Bí Ẩn Ly Kỳ 8 Kiếp Nạn Của Đức Phật Không Phải Ai Cũng Vượt Qua, Nghe Mà Kinh Hãi

Học tập trí tuệ cổ nhân
202 người theo dõi
90 Lượt xem video·22 thg 11, 2024
Tám kiếp lạn của Đức Phật không phải ai cũng đủ khả năng vượt qua.
Kính thưa quý vị, cuộc đời chẳng có ai bình yên bẻ lặng suốt cả cuộc đời.
Những kiếp lạn của Đức Phật từng phải vượt qua còn khó khăn, gian khổ gấp bội so với những vấn đề mà chúng ta phải đối mặt mỗi ngày.
Chúng ta thường nói đến Đức Phật như một đấng tối cao xa vời nào đó.
Nhưng sự thật, Ngài cũng là người, và cũng có cuộc đời không nhàn hạ như ta vẫn nghĩ.
Phật nói, Ngài giống như con voi to ở giữa trận.
Bên này, bên kia, tên bắn rớt chúng, rồi mâu ráo đâm chúng, chịu đựng đủ tất cả sự phí bán.
Ta như voi giữa trận, hứng chịu cùng tên rơi, chịu mọi sự phí bán, ác giới rất nhiều người.
Có câu, Phật còn vương tám nạn, huống là người sao khỏi tai ba.
Nghĩa là, Phật đã bị tám nạn, còn người chỉ ba tai ếch.
Hãy cùng tu thân, nhìn lại những kiếp lạn mà Đức Phật đã phải vượt qua.
Chứng ngại thứ nhất, một người bà Lamôn tên là Akosina, cái tên có nghĩa là không tức giận.
Nhưng thực tế thì ngược lại, ông này luôn luôn tức giận.
Khi ông ta nghe người ta nói là Phật không bao giờ tức giận với ai, ông ta ben đến gặp Phật để thử.
Ông đến chửi rủa Phật, gọi Phật bằng những từ ngữ thô tục và xấu xa nhất.
Sau một trang chửi rủa của ông này, Phật mới hỏi rằng ông ta có họ hàng, người thân, bạn bè, và họ có đến chơi thăm nhà ông hay không?
Ông ta trả lời, có.
Và Phật hỏi tiếp rằng, ông ta có hay gói quà biếu như bánh trái hay đồ ăn để cho họ mang về hay không?
Ông ta cũng trả lời là có.
Phật liền hỏi ông ta, này bà Lamôn, nếu họ không nhận quà biếu đó thì ai sẽ nhận?
Nếu họ không chịu nhận thì tôi sẽ nhận lại chứ còn ai, cây ông cụ đàn này.
Cũng vậy, này bà Lamôn, ông nhục mạ chúng tôi, những người không nhục mạ ông.
Ông tức giận với chúng tôi, những người không tức giận ông.
Ông cái vã với chúng tôi, những người không cái vã gì với ông.
Tất cả những gì ông đã nói thì chúng tôi không nhận lấy, tất cả là của ông.
Này bà Lamôn, ông hãy nhận lấy, tất cả là thuộc về ông.
Bằng sự nhẫn nhục, trí tuệ và lòng từ tâm,
Đức Phật đã khuyền dạy chúng ta thay đổi cách nghĩ về những món quà bất nhã và sự trọc tức đó đến với chúng ta,
thay vì chúng ta chỉ lập tức phản ứng lại bằng sự tức giận và thu ghét theo cái thói quen đầy tính chiến đấu của chúng ta.
Một lần nữa, cũng trên đường Giao Hóa,
hôm ấy, Đức Phật đi khất thực một mình, gặp một người bà Lamôn khác,
cũng theo sau chửi Phật, chửi mãi mà Đức Phật vẫn lặng lẽ đi, không đối đáp gì cả.
Ông thấy có lúc Phật trải tọa ngồi, ông lại gần hỏi,
Samôn Cù Đàm, thua tôi chưa?
