế mới là người Thái đích thực.
Người Việt Nam yêu nước và làm điều đó vì trong lịch sử hàng thiên niên kỷ,
người Việt Nam luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lăng từ các cường quốc.
Họ hiện vẫn luôn cảnh giác các nguy cơ từ Trung Quốc.
Người Việt Nam có khẩu hiệu mà toàn dân hưởng ứng, yêu nước và hành động hơn nữa,
cần đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, phát triển công nghệ và làm cho đất nước trở nên hấp dẫn với đầu tư.
Hãy nhìn lại Thái Lan.
Thái Lan chưa bao giờ chịu sức ép từ bên ngoài.
Chúng ta chỉ có những mâu thuẫn nội bộ làm si yếu bản thân, không có chủ nghĩa dân tộc, không đoàn kết.
Nếu Thái Lan vẫn đang đi trên con đường này thì tương lai của chúng ta có thể đen tối.
Không chỉ vậy, ở Thái Lan dường như từ chủ nghĩa dân tộc còn bị nhiều người ngầm dè biểu
vì cho rằng nó là thủ phạm của các cuộc xung đột quốc tế.
Họ không nghĩ rằng chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy đất nước tiến lên.
Nếu chúng ta không phổ biến tình yêu nước, chúng ta có thể cạnh tranh với ai?
Bạn đã thấy hết mọi thứ khi so sánh Thái Lan với Việt Nam.
Với chúng ta, Thái Lan thiếu gì nhưng họ, Việt Nam, có đầy đủ.
