#linhdan #Trietlytinhhoa#vandehomnay#tintuc24h Mô Tả Nội Dung: VN Cao Tay Phá Trấn Yểm Của Pháp Sư TQ Sau 1000 Năm Như Thế Nào? | Triết Lý Tinh Hoa ================= "Triết Lý Tinh Hoa" - Ngôi nhà tri thức về Triết lý và Cuộc sống! bằng Cập nhật tin tức 24h trong ngày =================== vấn đề hôm nay, báo vtc, tin tức trong ngày, tin tức, tin nóng, tin tức hôm nay, tin tức mới nhất hôm nay, tin tức mới nhất, tin thời sự, tin tức 24h, tin thời tiết, dự báo thời tiết, biến đổi khí hậu, triết lý cuộc sống. phụ nữ, hôn nhân gia đình
Cách nội dung này được tạo ra Nội dung đã được chỉnh sửa hoặc nội dung nhân tạo Âm thanh hoặc hình ảnh đã được chỉnh sửa đáng kể hoặc tạo bằng công nghệ số. Tìm hiểu thêm Bản chép lời Theo dõi nội dung video bằng bản chép lời.
Hiện bản chép lời
Trung Quốc thâm độc cho người chấn iểm Việt Nam và gai kết đau đớn khiến cả triệu người hả hê
Mến chào quý vị đang đến với kênh Triết Lý Tiên Khoa
Quý vị thân mến, Việt Nam ta từ bao đời nay luôn nổi tiếng là đất nước sản sinh ra biết bao anh hùng hảo huyệt, làm sạng người khí thế non-stop, khiến cho Trung Quốc dù sắp tâm 5 lần về lượt muốn cướp nước ta nhưng đều bị đánh cho tơi bởi.
Chính điều đó đã trở thành cái gai mà Trung Quốc muốn lại bỏ.
Chúng cho rằng muốn thôn tính mạnh đất phương Nam thì cần phải làm cách nào để đất phương Nam không có người tài sỏi, át phương Bắc sẽ thực hiện ý đồ của mình.
Chính vì vậy, Trung Quốc đã sắp tâm cho người chấn iểm nước ta hỏng chiếc tiêu sòng chảy tinh hoa của dân tộc Việt.
Tuy nhiên, cao nhân át có cao nhân trị, chính Trung Quốc cũng không ngờ rằng nước cờ thâm độc này của chúng lại bị Việt Nam thẳng tay chừng trị.
Những cái kết không thể đắng hơn.
Vậy ai là người chấn iểm nước ta và cao nhân nào đã xoa tay chừng trị Trung Quốc?
Hãy cùng triết lý tinh hoa đi tìm hiểu ngay sau đây.
Quý vị thân mến, mảnh đất châu cổ Pháp, nơi sinh của vua Lý Công Quản, chớ được những câu chuyện nửa hư nửa thực về việc vị cao biển sử dụng những thuật phong thủy để chấn iểm, nhằm tiêu hủy khí tượng đế vương ở nước ta.
Nơi đây cũng sản sinh ra những lời sấm truyền về việc liên ngôi của vua Lý Thái Tổ, mở ra thời kỳ cường thịnh của Đại Việt.
Cụ thể, vào thời nhà Đường ở Trung Quốc, vua Đường Ý Tâm luôn nuôi âm mưu đồ hộ nước ta mãi mãi.
Tuy nhiên, vua Đường nhận thấy vùng đất ấy, thời kỳ nào cũng có những nhân tài nổi lên.
Bởi vậy, muốn chiếm lấy nước ta, vua Đường bèn tìm cách chấn iểm linh khí của nước Nam.
Năm sắp thân, 864, để thực hiện mưu đồ của mình, vua Đường cho cao biển đến giao châu làm tiết tụ xứ.
Như vậy, cao biển là càng ngoại bang xâm lược, được phong tước hiệu, làm quan cây quản xứ giao trị.
Cao biển là người sỏi về thuật phong thủy, xem địa lý, đoán cắt khung.
Do đó, đã được vua Đường lựa chọn sau quyền cây quản nước Nam ta vào thời đó.
Trong thiền nguyện tập Anh, ghi lại rằng, trước khi đi, vua Đường dặn dò cao biển rằng,
Trương Thị là hai người đàn bà mà làm sung chuyển cả cơ nghiệp nhà Đông Hán.
