Những thương hiệu Việt vang bóng một thời – Phần 1

Mai Thêu
518 người theo dõi
Những thương hiệu Việt vang bóng một thời, phần một
Trong những năm 80-90, Việt Nam có rất nhiều những thương hiệu quen thuộc,
thống lĩnh thị trường như Jim Thống Nhất, kem đánh răng giả lan, xe đạp Thống Nhất, Cao Sao Vàng.
Tuy nhiên, khi đất nước mở cửa, các thương hiệu hòa nhập trang vào,
thì cũng là lúc những doanh nghiệp nổi ngày nào đã bị lép vế, mất dân thị phần, thậm chí phải đóng cửa vĩnh viễn.
Giờ đây, những doanh nghiệp nổi may mắn tồn tại thì cũng đang phải gồng mình cạnh tranh
Jim Thống Nhất, cái kết buồn của thương hiệu 63 năm rực sáng
Nhà máy Jim Thống Nhất ra đời năm 1956. Những ngày đó đất nước còn khó khăn,
bếp ga hay bếp điện vẫn chưa xuất hiện, bật lửa cũng chưa phổ biến.
Thế nên những bao Jim Thống Nhất loại 82 que, giá 100 đồng,
có hình hình chú chim một câu trắng ngậm bông hoa đỏ,
đã trở thành vật dụng không thể thiếu trong mỗi gia đình.
Jim Thống Nhất có mặt trong hầu hết các cửa hàng tạp hóa, quán cà phê.
Khi còn hoạt động dưới thời kỳ bao cấp, Jim Thống Nhất gần như nắm giữ 100%
thị phần Jim tạo lửa tại thị trường phía Bắc. Không những thế, nó cũng đã được xuất khẩu
ra thị trường nước ngoài như là niềm tự hào lớn của Việt Nam trên trường quốc tế.
Sau hơn 2 thập niên hoạt động, nhà máy Jim Thống Nhất đã sắp nhập với nhà máy gỗ cầu đuốn
thành sĩ nghiệp liên hiệp gỗ Jim cầu đuốn vào năm 1984. Đến tháng 1 năm 2002,
Jim Thống Nhất chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần với tên gọi công ty cổ phần Jim Thống Nhất.
Tuy nhiên cũng giống như nhiều thương hiệu truyền thống khác, Jim Thống Nhất không thể thoát khỏi
tình cảnh khó khăn, cạnh tranh theo quy luật của thị trường. Bước vào thời kỳ đổi mới,
Jim Thống Nhất bị cạnh tranh gai gác bởi các sản phẩm tạo lửa từ nước ngoài,
đặc biệt là bật lửa Trung Quốc.
Từng là một trong số ít thương hiệu văn bóng một thời, còn sản xuất kinh doanh và chưa năm nào phải báo lỗ.
Nhưng càng ngày, hoạt động của Jim Thống Nhất càng gặp nhiều khó khăn. Từ năm 2015-2018,
doanh thu của công ty loanh quanh ở mức 100 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận chỉ võn vẹn 2-3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp này lý giải, sản phẩm Jim trong nước đang rơi vào chưu kỳ suy thoái nhanh
do nhu cầu tiêu dùng hạn chế cùng với đó là sự sụt giảm của que Jim xuất khẩu.
Quan trọng hơn nữa là theo doanh nghiệp Jim Thống Nhất, giá thành nguyên vật liệu đầu vào là gỗ ngày càng tăng cao,
trong khi giá thành của bao Jim khi bán ra thị trường phải cạnh tranh với các dụng cụ tạo lửa khác,
khiến biên lợi nhuận của Jim Thống Nhất bị bao mỏng.
Dù sản lượng vẫn ở mức cao, nhưng số lợi nhuận công ty thu về không được bao nhiêu.
Vì lý do trên mà Đại hội đồng Cổ đông Công ty Jim Thống Nhất diễn ra tháng 2 năm 2018
đã chính thức thông qua việc từ năm 2020 dừng sản xuất sản phẩm Jim,
giảm dứt vòng đời 63 năm của một sản phẩm đình đám một thời.
Bằng quyết định trên, thương hiệu Jim gắn liền với người Việt hàng thập kỷ chính thức bị khai tử và đi vào dị vãn.