Đức Phật đáp, kẻ hơn thì thêm oán, người thua ngủ chẳng yên, hơn thua hai đều xả, ấy được ăn ổn ngủ.
Như vậy, sở dĩ chúng ta mất ăn mất ngủ là tại điều gì?
Tại những hơn thua, được mất, khi được cũng ngủ không yên, mất cũng ngủ không xong.
Hơn người, khi trở về vẫn còn hăn học, nhớ mình đã nói câu hay, hành động đó giỏi,
còn nếu thấy thua thì bực tức ngủ không được.
Thời điểm Đức Phật mới thành đạo, Ngài con trẻ vô tình đến một vùng có một người Bà Lamôn giàu có,
lại giỏi về tướng số.
Người này nhận thấy Ngài có 32 tướng tốt, nên trầm trồ khen, nếu ở Thế Gian sẽ làm vua chuyển luân.
Vốn có cô con gái xinh đẹp, nên ông bàn về với vợ, gả cho Đức Phật.
Hai ông bà đến gặp Đức Phật đang ngồi dưới cội cây thọ chai và nói,
Ngài cù đàm, chúng tôi có một đứa con gái đẹp lắm, xin gả cho Ngài.
Nghe đến đó, Đức Phật liền đáp, ông nói con gái của ông đẹp,
nhưng dưới mắt của người tu chúng tôi, tất cả người, dù đẹp dù xấu,
cũng chỉ là một giấy da chứa toàn đồ hôi hám, đâu có giá trị gì.
Kẻ đi theo hầu nghe được lời này, nó về thuật lại cho cô tiểu thơ nghe, cô rất tức giận.
Từ trước đến nay, chưa có ai dám khinh chê cô.
Này Samôn củ đàm, dám chê cô là một giấy da hôi thúi, cô thề sẽ trả thù.
Sau đó vua nước, cô Sabi đi hỏi cô làm vợ, và cô được làm thứ hậu.
Một hôm Đức Phật đi giáo hóa đúng vào xứ cô ở.
Nghe tin ngài đến, đó là cơ hội hiếm có để cô có thể trả thù.
Cô thề những người hông bảo trong vùng đón Phật, dặn khi thấy Đức Phật tới,
thì cả đoàn nam nữ về quanh, chửi đến khi nào Đức Phật đi chỗ khác mới thôi.
Lần này Đức Phật đi, thì có ngài Anan đi theo.
Hai thầy trò vừa vào xứ đó, bỗng dưng một nhóm người, cả nam lẫn nữ,
sông ra chửi, đua nhau chửi.
Đức Phật vẫn thản nhiên như không có việc gì,
nhưng ngài Anan thì chịu không nổi nên mới thương.
Bạch thế tôn, thôi chúng ta đi chỗ khác.
Đức Phật hỏi, đi đâu Anan?
Bạch thế tôn, chúng ta qua nước đè xá.
Nếu đến nước đó mà dân chúng cũng cư xử giống như sân ở đây, thì ông nghĩ sao?
Bạch thế tôn, thì chúng ta sẽ qua thành hòa thị.
Nếu đến đấy mà dân chúng cũng cư xử như thế này, thì ông nghĩ sao?
Bạch thế tôn, chúng ta đến nơi nào mà người ta không bặc đãi chúng ta như ở đây,
như là về thành tỳ xá ly hay là thành vương xá chẳng hạn?
Đức Phật liền đặt câu hỏi,
tại sao dân chúng thành vương xá, thành tỳ xá ly lại yêu đãi chúng ta?
Ngài Anan thưa, Bạch thế tôn, vì dân chúng ở đó đã từng nghe thế tôn dạy,
họ biết rõ tránh pháp và họ có trí tuệ phân biệt được hành động nào là thiện,
hành động nào là tội lỗi.
Do đó, họ rất chiêm ngưỡng Đức thế tôn, thôi chúng ta đi về đó đi.
