Các bạn thân mến, trong suốt 10 thế kỷ của chế độ phong kiến Việt Nam, hiếm có vị vua nào lãnh đạo đất nước và chống giặc ngoại xâm đã để lại một di sản văn hóa kỳ vĩ như vua Trần Nhân Tông. Ông đã trở thành một trong 14 vị vua của nước Đại Việt. Vua Trần Nhân Tông có công rất lớn trong việc tạo dựng nên một triều đại thịnh trị kéo dài gần 2 thế kỷ, từ năm 1226 đến năm 1400. Trong video ngày hôm nay, các bạn hãy cùng Chân Dung Lịch Sử tìm hiểu rõ hơn về vua Trần Nhân Tông với những đóng góp và cống hiến của ông cho dân tộc Việt Nam.
----------------★★★★★---------------- 🚩 Cảm ơn các bạn đã ở đây! Nếu thấy hay các bạn hãy ủng hộ CHÂN DUNG LỊCH SỬ bằng cách like, comment và share, đừng quên đăng ký kênh để xem những video hấp dẫn tiếp theo nhé! ----------------★★★★★----------------
Các bạn thân mến! Trong suốt 10 thế kỷ của chế độ phong kiến Việt Nam,
hiếm có vị vua nào lãnh đạo đất nước và chống dọc ngoại xâm
đã để lại một di sản văn hóa kỳ vĩ như vua Trần Nhân Tông.
Ông đã trở thành một trong 14 vị vua của nước Đại Việt.
Vua Trần Nhân Tông có công rất lớn trong việc tạo dựng nên một triều đại thịnh trị
kéo dài gần 2 thế kỷ, từ năm 1226 đến năm 1400.
Trong video ngày hôm nay, các bạn hãy cùng chân dung lịch sử tìm hiểu rõ hơn về vua Trần Nhân Tông
với những đóng góp và cống hiến của ông cho dân tộc Việt Nam.
1. Trước tiên, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về thân thế của vua Trần Nhân Tông.
Vua Trần Nhân Tông vốn có tên thật là Trần Khâm.
Ông sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258, nhân hiệu Thiệu Long năm thứ nhất.
Ông cũng chính là con trai trưởng của vua Trần Thánh Tông,
cùng với Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Hậu Trần Thị Thiều.
Đại Việt sử ký toàn thư có mô tả rằng,
vua Trần Nhân Tông ngay từ khi sinh ra đã có được sự tinh anh thánh nhân,
thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, cùng với thể chất hoàn hảo và thần khí tươi sáng,
nên đã được vua cha và ông nội là Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông
gọi ông với cái tên ưu ái là Kim Tiên Đồng Tử.
Trần Khâm ngay từ khi còn nhỏ đã được dạy rõ kỹ lưỡng về hệ thống tư tưởng Phật lão nhò,
đồng thời ông cũng đã có những am hiểu tường tận giáo pháp nhà Phật.
Không những thế, ông còn đạt được trình độ cao với các lĩnh vực như quân sự,
ân nhạc, lịch số học và thiên văn học.
Bước sang năm 1274, khi Trần Khâm được 16 tuổi,
ông được vua Trần Thánh Tông chỉ định làm thái tử để nối ngôi.
Theo sách Thánh Đăng Ngữ Lục, vốn là một tác phẩm khuyết danh
về sự nghiệp tu Phật của năm đời vua đầu thời Trần.
Được viết vào khoảng thế kỷ 14,
thì Trần Khâm đã có nhiều lần từ chối ngôi vị thái tử cao quý
và thuyết phục vua cha Trần Thánh Tông lập em ông lên thay,
nhưng đã không được vua cha chấp thuận.
Thậm chí đã có lần, Trần Khâm định trốn lên núi Yên Tử để ẩn tu,
khiến cho vua Trần Thánh Tông phải sai quan quân đi tìm và thỉnh cầu ông với Kinh Đô.
Trần Khâm từ đó đành chấp nhận ngôi thái tử,
tuy nhiên ông vẫn luôn duy trì nếp sống thanh tịnh trên tinh thần Phật giáo.