Rồi lại Triệu Ấu, Lý Bôn, tức là nói về bà Triệu, Lý Nam Đế,
làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được.
Này Trẫm thấy Linh Khí An Nam quá thịnh, e sao co biến.
Canh đến đó, trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách chấn yểm Linh Khí An Nam,
đi và vẽ bản đồ về cho Trẫm.
Vâng lệnh vua Đường, khi sang tới nước ta, cao biển đã rò xét rất kỹ vị trí,
đi khắp nơi xem xét địa thế và phát hiện có rất nhiều Linh Khí ở nước Nam.
Hắn đã cho xây dựng Thành Đại La cao đến 2 triệu 6 thước,
chu vi hơn 1.982 triệu trên thành xây 55 vọng khác với nhiều điểm phòng vệ quân sự.
Để làm rào chắn cho Thành Đại La,
cao biển đã tập trung các hộ ở phê quanh với 4 vạn căn nhà.
Đồng thời, cao biển đến nước ta bỏ công đi khắp nơi,
xem xét núi non, rừng biển, sông hồ, chỗ nào vị thế tốt, có khí địa linh thì đều yểm cả.
Riêng núi tản phiên là cao biển không dám đục tới,
vì cho rằng đó là chỗ thiêng liêng của chư thần thường ngự, không thể yểm được.
Tập Cao biển địa lý tấu thư kiểu tự,
nói đến 632 huyệt chính cùng 1.517 huyệt bàng từ Ninh Bình trở ra.
Những kiểu đất này đều là đất phát nhân tài anh kiệt,
văn thì đến Tam Khôi Trạng Nguyên, võ thì đến Quận Công Xanh Tướng.
Tổng cộng là hơn 2.000 ngôi đất quý.
Ngoài tập Cao biển địa lý tấu thư kiểu tự,
Cao biển còn 1 bản tấu nữa về phong thủy là Cao biển tấu thư cựu Long Kinh.
Bản tấu này đề cập đến 27 ngôi đại địa có thể phát đến đế vương ở nước ta.
Trong 27 ngôi đất này, có những ngôi đã kết phát rực rỡ,
như ngôi đất ở Tức Mập, Nam Định, đã tạo nên một trần chiều khiển hách võ công.
Đặc biệt, trong những nơi mà Cao biển nhăm đến,
đó là châu Cổ Pháp, nơi mà sau này đã sinh ra bậc hiền phương Lý Công Quẩn.
Để chặt đứt nơi có khả năng sinh ra đế vương Trời Nam tại Cổ Pháp,
Cao biển cùng các thầy Pháp và thầy địa lý của Trung Quốc đã xa thay các đứt long mạch
bằng cách đục đứt sông Điểm và 19 nửa điểm phủ trấn để yểm.
Châu Cổ Pháp hay Khương Cổ Pháp là một đơn vị hành chính Việt Nam xưa,
thuộc huyện Đông Ngàn, Phủ Tử Sơn.
Châu này ngày nay bao gồm các làng Sương Lôi, Đình Bảng, Đại Đình và Phủ Lưa,
thuộc thị xã Tử Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Thiền sư đánh bại Cao biển, bảo vệ đế vương
Mặc dù mọi việc làm của Cao biển được thực hiện một cách hết sức kín kẽ và quy mô,
nhưng âm môn này đã bị thiền sư định không đoán biết trước.
Nói về thiền sư định không, ông Mang họ Nguyễn, người Khương Cổ Pháp,
thuộc dòng Xanh Gia Phọng Tộc.
Nhưng duyên trẻ Phật đến với thiền sư định không khá muộn.
Khi đã nhiều tuổi, trong một lần đi sự hội ở chùa Long Tuyển,
được nghe thiền sư Nam Sương giảng kinh, ông Lĩnh Ngộ Tôn Trị,
liền quý y Đạo Phật.
Thiền sư định không là một trong ba thiền sư thuộc thế hệ thứ 8 thiền phái,
tỉ ni Đa Lưu Chi, tu hành ở chùa Thiện Trúng, Khương Sịch Bảng, Phủ Thiên Đức,
khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên.
Sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở Bản Hương.
Khi xây chùa, thợ làm móng đào được một bình hương và 10 chức khánh đồng.
Sư say người đem ra sông sửa sạch, một chiếc sơ súng sông trôi liệu
mãi đến khi chạp đất mới nằm im.