Thoracow, vua mỹ phẩm một thời
Ngay từ năm 1957, khi thị trường trong nước còn trang ngập các loại mỹ phẩm đến từ Pháp,
cơ sở chế biến hóa mỹ phẩm của bà Lan Hảo đã cho ra đời các sản phẩm kem dưỡng da
làm từ nguyên liệu tự nhiên sẵn có.
Năm 1961, công ty Lan Hảo chính thức được thành lập do ông Huỳnh Kỳ Trân,
con trẻ của bà Lan Hảo làm chủ tịch hội đồng quản trị.
Công ty sản xuất các dòng sản phẩm mỹ phẩm bang thương hiệu Thoracow
với hình ảnh logo là tiên nữ cách điệu với thông điệp trắng mịn và trẻ đẹp như thiên thần.
Thời điểm đó, vì ít đối thủ cạnh tranh lại có chất lượng thuốc và giá cả hợp lý,
nên các sản phẩm của Thoracow nhanh chóng được sử dụng rộng rãi,
trở thành cái tên được người tiêu dùng khắp nơi biết tiếng.
Tận dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên đặc thu sẵn có ở Việt Nam,
Thoracow phát triển nhiều dòng sản phẩm mới từ nguyên liệu bạc hà, sả, hồi, nghệ, buồn kết,
gừng, chanh, bưởi, dưa leo, hai chiếc suất từ nhà đam, lô hội, cây chùm ngây, mũi trôm, bùng khoáng, ốc sen.
Đây là một trong những lý do khiến sản phẩm của Thoracow phù hợp với cơ điện người Việt, trong khi giá thanh rẻ.
Thời điểm cuối những năm 1960, dòng kem dưỡng da chiếc suất từ nghệ của Thoracow đã tạo ra cân suốt ở thị trường trong nước.
Đây cũng là thời điểm công ty bắt đầu xuất khẩu sản phẩm mỹ phẩm sang các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Đến năm 1969, công ty đã có 6 chi nhánh ở Việt Nam và 1 chi nhánh ở thị trường Campuchia,
trở thành thương hiệu mỹ phẩm số 1 trong nước, thống lĩnh thị trường suốt các thập niên 1970-1980.
Nhưng đến đầu những năm 1990, đất nước mở cửa, các thương hiệu mỹ phẩm ngoại theo nhau trang vào thị trường Việt.
Với nguồn lực tài chính bững mạnh, cộng với kinh nghiệm làm thị trường lâu đời,
thiết kế bắt bắt và các chiến lược marketing râm rộ,
các thương hiệu mỹ phẩm ngoại đã dần đánh bật Thoracow ra khỏi các kệ trưng bày mỹ phẩm.
Ngày nay, tòa nhà Thoracow cụ kỷ, rong rêu, tổng hành nhìn của thương hiệu mỹ phẩm vang nhanh một thời,
vẫn lạng lẽ ngay góc ngã tư điểm biên phủ cách mạng tên 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh,
dù chỉ có một điều khác là nó không còn lỏng lễ như xưa,
thay vào đó phải chia sớt không gian cho các thương hiệu khác thuê kinh doanh.
Dạ Lan, cái kết buồn của thương hiệu kem đánh răng số 1 Việt Nam
Năm 1988, ông Trịnh Thanh Nhân sáng lập ra cơ sở Sơn Hải ở Sài Gòn,
chuyên sản xuất kem đánh răng Sơn Hải bán ra thị trường, nhưng doanh số rất thấp.
Về sau, ông đổi tên sản phẩm thành Dạ Lan, theo tên một chương trình phát thanh được yêu thích thời bấy giờ,
với hình ảnh một ông già mặc áo dài, cười với hàm răng trắng bóng.
Để sản phẩm được tới tay nhiều người tiêu dùng hơn thì vợ chồng ông Nhân
đã mang kem đánh răng Dạ Lan đi trao bán khắp nơi, từ miền Tây ra tận miền Trung.
Năm 1989, ông Nhân còn mạnh dạng đăng ký tham gia hội chợ xuân ở Hà Nội,
nhằm quảng bá cho kem đánh răng Dạ Lan.
Sau đó, ông quyết định tặng cho các tiểu thương chợ Đồng Xuân kem đánh răng để họ bán thử,
từ đó nhãn hiệu Dạ Lan mới được nhiều người miền Bắc biết đến.