Trong cuộc sống hàng ngày,
ông cũng dành nhiều thời gian đàm đạo với thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ
tức Hưng Đình Vương Trần Quốc Tung,
anh họ của Trần Thánh Tông và tôn xưng vị này làm thầy của mình.
Ngày 8-11-1278, thái tử Trần Khâm đã được vua cha chuyển ngôi,
ông tự xưng làm Hiếu Hoàng đồng thời lấy niên hiệu là Thiệu Bảo vào mùa xuân năm 1279.
Vua Thánh Tông khi đó đã lên làm thái Thượng Hoàng
và cùng trị vị với vua Trần Nhân Tông cho đến khi mất vào năm 1290.
Tràm suốt thời trị vị của mình,
vua Trần Nhân Tông đã sử dụng hai niên hiệu là Thiệu Bảo và Trung Hưng.
Sau khi lên ngồi, ông đã đưa rất nhiều chính sách khoan hòa, thân dân.
Vua đã lấy tầm đức để trị vị quốc gia Đại Việt.
Tràm lo cho dân chúng và xây dựng đất nước hòa bình, thịnh vượng.
Đức vua Trần Nhân Tông cũng được biết đến là một ông vua anh minh,
nhân dân hết lòng yêu mến,
lại có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của đất nước vào cuối thế kỷ 13.
Vua Trần Nhân Tông đã trở thành một trong 14 vị vua tiêu biểu của dân tộc Việt Nam,
mà cho đến ngày nay vẫn được người đời kính trọng.
2. Trần Nhân Tông, một vị vua sáng
Vua Trần Nhân Tông được sinh ra khi quân và dân nước Đại Việt ta
đã hoàn thành cuộc chiến đấu chống quân xâm lượng mong nguyên lần thứ nhất năm 1258.
Khi ông lên ngôi, cũng chính là thời điểm nhà Trần đã qua hai triều vua dựng nghiệp.
Đất nước đang bước vào thời kỳ thịnh trị.
Tình hình kinh tế nông nghiệp cũng có nhiều điều kiện phát triển.
Luật pháp, thi cử, học hành đều đã vào nề nếp và cũng có quy củ.
Thế nhưng lúc bấy giờ, hoa ngoại xâm lại ùa tới.
Nhà Nguyên tiêu diệt nhà Tống và bắt đầu nhòm ngó xuống vùng đất Đại Việt.
Chỉ trong vòng 4 năm đã có 2 cuộc xâm lăng dữ dội và đầy khốc liệt.
Lần thứ nhất là vào năm 1285 và lần thứ 2 là vào năm 1287-1288.
Chỉ nghe tiếng giặc mạnh, nhiều tương lĩnh của nhà Trần đã khiếp vía ra hàng.
Quân nguyên mong lừng lẫy khắp Á-Âu, đủ các binh chủng thủy bộ
và đặc biệt có đội kỵ binh rất tình nhuệ.
Chúng đưa mệnh danh là bách chiến bách thắng.
Vó ngựa mông cổ đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đấy.
Mỗi cuộc xâm lăng, chúng đều huy động một đội quân vào khoảng 30-50 vạn.
Đó quả là một con số khủng khiếp.
Mặc dù khi đó có Thái Thượng Hoàng, Trần Thánh Tông bên cạnh cùng gánh vác
và hỗ trợ mọi công việc, thế nhưng trạm trách chính chỉ đạo của kháng chiến chống ngoại xâm
vẫn dồn lên vai vị vua trẻ Trần Nhân Tông.
Lịch sử còn ghi lại rằng, vào tháng 8 năm Nhâm Ngọ, tức năm 1282,
khi nghe tin 50 vạn quân do toa đô chỉ huy sử dụng kế giả đồ phạt quắc
lấy cớ muộn đường đi đánh Chiêm Thành để thôn tính Đại Việt,
vua Trần Nhân Tông khi ấy đã chủ động tổ chức hội nghị bình than.