Sư giải thích rằng thập khẩu là chữ cổ, thủy hướng là chữ pháp,
còn thổ là chỉ và hương ta,
nhân đó đổi tên Hương Xuyên Uẩn thành Hương Cổ Pháp.
Và có đọc hai câu thơ rằng Pháp Khí xuất hiện thập khẩu đồng chung,
Lý Hương Vương tam phẩm thành công.
Nghĩa là Pháp Khí hiện ra mười cách chung đồng,
họ Lý làm vua ba phẩm thành công.
Đây được coi là lời tiên đoán về sự lên ngôi của Lý Công Uẩn,
vị Hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam.
Vào năm 808, trước khi Cao Biển nhận lệnh vua đường sang cây quản nước ta,
Thiền Sư Định Không trước khi quy tịch đã nói với đệ tử Thông Thiện,
ta muốn mở mang Hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn,
tất có dĩ nhân đến phá hoại mạch đất của Hương ta.
Nói xong, Sư cáo biệt rồi qua đời, thỏ 79 tuổi.
Vậy là vị Thiền Sư đã tiên đoán được việc Cao Biển phá phong thủy
và việc người kế tục đệ tử của ông sẽ mang họ Đinh.
Sau này, vị đệ tử mà Thiền Sư Định Không nhắc tới chính là Thiền Sư Đinh La Quý.
Ông là vị Thiền Sư Việt Nam thuộc thế hệ 10 của Thiền Phái Tý Ni Đa Lưu Chi.
Theo dân san thì ngài La Quý là người rất thông tuệ,
nhìn xuyên sông núi, biết rõ nguồn cốc phong thủy, biết quá khứ và tiên đoán được tương lai.
Nhiều lời nói của ông được người đơn thời xem là lời xấm ngữ dự báo.
Ngày trước, Cao Biển đã xây thành bên sông Tô Lịch, dùng phép phong thủy,
biết vùng đất cổ pháp của ta có khí tượng đế vương,
nên đã nhẫn tâm đảo đất sông Điểm và khuấy động 19 chỗ trấn niềm ở phủ trần.
Thiền Sư Đinh La Quý đã khuyên khúc lãm lấp lại những chỗ bị đảo như xưa để nối lại lòng mạch.
Sau đó, vào năm 1936, thời tiết độ sướng xương đỉnh nghệ,
Sư Đinh La Quý trồng một cây hoa gạo ở chùa Châu Minh, làng Diên Uẩn, thuộc hương cổ pháp.
Đây là xã Cân Hồng, thị trấn Tử Sơn, Bắc Minh.
Việc trồng cây gạo của Thiền Sư Đinh La Quý không phải là cây bông gạo bình thường,
mà là vật để trấn an và nối liền những chỗ đất trong lòng mạch bị Cao Biển phá gãy.
Ngoài mục đích sinh ra trân mạng đế vương, trấn hương đất nước,
còn vì bực đế vương đó có thể phỏ sự chính pháp làm hưng thịnh Phật giáo.
Trước khi viên tịch, ông còn dặn lại Sư Thiền Ông.
Sau khi ta tịch, con khéo đắp một ngọn tháp bằng đất, dùng phép,
iểm dấu trong đó, chớ cho người thấy.
Dặn rõ xong, Đinh La Quý viên tịch, thọ 85 tuổi.
Sau khi trồng cây gạo, trước khi mất,
Ngài La Quý có làm một bài thơ tiên đoán như sau.
Đại Sơn Long Đầu Khỉ, Củ Vĩ Ẩn Châu Minh,
Thập Bát Tử Định Thiền, Miên Thọ Hiện Long Hình,
Thổ Cây Thử Nguyệt Nội, Định Kiên Nhật Xuất Thanh.
Nghĩa là Đại Sơn Đầu Sông Ngừng,
Đuôi Củ Ẩn Châu Minh, Thập Bát Tử Định Thành,
Bông Gạo Hiện Long Hình, Thỏ Gà Trong Tháng Chuột,
Nhất Định Thánh Trời Linh.
Bài thơ này được xem nhằm mục đích tuyên truyền
cho sự ra đời của nhà Lý vào tháng 10 năm sầu.
Sau đó nhà Lý ra đời vào tháng 10 năm kỷ sầu,
tức năm 1009, ứng với sự tiên đoán của bài thơ.
Có ý kiến cho rằng bài thơ do thế
có thể được sáng tác trước lúc Lý Công Quần lên ngôi không lâu.