Đức Phật liền hỏi, Anan, giả sử có người thầy thuốc giỏi bậc nhất,
có thể đăng bảng trước cổng rằng,
ở đây chỉ trị bệnh cho những người bệnh nhẹ và không bệnh,
còn ai bệnh nặng xin mời đi nơi khác, có như vậy hay không, Anan?
Bạch thế tôn, không ạ.
Tại sao? Vì thầy thuốc hay cần trị cho những người bệnh nặng.
Nếu thầy thuốc có lương tâm mà bệnh nặng không trị dùm,
chỉ trị bệnh nhẹ và không trị bệnh thì thật là vô lý.
Này Anan, vì sao dân chúng ở xứ này lại đối xử tệ bạc với chúng ta như vậy?
Bạch thế tôn, vì ở đây họ chưa từng nghe Phật thuyết pháp,
họ không biết hành động nào là thiện, hành động nào là ác,
nên họ mới xử tệ với chúng ta.
Anan, như Lai ra đời vì làm lợi ích cho mọi người,
vì cứu khổ chúng sanh,
cũng như người thầy thuốc hay là cốt để trị những người đang đau khổ vì bệnh trầm trọng.
Dân chúng ở đây như những người bệnh nặng,
như Lai cần phải có mặt để giáo hóa họ.
Còn dân chúng ở thành, tỳ xá ly hay vương xá,
giống như những người bệnh nhẹ, không cần đến thế tôn,
chỉ cần những đệ tử của thế tôn cũng đủ giáo hóa họ rồi.
Người này, nếu thế tôn không đích thân đến,
thì ai dám đến đây giáo hóa nữa?
Nghe như thế, Ngài Anan niền thưa,
Bạch thế tôn, ở đây đâu có ai cần nghe thế tôn giảng,
họ xử sự quá tệ bạc thì làm sao mà giáo hóa?
Đức Phật giải thích thêm,
vì như người bệnh nặng,
thần thể và tâm hồn họ bị dây xéo đau khổ,
nên tư cách và ngôn ngữ của họ không bình thường.
Vì thế, họ có những lời nói xúc phạm đến Thầy Thuốc,
nếu người Thầy Thuốc thương bệnh nhân như con,
thì phải bỏ qua những điều đó để trị lành bệnh cho họ.
Cũng như thế, dân chúng ở đây là những người bệnh nặng,
nên họ có những thái độ bất thường,
chúng ta nên giáo hóa họ chứ không nên bỏ họ.
Nghe Phật nói đến đó,
những người cuôn đổ liền thức tỉnh, họ đồng thưa.
Bạch Thế Tôn, chúng tôi xin lỗi Ngài,
chúng tôi thật là những người bệnh nặng,
mong Ngài ở lại đây giáo hóa chúng tôi.
Đức Phật và Ngài An Nan ở lại,
chỉ hơn một tuần lễ,
họ đã quy y rất đông,
không kém thành tỷ xá ly hay vương xá là bao nhiêu.
Những kẻ đối đầu với Đức Phật,
đã cho tiền một ghi nữ tên là Sinh Ca
đến chửi bới và làm nhục Đức Phật.
Sinh Ca cột một bó đũa bên dưới lớp áo giày
và giả như mình đang mang thai.
Khi Đức Phật đang thuyết giảng cho hàng trăm người,
cô ta đến trước mặt
và chỉ Phật 5 người giả dạng thái nhân
và vu oan cho Phật đã làm cô ta có bầu.
Đức Phật không tức giận hay ghét cô ta,
mà bình tĩnh nói với cô ta rằng
Này chị kia, chỉ có chị và tôi biết rõ mọi chuyện
là có thực hay không.
Sinh Ca ngạc nhiên trước thái độ ôn hòa của Phật
và nhìn thấy mình trùn xuống.
Cô ta định quay đi thì bị vấp ngã.