Đây là hội nghị của các vương hầu, tướng lĩnh nhà Trần cùng nhau bàn kế sách chống giặc.
Địa điểm tổ chức bình than là giữa sông Thiên Đức,
gần lục đầu sang ở vị trí xa Kinh Thành để tránh mọi tai mắt của giặc.
Tại hội nghị bình than, mặc dù là vị vua trẻ,
nhưng phong thái của vua Trần Nhân Tông tỏ ra vô cùng đánh đạc lại có tầm nhìn sâu rộng.
Bên cạnh đó, để nói về tài biết cách dùng người và tính đức độ bao dung khoáng đạt
của vị vua trẻ Trần Nhân Tông thì không thể không nhắc tới việc chậm dụng Trần Hưng Đạo.
Bấy giờ giữa dòng trưởng của Trần Hưng Đạo và dòng thứ của vua không phải là không có hiểm khích.
Trần Hưng Đạo là con trai của Trần Liễu,
tức là dòng trưởng đã không được làm vua mà ngược lại trong nhiều chuyện còn bị xử ép và cũng từng nổi loạn.
Vậy mà vua Trần Nhân Tông vẫn chậm dụng,
lại còn giao phó cho quốc tuấn trọng trách quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội.
Đáp lại ân sủng và sự tin tưởng của nhà vua,
quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ tình riêng,
dần hiến hết tài năng quân sự của mình phục vụ cho đất nước.
Và cũng tại hội nghị bình than, chỉ thoáng thấy bóng thuyền của Trần Khánh Dư,
một tướng tuy lắm tài nhưng cũng nhiều tật,
bị phạt tội vì kiếm sống bằng người bán than lướt qua nơi tổ chức hội nghị bình than.
Mà vua Trần Nhân Tông liền ra ngay lệnh chỉ,
tha tội cho Trần Khánh Dư rồi gọi ông vào họp,
sau đó ra cho chức phó đô tướng quần.
Lịch sử cũng ghi sự kiện hiển hách về tinh thần dân chủ cởi mở
của vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông khi tổ chức hội nghị riêng hầm.
Có thể coi đây chính là hành động trưng cầu dân ý về một sự kiện trọng đại của đất nước.
Khi biết tìn thoát hàn sắp đưa quân chủ lược tấn công Đại Việt,
để biết bao khi chứng kiến hình ảnh Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toàn bóp nát quả cam
ở bên lề hội nghị bình than và muôn người như một đồng thanh hô tiếng đánh ở hội nghị riêng hầm.
Chính lỏng vua tôi, tướng lĩnh và quân dân như một ấy
đã làm nên một phòng thái đỉnh đạc của Trần Hưng Đạo
khi trả lời câu hỏi của vua Trần Nhân Tông nhận định
về tình hình cuộc chiến sắp xảy ra ở cuộc chiến chống Nguyên Bông lần thứ ba.
Năm nay, đánh giặc nhán.
Còn với vị vui trẻ Trần Nhân Tông, khi đứng trước thế giặc mạnh,
tấn công ta ở cả hai phía, từ phía Bắc và phía Nam, từ Chiêm Thành sang,
mặt trận khâu cấp, nội bàng đã tan vỡ và đại quân Trần vẫn lui về vạn kiếp.
Trên con thuyền chạy ra hải đông tránh mũi rùi tấn công của giặc,
nhiều tướng lĩnh thua trận đã phải đầu hàng giặc.
Vậy mà ông vẫn ung dung tự tin.
Vua Trần Nhân Tông đã trở thành linh hồn của xã Tắc
giữa giờ phút treo leo đứng bên bờ vực thảm.
Đây là câu thơ của vua Trần Nhân Tông tự tay viết lên mạng thuyền.
Cối kê cựu sự quân tu ký, hoan diễn do tổn thập vạn bình.
Mượn sự tích một ngàn quân còn lại trên núi cối kê của Việt vương cầu tiễn
và đánh bại quân ngô dưới thời chiến quốc.