Cây gạo ông chồng sau này trở thành một sinh vật đặc biệt
đắn điền với lịch sử Việt Nam.
Năm 1009, cây gạo bị xét đánh nhưng không chết.
Tại chỗ xét đánh trên thân cây có bài thơ sấm,
làng Diên Quẩn, Cổ Pháp còn gọi là làng Dương Lôi hay Đình Sấm.
Bài thơ được giải mã mang nội dung tiên đoán đúng
các sự kiện trong lịch sử Việt Nam.
Vua Lý Công Quẩn là người làng Cổ Pháp.
Khi ông lên ngôi đã suy hộ Phật Pháp,
dùng Phật Pháp để sao hóa môn dân,
khiến đạo đức thăng hoa, xã hội ổn định.
Kể từ đó, Đại Việt hùng mạnh, mở ra thời kỳ thịnh trị.
Cây gạo bị bão đánh đổ năm 1966,
tức sau một nghìn không trăm ba mươi năm tồn tại.
Vào thời nhà Lý, Đại Việt bị kẹp giữa gọng kìm
bởi Liên minh Tống Chiêm.
Thế nhưng nhà Lý không chỉ giữ vững Giang Sơn
mà còn có những cuộc Nam Bắc Tiến,
phá tan gọng kìm Liên minh Tống Chiêm.
Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông cùng danh tướng Lý Thường Kiệt
dẫn quân Nam Tiến đánh Chiêm Thành,
Chiếm Thành và bắt sống Vua Chiêm.
Lấy tấn công để phòng thủ,
năm 1075, Lý Thường Kiệt đưa quân Bắc Tiến đánh sang đất Tống.
Quân Đại Việt chiếm nhiều châu trại trên đất Tống
như Khâm Châu, Liêm Châu, Lộc Châu, Bạch Châu, Ung Châu.
Quân Tống đại bại, hàng chục tướng nhà Tống bị tử trận.
Nối tản phiên, trốn linh thiêng của đất Việt
mà cao biển không sám độc đánh.
Ở phía trên, chúng tôi có đề cập đến một chi tiết
đó là dù cao biển đi khắp nơi trấn yểm
nhưng có một nơi mà hắn tuyệt nhiên không sám đụng vào
đó chính là nối tản phiên.
Vậy, nối tản phiên nằm ở đâu?
Còn bí ẩn gì đằng sau sẽ nối linh thiêng ấy?
Trong tiếng ngưỡng tâm linh dân san,
Việt Nam có 3 tổ là địa tổ, thủy tổ
và sơn tổ là nối ba vỉ.
Ở sơn tổ có một ngôi đền thờ sơn tinh gọi là đền thượng.
Xe nối ba vỉ có diện tích không rộng
nhưng khá cao và độ sốc lớn.
Nối có 3 ngọn nằm trên một khối
bao gồm đỉnh phua cao 1.296m,
tản phiên cao 1.281m
và ngọc hoa cao 1.120m.
Gắn với truyền thuyết sơn tinh.
Mặc dù tên nối là ba vỉ
nhưng sơn san gọi là nối tản phiên.
Trong sư địa chí, cuốn sách được Nguyễn Trãi Soạn
trong 10 ngày làm giáo chỉnh dệ phua Lê Thái Tông
có viết rằng nối tản phiên ấy
là nối chủ của nước Nam ta đó.
Hình thế của tản phiên vô cùng độc đáo,
khác hẳn với các quả nối ở Đại Việt.
Theo sách Lĩnh Nam Chiết Quái
của Trần Thế Pháp, đời nhà Trần,
thì nối tản phiên nằm ở phía tây kinh đô nước Nam Việt,
lên cao nối thắt lại rồi xòe sai như cây ô
nên có tên là tản phiên.
Nối sừng sững trắng lệ,
ba đỉnh đứng sàn hàng,
cao phút như trong bức họa
và sơn tinh liền lên tận đầu ngọn vất mộng,
tức là tên ban đầu của tản phiên,
mờ lê đó làm nơi cư ngụ.
Sách Lĩnh Nam Chiết Quái kể rằng
thế kỷ thứ 9 thời Pháp thuộc,
Cao Viền, một tướng tài của nhà đường,
am hiểu và cực sỏi phong thủy,
từng dùng thuật chấn yểm ở chân nối tản phiên.