Những sợi dây buộc bó đũa bị bung ra
và làm rơi đũa ra ngoài.
Mọi người đều thấy âm mưu của cô.
Một số người đòi đánh phạt cô ta.
Nhưng Đức Phật nói rằng
Không, đó không phải là cách các người đối xử với cô ta.
Chúng ta phải giúp cô ta hiểu được giáo pháp.
Đó là hình phạt hữu ích nhất.
Sau khi Phật giảng dạy giáo pháp cho Sinh Ca,
toàn bộ cá tính của cô đã thực sự thay đổi.
Cô ta trở nên nhẹ nhàng, tử tế và đầy tình thương.
Một kiếp lạn khác của Đức Phật đó là
khi Ngài về tỉnh xá Trúc Lâm
tất cả vua quan và dân chúng đều tới nghe
Ngài giảng dạy mỗi ngày.
Do đó có một số người bà la môn theo quý y với Đức Phật.
Vì thế có một người bà la môn tên là
Tôn Đà Lợi, rất tức giận, muốn hại Phật.
Ông chợt cô con gái xinh đẹp của mình đi cùng nghe giảng.
Được vài lần rồi ông giết con gái.
Giữa đêm nén đem vào đất tỉnh xá Trúc Lâm, đào lỗ để trôn.
Đến sáng hôm sau, ông đi thưa quan
là con gái ông đi nghe pháp ở tỉnh xá Trúc Lâm.
Nay bỗng sưng mất tích, không thấy về.
Quan quân tới tìm, ông cũng đi theo.
Ông dẫn họ đi khắp tỉnh xá,
đến một chỗ có dấu đất mới, lấp.
Ông bảo họ đào lên,
thì thấy thây của con ông bị giết hại trôn tại đó.
Ông liền lớn tiếng buộc Đức Phật phạm hai tội,
dâm và sát,
tức là từ thồng với con gái ông,
để rồi giết để phi tang.
Trong trường hợp này, không có gì minh chứng được,
nên Đức Phật chỉ lặng thanh.
Tỉnh xá Trúc Lâm thuộc nước Ma Kiệt Đà.
Vua nước Ma Kiệt Đà rất mến Phật,
nên ông cho người điều tra thật kỹ.
Kết quả mới biết chính ông Bà Lamôn giết con gái ông
và đem trôn ở trong tỉnh xá.
Từ đó mới minh hoàng được cho Đức Phật.
Chướng ngại số 6
Đềva Đạt Ta là em chú bác của Phật.
Ông xuất ra và tu trứng được ngũ thông.
Khi trứng được ngũ thông rồi,
ông mới dùng thần thông cảm hóa thái tử A-Xa-Thế
vì lòng tham muốn lãnh đạo và thay đổi tăng đoàn,
nên ông xinh lòng thù hận và muốn giết Phật.
Ông mới xui thái tử A-Xa-Thế cướp ngôi vua cha
rồi thả voi say giết Phật, nhưng không được.
Ông cho voi giữ, uống rượu và canh đúng lúc,
đúng lơi Phật đi ngang qua.
Ông thả voi điên ra để giết Phật.
Mọi người đều bỏ chạy,
và ai cũng kêu Phật hãy bỏ chạy khỏi voi giữ.
Ngài Alanda đã đứng lên trước để ngăn voi giữ tấn công Phật.
Nhưng Phật bảo ngài tránh ra
vì sức người như ngài cũng không thể ngăn được voi giữ.
Khi voi giữ đến gần Đức Phật,
nó trồm lên, hai tay dựng đứng trong cơn say điên.
Đức Phật chỉ đứng im và phóng những ý nghĩ từ bi về phía con voi.
Con voi ngừng lại.
Phật đưa hai bàn tay ngừa về phía con voi
và truyền âm từ bi sang nó.
Con voi phù phục quỳ xuống dưới chân của Phật,
ngoan ngoãn như một con cừu.
