ĐẾ CHẾ MÔNG CỔ VÌ SAO NHANH CHÓNG TAN RÃ?

Xưa và Nay
1.3K người theo dõi
#BLVHảiThanh #History #Mongolia #MôngCổ
#Su7 #Sử7 #Su7VietNam
#Mongols
ĐẾ CHẾ MÔNG CỔ VÌ SAO NHANH CHÓNG TAN RÃ?
Câu chuyện về đế chế Mông Cổ là một câu chuyện đầy tính lịch sử.
Một bộ tộc ru mục, chuyên cưỡi ngựa, uống sữa ngựa,
sống bằng cách ăn thịt và lang thang ở trên thảo nguyên,
lại xây dựng một đế chế rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Từ châu Á, họ phóng ngựa vượt qua sa mạc,
vượt núi rồi rừng chân ở châu Âu,
nhìn đâu cũng thấy dấu chân người Mông Cổ.
Nhưng sự vĩ đại ấy chỉ kéo dài hơn 150 năm
trước khi sụp đổ như một lâu đài cát.
Vì sao lại như vậy?
Câu chuyện bắt đầu ở thảo nguyên Đông Á
với một cậu bé có tên là Thiết Mộc Trân,
sinh vào năm 1162.
Cha mất sớm, gia đình bị đuổi khỏi bộ lạc.
Thiết Mộc Trân phải sống nhờ săn bắt
và bới củ dại mà ăn.
Nhưng chính cái khắc nhiệt ấy lại tôi luyện một tinh thần thép.
Lớn lên, Thiết Mộc Trân đã tập hợp những người trung thành
chinh phục từng bộ lạc Mông Cổ
và đến năm 1206,
ông được tôn làm thành cát tư hãn,
nghĩa là vị vua vĩ đại.
Mông Cổ lúc đó là gì?
Một vùng đất khô cằn,
người dân sống dựa vào đàn ra súc
và những cơn gió lạnh từ Siberia thổi xuống.
Thực tế, Mông Cổ bây giờ thì cũng vẫn vậy.
Nhưng thành cát tư hãn đã biến nơi đó
trở thành một cỗ máy chiến tranh khổng lồ.
Ông tổ chức quân đội bằng cách tinh nguệ
với kỷ luật thép.
Quân Mông Cổ nhỏ gọn
nhưng kỳ kỳ cơ động và đáng sợ.
Từ thảo nguyên Mông Cổ,
thành cát tư hãn đã mở rộng lãnh thổ như vụ bão.
Năm 1215,
quân Mông Cổ đã chiếm được thủ đô của nhà Kim,
bây giờ chính là Bắc Kinh,
đốt trái thành phố
và biến nơi đây thành choa bụi.
6 năm sau,
họ tiến đến vùng Ba Tư
phá tan các thành phố lớn tại đây.
Người ta kể lại rằng
quân Mông Cổ đã giết hơn 700.000 người
chỉ trong vài ngày.
Con số nghe cứ như thần thoại,
nhưng đủ để thấy sự kinh hoàng.
Sau khi thành cát tư hãn mất vào năm 1227,
các con trai của ông kế tục sự nghiệp.
Đế chế này phát triển cực đại
tại dĩ thời của Hốt Tất Liệt,
cháu nội của thành cát tư hãn,
người đã lầm ra nhà nguyên ở Trung Quốc vào năm 1271.
Đến lúc này,
Mông Cổ trải dài từ biển Nhật Bản
đến tận Đông Âu,
từ Siberia xuống tận Ấn Độ,
diện tích lên đến 33 triệu km2,
chiếm khoảng 1 phần tư diện tích bất liền
của toàn thế giới.
Nhưng cái gì lên cao quá,
rồi cũng đến lúc lao dốc.
Đế chế Mông Cổ không phải là ngoại lệ.
Ngay sau khi đạt tới đỉnh cao,
nó bắt đầu tan rã nhanh chóng.
Vì hàng loạt lý do mà nói ra,
thì có người cho rằng
nó chính là mạnh trời.
Những điều đầu tiên rất dễ nhận thấy
đó là Mông Cổ tan vỡ vì quá rộng lớn.