Để đạt được mục đích,
Cao Viền dùng diệu kế quen thuộc.
Ông ta cho khiên kiệu đến chân nối
để dụ sơn tinh ra bằng chiêu thức
vẫn sử dụng, tức là dùng cô gái đồng trinh
chuẩn bị mâm cỗ để mời thần linh,
sau đó sẽ chém đầu cô gái,
cũng là giết chết sơn tinh.
Nhưng lần này, sơn tinh lợi hại ở chỗ
đã hóa thân thành mây ngũ sắc,
chuẩn bị nhập vào cô gái lại bay lên.
Nhìn lên trên cao,
Cao Viền thấy rõ sơn tinh vén mây ra
và nhổ xuống mâm cỗ một bãi nước bọt.
Mưu gây bất thành,
Cao Viền chỉ còn biết than rằng
chỗ này thần linh rất thiêng,
nước ta không trừ được,
tất cả ngày ta phải cuốn gói về nước thôi.
Cao Viền không biết
tàn viên chính là điểm khởi phát
của trục long mạch thần đạo.
Trong quan niệm tâm linh của Phương Đông
thì sơn bất tại cao,
hữu thần tắc linh,
nghĩa là nối không phải chỉ so cao,
cứ có thần là nối thêm.
Từ quan niệm đó có thể dễ dàng cắt nghĩa
vì sao tàn viên thấp hơn nối tam đảo,
nhưng dân gian lại nói
nhất cao là nối tàn viên,
thứ ba tam đảo,
thứ nhì độc tôn.
Vì thiêng nên sức lan tỏa
của tàn viên Sơn Thánh rất rộng lớn,
bởi thế dân gian mới xếp thánh tàn
đứng đầu trong 4 vị thánh bất tử
ở Việt Nam gồm thánh tàn viên,
thánh gióng, chữ đồng tử
và mẫu liễu hạnh.
Không biết tàn viên Sơn Thánh
lưu truyền trong tâm thức dân Việt từ bao giờ,
nhưng trong Đại Việt Sử ký Toản Thư
có thông tin về nối tàn như sau.
Vào năm 1073,
trời mưa lớn liên tục,
vì vậy Hoàng đế Lý Nhân Tông
đã cho xuất tự phật từ chùa Pháp Vân
về Kinh Đô để cầu mưa tạnh.
Hoàng đế cũng cho
cú thần nối tàn viên.
Năm 1449,
hạn hán diễn ra nhiều nơi,
mất mùa dân đói kém,
nên Vô Lê Nhân Tông đã sai
ham chi bùi cầm hổ,
lễ vộ lăng trung Nguyễn Cảnh
đi cầu xảo ở núi tàn viên.
Khi núi tàn viên bị lở,
Vô Lê Kinh Tông cho chép
vào Đại Việt Sử ký Toản Thư.
Điều đó cho thấy tàn viên
là vùng nối địa linh mang tầm quốc gia.
Thậm chí,
khi con trai của Lê Quý Đôn
là quý kiệt sự kỳ thi
năm 1775,
ngoài nhờ đình chung làm bài hộ,
Lê Quý Đôn còn tán trộm mả tổ
ở cấm địa tại xương phận tàn viên.
Chiều Nguyễn,
đời phu minh mạng sai đúc cửu đình
làm biểu tượng cho uy thế
và sự bền vững của phương chiều
đã cho khắc hình núi tàn viên
vào thuần đỉnh,
cao 2,32m,
nặng 1950kg,
cùng với cửa Cần Giờ
nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh
và sông Thạch Hãn nay thuộc tỉnh Quảng Trị.
Năm 1850,
tàn viên Sơn Thánh
còn được vô tự đức lưu vật biển lễ
tí tự của quốc gia.
Núi tàn viên không chỉ thiêng
ở nước Việt,
mà tiếng tâm còn bay sang cả phương Bắc.
Đại Việt sử ký toàn thư
có chép. Năm canh tuất,
thiện khánh năm thứ một.
Mùa xuân, tháng riêng,
vua Minh tự làm bài
trúc văn sai xiêm nguyên phục.
Đạo sĩ cung chiều thiện
đem lễ lại chầu và lụa
đến đế thần núi tàn viên
và thủy thần sông Lô.
Kỳ bí trấn yểm sông Tâu Lịch
của cao biển.
Sông Tâu Lịch,
một con sông gắn liền với
khuyển sử linh thiêng
và rất nhiều sai thoại ly kỳ.