Lòng từ bi đã chinh phục được sự hung giữ,
dã man của một con vật đang trong cơn điên tiết.
Hại ngài không được.
Cuối cùng một hôm Đức Phật đi ngang qua chân núi.
Ông ở trên núi, sô đá lan xuống.
Đức Phật bị dập một ngón chân,
nên ông phạm tội, giúp Phật thân huyết.
Lại thêm những chuyện như ông rủ Chư Tăng bỏ đoàn đi theo ông,
nghĩa là ông tạo sự giới loạn.
Trong chúng lúc đó không còn yên ổn được.
Sau cùng phải nhờ hai ngài,
xá lợi Phật và một cừu liên đi giải thích cho chúng.
Họ mới trở về với Phật.
Với những kiếp nạn của Đức Phật phải đối mặt,
ngài không hề run sợ,
mà nhìn nhận chúng là cơ hội để mình tu thành nhanh thành chính quả.
Kinh Pháp Hoa Phật kể rằng,
Đê-va-đát-ta không những một đời này,
mà nhiều đời trước Phật ở nơi nào hành hạnh Bồ-Tát,
ông cũng đèo tới để phá Phật.
Phật bảo, nhờ Đê-va-đát-ta, mặt ta nhanh chóng thành Phật.
Rồi ngài thoại tí, Đê-va-đát-ta sau cũng sẽ thành Phật.
Đê-va-đát-ta không phải là người thường,
đó là một vị Bồ-Tát đang ứng dụng nghịch hạnh để giúp Bồ-Tát nhanh chóng thành Phật.
Chỉ có con mắt của Phật mới thấu tỏ điều đó.
Chúng ta tu mà ai chửi chúng ta nhiều?
Đó là Đại Bồ-Tát,
làm nghịch hạnh để giúp chúng ta mau đạt đạo.
Dù phải qua xuống địa ngục,
Đại Bồ-Tát thì chúng ta cũng phải lễ bái chứ đừng nói mang ơn thôi.
Nghĩa là chúng ta phải xem những lời nói ác của người là công đức cho chúng ta.
Người ta chê chúng ta, chửi chúng ta,
đó là chúng ta tăng trưởng công đức chứ không có mất.
Cuộc đời của Đức Phật còn cho thấy sẵn,
tì kheo thiện tinh, con của Phật,
con của một vị thứ phi, không phải là con của.
Gia-du-đà-la cũng theo Phật xuất ra.
Vị này rất thông minh,
thuộc Lào 12 Bộ Kinh,
tu trứng được tứ thiền.
Nhưng ông lại chê Đức Phật,
chê giáo lý của Phật không hay.
Không đến cứu kính, ông bắt cả nhân quả, cả liết bàn.
Nhiều lần Đức Phật khuyên,
ông vẫn đinh ninh như vậy.
Đến người thứ ba là tì kheo thiện túc,
theo Phật xuất ra một thời gian.
Một hôm ông đến Phạm Chí, Đà Bà,
nói lỗi Đức Phật.
Ông nói,
Đại sư, tôi không theo ngài, hù đàm nữa,
vì ngài không nói cho tôi những điều mà tôi cần nghe,
và ngài cũng không hiện thần thông cho tôi thấy.
Vì thế, tôi xin theo Đại sư.
Ông lại kể tám lỗi của Đức Phật cho ngoại đạo nghe.
Nghe xong, đến một hôm gặp Đức Phật,
ông ngoại đạo mới thuật lại cho Đức Phật nghe.
Như vậy, quý vị thấy đệ tử Phật yêu cầu Phật
phải hiện thần thông cho thấy.
Phật không hiện thần thông liền chê Phật
và bỏ đi theo ngoại đạo.
Câu chuyện này xuất xứ từ Kinh trường A Hẳm.
Thêm một người nữa là tì kheo man đồng tử.
Ông xuất ra theo Phật môn một thời gian,
rồi yêu cầu Phật khẳng định thế giới này
là thường hay vô thường,
sau khi nhập liết bàn rồi còn hay hết.