Mông Cổ trải dài qua nhiều múi dở,
từ sa mạc Gobi đến rừng Taiga,
từ những vòng đồng bằng châu Âu
cho đến dãy Himalaya.
Ở thời điểm không có điện thoại,
không có Internet,
việc quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn như vậy
là điều không tưởng.
Những hãng quốc xa xôi như là Kim Trướng,
tương đương với Nga bây giờ,
gần như độc lập,
không còn chịu sự quản lý từ trung tâm.
Nhưng hãng quốc ở vùng Ba Tư
lại càng giống với một vương triều Hồi giáo,
không còn giữ nhiều bản sắc Mông Cổ.
Và sau khi thành các tư hãn mất,
đế chế được chia thành 4 phần lớn,
đó là Nhà Nguyên và Trung Quốc,
do hốt tất liệt cai trị.
Kim Trướng hãng quốc tương ứng với phần Nga và Đông Âu,
do con chó khác quản lý.
Hãng quốc Jakarta nằm tại Trung Á,
và một hãng quốc khác
nằm ở khu vực bây giờ chính là Ba Tư và Trung Đông.
Thoạt đầu,
việc phân chia lãnh thổ nghe có vẻ hợp lý,
nhưng thực chất nó lại chính là mầm mống
của xung đột.
Anh em họ hàng tranh giành quyền lực, đánh eo truyền miên.
Hãng quốc nào cũng muốn tự lập,
không còn đoàn kết như thời thành các tư hãn nữa.
Và khi mà chia ra rồi,
thì người Mông Cổ cũng lại tự đánh mất
đi bản sắc của mình.
Người Mông Cổ ban đầu là những chiến binh sống trong
liều da trên thảo nguyên rộng lớn,
quen với cuộc sống đơn giản và khắc nghiệt.
Họ có thể ăn thịt khô, uống sữa ngựa,
Nhưng khi đế chế bành trướng tới những vùng đất
trù phú như là Trung Quốc, Ba Tư và Trung Á,
lối sống này dần thay đổi.
Khi Hốt Tất Liệt lập ra nhà huyền
ở Trung Quốc, tất nhiên, ông không còn sống
trong liều da, mà sống ở Bắc Kinh,
xây dựng cung điện Nguy Nga theo kiểu Trung Hoa.
Tại đây, ông cũng sử dụng những
quan lại người Hán, một phần trong hệ thống
cai trị, học cách cai trị theo
truyền thống nho giáo, và bắt đầu mặc những
bộ trang phục gấm vóc theo dòng vượng,
thay vì áo tràng lồng thú.
Thay vì cưỡi ngựa dòng ruổi,
họ sống trong những khu vườn có hồ,
thưởng thức các nghi lễ hoàng gia
theo kiểu Trung Hoa. Điều này khiến lớp trẻ
Mông Cổ không còn giữ được ý chi thép
với lối sống kiên cường như tổ tiên.
Sướng rồi thì khổ không chịu được.
Người Mông Cổ không chỉ
cai trị, mà còn bị mê hoạc bởi những nền
văn minh lớn mà họ chinh phục.
Ở Ba Tư, họ bị cuốn hút bởi nghệ thuật,
thơ ca và triết học của người bản địa.
Và như vậy là các hãn ở Ba Tư
đã nhanh chóng cải sang Đạo Hồi,
xây dựng đền thờ và học theo lối sống của người Hồi.
Người đứng đầu là Hãn Vương Ga Gian
đã chính thức tuyên bố Đạo Hồi
là quốc giáo của Hãn Quốc,
dưới triều đại của ông.
Kiến trúc Ba Tư truyền thống dần thay thế lều trại Mông Cổ,
và người Mông Cổ đã bị Ba Tư hóa
cả về văn hóa lận tôn giáo.
Ở các hãn quốc gia trung tâm,
sự đồng hóa diễn ra nhanh hơn.
Ở Kim Trương Hãn Quốc, từ ngừng người Vĩ Nga và Đông Âu,
người Mông Cổ dần hòa nhập vào văn hóa Nga.
Họ kết hôn với người bản địa,
sử dụng tiếng Nga trong giai tiếp,
và một bộ phận thậm chí cải sang Kim Tô giáo.