Đặc biệt, năm 2001,
đội thi công xây dựng đã phát hiện
các cọc gỗ đóng dưới lòng sông
xếp theo hình bát quái.
Và từ đó đến nay, câu chuyện
về trấn yểm long mạch sông Tâu Lịch
đã trở thành bí ẩn mà chưa có lời giải đáp.
Ngày hôm nay,
chúng ta hãy cùng ngược sòng thời gian
để tìm hiểu về những bí mật ly kỳ
về việc trấn yểm sông Tâu Lịch
của cao biển.
Mảnh đất kinh kỳ Thăng Long
là nơi có hình thấy sông Tụ Núi Chầu,
cũng là một phần của long mạch
Ái Châu.
Bắt đầu từ dễ núi Himalaya,
chạy vòng vèo như một con sồng lớn,
mãi cho đến dãy khoảng Liên Sơn
với đỉnh Phan Xi Phăng, xuống đến Việt Trì
rồi lặn xuống,
sau đó lại tỏa ra và trốn lên ở Ba Vị.
Nhìn tổng thể,
địa mạch Việt Nam
có cấu trúc âm sương hoàn chỉnh,
nối liền các đỉnh núi cao
đi qua Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình
tới Ba Vị, qua cầu Hàm Sồng,
dọc theo sông Lam và núi Hồng Lĩnh
đổ ra biển.
Đây là nhánh bạch hổ mang hành khí âm.
Tiếp theo,
lại nối liền các đỉnh núi cao
đi qua Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình
tới Đan Đảo, dọc theo sông Tâu Lịch
rồi vòng qua Cổ Loa,
kéo dài tới sông Thái Bình,
đi qua dãy Yên Tử và theo hướng Đông Bắc
ra tới Quảng Ninh
và chìm xuống ở Vịnh Hạ Long.
Đây chính là nhánh thanh long
mang hành khí sương.
Hai nhánh thanh long và bạch hổ
tạo thành thế Long Chầu Hổ Phục
giúp Thăng Long trở thành nơi địa mạch
trọng yếu của trời Nam.
Hơn 1.000 năm trước, khi Lý Thái Tổ
sửa kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La,
nhà vua đã nhận xét rằng
Thăng Long là nơi trung tâm trời tất
được thấy sông Cuộn Hổ Nguồi
chính giữa Nam Bắc Đông Tây
tiện nghi núi sông sau trước.
Như vậy, sông Tâu Lịch
nằm trên nhánh thanh long
hơn nữa lại ở vị trí trọng yếu
bảo vệ cho kinh thành.
Long mạch này mang theo phượng khí cực thịnh
tạo thành thế đất sống bay
xứng đáng là đệ nhất
đại khuyết mạch, là đế vương quý địa.
Chính vì Long mạch này
mà năm xưa Bậc Thầy Phong Thùy Cao Biển
đã phải nhiều lần khổ sụng tâm trí
để tìm cách chấn yểm.
Cao Biển sinh năm 821
là một tướng lĩnh giới đời
Biển không chỉ là một tướng tài
mà còn là Bậc Thầy về phong thủy.
Tương truyền, Cao Biển dùng
rất nhiều sắt, đồng, vàng và bạc
để chấn yểm những vị trí trọng yếu
dọc theo sông Tâu Lịch.
Vì sao lại chọn sông Tâu Lịch
để chấn yểm?
Cách làm như thế nào?
Chấn yểm có thể làm phong bế
hoặc ngăn chặn đường đi của nguyên khí
trong long mạch.
Phong thủy học cho rằng
nguyên khí cũng giống như hệ thống
tinh mạch trong đông y.
Khí gắn bên nước, nước giúp khí di chuyển.
Nước đi thì khí cũng đi,
nước dừng thì khí cũng dừng.
Sinh khí mạnh nhất
là ở nơi sao hội của nước,
nhất là nơi các dòng sông hội tụ.
Vị trí được coi là nơi Cao Biển
chấn yểm cũng là ngã ba sông,
tức điểm sao hội của sông Tâu Lịch
và sông Thiên Phủ.
Sách Lĩnh Nam Trích Quái
có ghi chép đại ý rằng
năm hàm thông thứ sáu
vua đường Ý Tông sai Cao Biển
làm đô hộ tướng quân,
đem binh bánh quân Nam Chiếu.