Đồng thời vua Trần Nhân Tông cũng khách lệ tướng sĩ của mình rằng
vùng hậu phương thanh nghệ lực lượng hiện vẫn chưa suy chuyển
và sẽ sẵn sàng đánh tàn quân đội nguyên mông.
Và hào sảng với câu thơ ngày khải hoàn
khi vua nhìn thấy ngựa đá ở lăng tầm của ông nội.
Xã Tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Tấm lỏng bao dùng hiếm có của vua Trần Nhân Tông và thượng hoàng Trần Thánh Tông
cũng thật hiếm có khi đã không truy cứu những người nao núng viết thư đầu hàng giặc.
Tháng 3 năm 1301,
vua Trần Nhân Tông sang Triêm Thành và đã ở lại đây gần một năm.
Việc ngoại giao nhằm gắn kết tình thân giữa hai dân tộc,
ổn định phương Nam,
đề phòng sự xâm lược một lần nữa của nhà Nguyên
đã được ông thực thi bằng một hành động khôn khéo
là gả công chúa Huyền Trân cho vua Triêm là Chế Mân vào năm 1306.
Đáp lại tấm chân tình đó,
Chế Mân đã nhượng lại hai châu Âu và Lý cho Đại Việt và đổi thành hai châu Thuận Hóa.
3. Một thi sĩ, một thiền gia
Tương truyền, vua Trần Nhân Tông là tác giả của nhiều tập thơ, sách.
Thế nhưng cho đến ngày nay, các tác phẩm trên đều đã bị thất lạc.
Chỉ còn lại 32 bài thơ, vệ chép, Tròng Thánh Đang Ngữ Lục,
Thiền Tông Bản Hạnh, An Nam Trí Lược, Nam Ông Mộng Lục,
Việt Âm Thi Tập, Toàn Việt Thi Lục
và 3 phiến đoạn trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cùng với An Nam Trí Lược.
Qua những bài thơ còn lưu truyền lại, cũng đủ cho chúng ta thấy được tầm vóc
của một thi nhân lừng lẫy của văn học nước ta dưới thời Lý Trần.
Nhiều bài thơ cũng đã thể hiện được tư tưởng, tâm hồn của một nhà thiền.
Ngay từ nhỏ, vua Trần Nhân Tông đã có ý muốn xuất ra.
Ông Tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ làm thầy của mình.
Ông từng muốn Phụ Hoàng nhường ngôi vị thái tử cho em để xuất ra
nhưng không được vua cha đồng ý.
Có thời gian ông đã quá mải mê với việc giữ rỉn giới luật đến nỗi mặt võ mình gầy.
Vua Trần Thánh Tông thấy vậy phải nhắc.
Chợm này đã giả yếu rồi, chỉ trông mong vào một mình con.
Nếu con như thế này thì công nghiệp lớn của tổ tông rồi sẽ ra sao?
Chính những lời nói của cha như vậy đã làm cho ông suy nghĩ lại
và để tâm đến việc nắm giữ ngôi báo cũng như công việc trị quốc.
Khi đất nước đã được thanh bình, ông đã nhường ngôi cho con để đi tu
nhưng vua Trần Nhân Tông vẫn đau đáo về chuyện thế sự.
Khi vua Trần Anh Tâm say rượu và bỏ bê chuyện chính sự
ông còn triệu tập quần thần về thiên trường định bàn chuyện phế lập vào năm 1299.
Ông kiên trì gây dựng một hệ phái Phật giáo thống nhất trong cả nước
cả về mặt tổ chức, giáo lý hay cách thức đào tạo, chuyển nối.
Ngoài ra còn có chủ trương tách sinh hoạt tôn giáo ra khỏi sinh hoạt chính trị.
Mở ra cho Phật giáo một không gian tâm linh thoáng đẳng, tự do ở nơi rừng núi
mà không bị quyền lực nhà nước tri phối.
Ông lấy cả một vùng yên sinh yên tử để làm nơi quý tụ.
Vua Trần Nhân Tông đã trở thành người sáng lập ra Phật phái Trúc Lâm Yên Tử
là một Phật phái mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
Cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi.
Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại các bạn trong những video tiếp theo.