Chính bởi sự nhanh trí nắm bắt thời cơ mà khi đó Dạ Lan đã dần vươn lên,
có thời điểm chiếm tới 70% thị phần kem đánh răng của cả nước,
riêng từ Đà Nẵng trở vào các tỉnh phía Nam thị phần lên tới 90%.
Thế nhưng, người tính không bằng trời tính, mặc dù có chiến lược kinh doanh cực kỳ tốt,
nhưng kể từ khi những đại gia nước ngoài của ngành tiêu dùng nhanh xuất hiện,
như Unilever hay Colgate-Farmolive, thì Dạ Lan dần mất thị phần vào tay họ,
bởi những thương hiệu này có nhiều kinh nghiệm về truyền thông,
lớn át tất cả những gì mà những thương hiệu Việt làm trước đó.
Chính vì thế, dù rất cố gắng nhưng Dạ Lan vẫn phải bán mình cho Colgate-Farmolive
vào năm 1995 với giá 3 triệu đô la.
Sự kiện này đã gây tiếc nuối cho rất nhiều người bởi Dạ Lan không chỉ là một thương hiệu của người Việt,
mà nó còn là chứng nhân cho sự phát triển kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới.
Và với rất nhiều người, nó không chỉ là một sản phẩm thông thường, mà còn là một biểu tượng của người Việt.
Kem Trang Tiền chật vật tồn tại giữa muôn vàng đối thủ
Ra đời từ năm 1958, Kem Trang Tiền luôn là cái tên được người dân Hà Nội nhắc đến
khi nói về những thức quà vạc làm sai lòng người đất Hà Thành.
Sở dĩ có tên Trang Tiền là bởi kem được bán và sản xuất ở phố Trang Tiền,
lần đầu tiên là tại số nhà 35 Trang Tiền, quận Hoàng Kiếm, Hà Nội.
Kem Trang Tiền đa dạng về hương vị, chúng loại, đặc biệt là các dòng kem que,
ốc quế, kem sữa dừa, kem cốm và kem sô-cô-la đã chinh phục đông đảo người dân,
đặc biệt là thế hệ đi qua thời bao cấp 6X, 7X và 8X.
Theo năm tháng, Kem Trang Tiền đã trở thành thương hiệu ẩm thực nổi tiếng,
uy tín và là một nét văn hóa đặc trưng của đất Hà Thành.
Tuy nhiên, chiến lược chỉ bán ở một địa điểm duy nhất là trên con phố Trang Tiền,
lại có con dao hai lưỡi chặn đứng mức phát triển của hãng kem nổi tiếng này.
Trong khi các thương hiệu khác mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình bằng các điểm phân phối,
thì Kem Trang Tiền lại tự bó một mình bằng cách định vị chính mình trong tâm trí khách hàng rằng
chỉ có địa chỉ 35 Trang Tiền là hàng chuẩn.
Theo thời gian, doanh thu sụp giảm nghiêm trọng, cuối cùng hãng kem này đã về tay Ocean Group
và có những bước chuyển biến đáng chú ý hơn.
Ông Hà Văn Thấm từng chia sẻ, khi mua lại Kem Trang Tiền vào năm 2008,
doanh số công ty chỉ có 12 tỷ một năm nhưng đã tăng lên 100 tỷ trong năm 2013,
lợi nhuận theo đó đạt khoảng 25 tỷ đồng.
Kem Trang Tiền cũng đã mở rộng địa bàn bao gồm 24 đại lý trực thuộc công ty,
10 hệ thống cửa hàng tại Hà Nội và 2 cửa hàng tại thành phố Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, thương hiệu kem truyền thống của Hà Nội hiện đang chịu sự cạnh tranh gây rắc
bởi các đối thủ cả trong và ngoài nước như Kido, Vinamilk, TH Truong Miu hay Unilever, Nestle.
Theo báo cáo của Euromonitor,
thị phần ngành kem và món tráng miệng đông lạnh của Kem Trang Tiền
đã giảm về còn 4,5% trong năm 2017.
Trước đó vào năm 2013, thị phần của công ty là 5,7%.
Cảm ơn bạn đã xem video trên kênh Người Thành Công.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và xem thêm những video mới để ủng hộ nhóm nhé!