Biển thắng trận trở về
và được vua phong cho làm tiết độ xứ
đất An Nam.
Không lâu sau khi đặt chân lên đất An Nam,
Cao Biển đã có ý định xây thành đại la
để phòng thủ.
Cao Biển xem xét hình thế đất,
thấy các sông khác đều chạy theo
về hướng Đông Nam,
nhưng riêng có một dòng sông con
từ Lâu Sang lại chảy ngược
theo hướng Tây Bắc.
Có lần, Cao Biển cưỡi thuyền đi trên sông,
bỗng thấy một cụ già sâu tóc bạc phơ,
sung mạo, sị kỳ
đang tắm ở giữa sông.
Biển hỏi họ tên cụ già đáp,
ta họ Tô, tên Lịch.
Biển lại hỏi nhà cụ ở đâu?
Cụ già nói
nhà ở trong sông này.
Rất lời, cụ già đập tay xuống
làm nước bắn tung mù mịt
rồi biến mất.
Biển biết là thần,
bèn đặt tên sông là Tô Lịch.
Một buổi sớm khác,
Cao Biển ra đứng ở bờ sông Lâu Sang
phía đông Thành Đại La,
bỗng một trận gió lớn nổi lên
sau nước cuộn cuộn, mây trời mù mịt.
Sau đó xuất hiện một sĩ nhân
đứng trên mặt nước,
thân cao hơn 2 trường,
mình mặc áo vàng,
đầu đội mũ tím,
tay cầm hốt vàng,
rực rỡ một khoảng trời,
chập trơn lên xuống trên khoảng không.
Mặt trời cao 3 con sào,
khí mây hãy còn mù mịt.
Cao Biển thấy Tinh Hãi
có ý muốn iểm thần.
Đêm hôm ấy nằm mộng,
có thần nhân tới nói với Cao Biển rằng
Chớ iểm ta,
ta là tinh ở Long Đỗ,
đứng đầu các địa linh.
Ông xây thành ở đây,
cho nên ta tứ xem đó thôi,
nào ta có sợ gì bù phép.
Biển Tinh Hãi
sáng hôm sau bày lập đàn miệng trú,
lấy kim đồng thiết phủ để iểm.
Đêm hôm ấy,
xấm động ẩm ẩm,
xó mưa rậm rật, đất trời u ám,
thần tướng hò xeo làm kinh thiên động địa,
khiến kim đồng thiết phủ
bật xa khỏi đất,
biến thành cho tàn, bay trên không.
Biển càng Tinh Hãi hơn than rằng
Sứ này có thần linh sĩ,
ta ở lâu tất chút lấy tai vạ.
Thành Đại Lan sau cao biển xây dựng
rất uy nghi bể thế.
Nhưng việc xây thành không được thuận lợi,
đoạn gần sông Tô Lịch liên tục bị sụt lở
và đã phải xây đi xây lại nhiều lần.
Cao biển bèn xạo một vòng
đến vị trí sụt lở
để tìm hiểu nguyên do.
Khi lấy phương vị bắt khoái ra đố chiếu,
biển sật mình nhận ra
vị trí từ tâm thành đến chỗ sụt lở
chiếu thẳng về hướng núi Tàn Tiên.
Thì ra, nguyên nhân chính là
do lòng mạch từ núi Tàn
dẫn thẳng về Tô Lịch,
chẳng những khó có thể xây thành
mà về sau, đất này sẽ còn
nhiều nhân tài kiệt suất nổi lên sương bá,
sương phương, sánh ngang với
đường triều ở Bắc Quốc.
Là bậc thầy phong thủy,
Cao biển sớm nhận ra rằng khởi nguồn của
lòng mạch nước Nam là từ khu vực
núi Tàn Tiên. Sau đó,
Tàn Tiên còn được gọi là Tổ Long Sơn.
Lòng mạch chạy từ núi Tàn Tiên
dọc theo hình thế đất đến sông Tô Lịch,
rồi vòng quanh thành Đại La.
Sau đó, điểm chấn Long Việt
nằm trong lòng sông Tô Lịch.
Biển bên sông bắt quái tiên thiên đổ
lập trận chấn yểm,
làm con sông không cựa được và bị sam
trong đất. Như vậy, đất sẽ
cứng hơn và việc xây thành
mới có thể thực hiện.