Cuối cùng, nhà Hãn Quốc này không còn
mang nhiều dâu ấn của người Mông Cổ,
mà chỉ còn là các vương triều bản địa
do hậu ruệ của họ cai trị.
Một lý do quan trọng khiến người Mông Cổ
đánh mất bản sắc là họ đối mặt với những nền văn minh
có lịch sử và văn hóa sâu sắc hơn mình.
Khi người Mông Cổ đã đánh mất bản sắc,
họ cũng mất đi động lực để duy trì đế chế.
Những thế hệ sau không còn tinh thuận đàn kết
và kỷ luật thép như thời Thanh Cát Tư Hãn.
Họ cũng không rõ về ông cha của mình.
Nó dẫn đến sự suy tàn của đế chế.
Mất đi bản sắc là mất đi tất cả.
Có một lý do không liên quan đến quân đội,
không liên quan đến văn hóa,
mà nó liên quan đến dịch bệnh.
Đó là dịch bệnh cái chết đen,
đại dịch hạch, một trong những thảm họa
kinh hoàng nhất lịch sử,
nó đã góp phần lớn làm sụp đồ đế chế Mông Cổ.
Dịch bệnh này bắt nguồn
từ khu vực Trung Á,
nơi những con chuột hoang mang theo những con bọ chết
bị nhiễm vi khuẩn chết người.
Khi quân Mông Cổ mở rộng lãnh thổ
và phát triển mạng lưới giao thương,
chính những con đường thương mại của họ
đã vô tình biến thành xa lộ cho dịch bệnh.
Từ các vùng thảo nguyên Trung Á,
dịch bệnh đã lan qua con đường Tơ Lụa,
quét đến Crimea, sau đó lan sang Châu Âu,
Trung Đông và Bắc Phi.
Một trong những câu chuyện đáng sợ nhất
về ca chết đen liên quan đến quân đội Mông Cổ
là sự kiện tại thành phố Kafar,
ngày nay thuộc Ukraine,
vào năm 1346.
Khi bảo vệ thành phố này,
quân Mông Cổ bất ngờ bị dịch bệnh tan phá.
Trong những nỗ lực tuyệt vọng,
họ ném sát người chết và bệnh dịch
vào trong thành phố bằng máy bắn đá.
Đây được coi là một trong những ví dụ sớm nhất
của chiến tranh sinh học.
Kết quả là người dân Kafar cũng nhiễm bệnh
và các thương nhân chạy trốn bằng tàu buôn
đã mang mầm bệnh tới châu Âu,
khởi đầu cho thảm họa giết chết hàng chục triệu người.
Quân đội Mông Cổ,
vốn là niềm tự hào của đế chế,
giờ đây đã trở thành nạn nhân
dễ dàng của ca chết đen.
Ai doanh chạy đông đúc, lối sống di chuyển liên tục
và điều kiện vệ sinh kém
khiến dịch bệnh lan nhanh như cháy rừng.
Người ta ước tính, chỉ vài năm đầu tiên,
một phần ba đến thậm chí là một phần hai
sỗ lính Mông Cổ đã chết vì dịch bệnh.
Điều này làm sự yếu nghiêm trọng
sức mạnh quân sự của họ,
khiến các cuộc trinh phạt bị đình trệ
và khó lòng giữ vững những vùng đất đã chiếm đường.
Đế chế Mông Cổ từng được coi
là chiếc cầu nối thương mại giữa Á và Âu.
Nhưng đại dịch đã tràn lan,
mọi hoạt động kinh tế bị tê liệt,
những phiên chợ từng xâm út giờ đây trở nên vắng tanh
vì người dân sợ bị lây bệnh.
Thường nhân chết dọc đường, để lại hàng hóa
bị bỏ hoang hoặc bị cướp bóc.
Những trung tâm thương mại lớn mất hàng loạt dân cư,
dẫn đến khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng.
Dân số giảm, thuế giảm,
đế chế không còn nguồn lực để duy trì sức mạnh quân đội.
Cá chết đen không chỉ giết người,
mà còn làm tan rã những cộng đồng.
Nhiều làng mạc bị bỏ lại,
đất đai không còn người khanh tác.
Ở Hãng quốc Ba Tư,
đại dịch làm xung đổ hoàn toàn đến kinh tế
và cuối cùng dẫn đến kinh tế.