Cao biển không chỉ chấn yểm dưới lòng sông
mà còn dùng nhân chấn hai bên bờ
làm âm binh. Tương truyền,
Cao biển đã lấy 100 hạt đỗ
và 100 nén nhang nhờ bà cụ
bán hàng nước ở bờ sông,
mỗi ngày gieo 1 hạt đỗ và thắp 1 nén nhang
để nuôi âm binh.
Bà lão không hiểu nên Vân lại làm theo.
Đến đêm thứ ba,
bà lão nằm mơ thấy Vị Thánh mặt mũi
phương phi, tay cầm gậy trúc đến gặp
bà và nói,
Con có biết con đang làm gì không?
Bà cụ ngơ ngát,
Dạ thưa không?
Vị Thánh lại nói, con làm như vậy
là đã giúp nuôi âm binh cho Cao biển.
Muốn hóa giải,
con ấy mang xuống hạt đỗ còn lại
vào một cái hố rồi đổ hết xuống đó.
Sau đó, con đốt tất cả xuống nhang còn lại
và cắm lên trên.
Bà cụ làm theo lời dặn
rồi thu xếp đồ đạc trốn đi.
Ba ngày sau,
Cao biển xa vừa sông thì không còn thấy bà cụ nữa.
Nhìn xa nơi gieo đỗ
thì thấy những hạt đỗ mọc lên
cong queo, yếu ớt.
Từ đó, dân san mới có câu,
lẩy bẩy như Cao biển dậy non.
Lại nói về chuyện trấn niềm
dưới lòng sông,
có nhà phong thủy học cho rằng
Cao biển đã dùng lục quyết trấn,
gồm, độc trấn, tam trấn,
tứ trấn, ngũ trấn,
bát trấn, cửu trấn
và dùng tứ yểm trấn bao gồm
nhân trấn, kim trấn,
thạch trấn, mộc trấn để trấn yểm sông Tâu Lịch.
Sau đó,
trong trận đồ có các loại hỗ quý như,
hỗ xưa, hỗ vàng tâm,
hỗ ngọc am, các loại đá quý như,
đá trắng, đá xanh,
các loại kim loại quý như,
vàng, bạc, đồng.
Sau, biển lại nuôi âm binh
dọc hai bên bờ sông
và trôn theo các loại vật dụng sinh hoạt như
bát, đĩa,
kim tiền, đao, kiếm
cho âm binh sử dụng.
Đến năm 2001,
nghĩa là hơn 1.000 năm sau,
độ thi công xây dựng tiến hành kẻ bờ
và nạo vét đoạn sông Tâu Lịch
thuộc làng An Phú, phường Nghĩa Đô,
quận Cầu Giấy, Hà Nội,
nơi xưa kia vốn là thôn Đoài Môn,
cửa phía tây thành Đại La.
Tại đây, độ thi công đã phát hiện
các cọc hổ bố trí theo hình bắt quái.
Lại có nhiều bộ hải cốt
cùng các di vật cổ.
Trong đó có rất nhiều xương động vật
như voi, ngựa, châu,
hơn 100 cái liễn lớn nhỏ vàng sành,
nhiều đồ gốm, đồ sắt,
đồ dùng như là bát đĩa,
dao, liềm, kim khâu.
Một số mảnh gốm men ngọc đã bị vỡn
và rất nhiều đồng tiền cổ hình tròn
có lỗ vuông.
Sau khi nhiều cọc hổ và an tán
các vụ hải cốt Linh Nghĩ Trang bất phạt,
đã xảy ra rất nhiều hiện tượng kỳ lạ.
Ví dụ như
máy xúc Komatsu tự nhiên lao xuống sông,
các công nhân xây dựng
đang khỏe mạnh bỗng ngã lăn ra đất,
chân tay co súng, cứng đở
và mất ý thức trong nhiều sở liện.
Thân nhân gia đình của những công nhân
trực tiếp ngụp lặn vớt hải cốt
và nhổ cọc dưới lòng sông
cũng gặp các tai nạn thảm khốc.
Sự việc lên tới đỉnh cao
khi mà có tới, 43 công nhân
đã bỏ không làm việc ở công trường nữa.
Nhiều người cho rằng
tai nạn xảy ra chỉ là ngẫu nhiên.
Những người không tin vào phong thủy
còn nói rằng trấn yểm chỉ là điều
nhả nghĩ. Nhưng cũng không ít
người than rằng đó là so phạm
vào trận độ trấn yểm của cao biển năm xưa.