Phật phải giải thích điều đó rõ ràng cho ông nghe,
ông mới tu theo Phật.
Nếu Phật không giải thích,
ông sẽ hoàn tục.
Đức Phật mới quỏ ông là ngô di
và Đức Phật dùng thí dụ,
mũi tên bắn vào người,
kinh tiễn dụ.
Đó là trường hợp thứ tư.
Đến trường hợp thứ năm,
là hai nhóm tì kheo ở nước Câu Xa Di
tranh đấu lao.
Khi đó Phật dùng bài kẻ khuyên,
nếu dùng tranh rước tranh,
rồi cũng không thấy rước,
chỉ nhẫn hay rước tranh,
Pháp ấy đáng tồn quý.
Ý của người là
nếu dùng tranh đấu để rước tranh đấu,
rước cuộc cũng không thể rước được,
chỉ nhẫn nhục
mới hay rước được tranh đấu.
Pháp đó mới là Pháp tồn quý nhất.
Các kỳ kheo thưa!
Thế tôn là Pháp chủ,
nay xin rừng, kia nói con,
con đâu thể không nói nại.
Nghĩa là ngài đừng có can thiệp,
đừng có khuyên nữa.
Họ chỉ con thì con chỉ lại.
Quý vị thấy Phật
đầy đủ phước đức như vậy,
mà đệ tử của ngài có nghe,
ngài trăm phần trăm hay không,
hay họ là cãi nhau,
ngài khuyên cũng không được.
Thế lên Đức Phật bỏ đi vô rừng.
Chứng ngại thứ tám
Bữa ăn cuối cùng của Đức Phật
là canh lấm độc.
Trong một lần cúng rừng đặc biệt,
ngài không coi đó là nguyên nhân trực tiếp
dẫn đến cái chết của mình.
Đức Phật vốn đã có
3 điểm báo trước về cái chết của mình.
Ngài cũng từng nói rõ
với các môn đồ rằng 3 tháng nữa
mình sẽ có cơ duyên hóa đạo
chính là vào ngày giảm tháng 2 âm lịch.
Chuyện kể rằng
Thuần Đa là một người thợ rèn
sống gần khu rừng
xa la kia,
hay tin Đức Phật sắp tới nơi đây
để nhập liết bản.
Là một người Phật tử thành tâm,
Thuần Đa đảnh lễ xin được
cúng rừng Đức Phật và các trừ tăng.
Thiện tâm của Thuần Đa
được Đức Phật chứng giám
và hoan hỉ nhận lời.
Ngày hôm sau, thế tôn và trừ tăng
y hẹn đến nhà người thợ rèn
họ trai.
Thuần Đa trước đó đã tự tay vào rừng
hái nấm để nấu canh
tự tay dâng lên cúng rừng Đức Phật.
Bát canh nấm vô cùng thơm ngon
nhưng Đức Phật dùng qua lại
nói trong canh có lấm cực độc
lệnh cho tôn giả Anan
không được cho bất cứ ai dùng
mà lập tức đem đi trôn.
Người thợ rèn chất phát
nghe như thế trong lòng
kinh hãi vô cùng, vừa sợ hãi
vừa ân hận.
Chỉ vì tấm lòng hướng Phật
muốn cúng rừng tạo phước báu cho đời sau
mà không ngờ lại vô tình
mang tội lớn với Phật.
Đức Phật là người duy nhất
ăn phải bát canh độc đó
sau ngày chẳng hề hoảng loạn
mà vẫn bình tâm gọi Thuần Đa đến
để dân dạy, dặn người thợ rèn
trốn nên than khóc hay hối hận
vì việc làm của mình
bởi đó vốn không phải là việc gì sai trái.
Bát canh lấm có độc đó
đã khiến cho sức khỏe
của Đức Phật suy giảm nhanh chóng.
Ngài không thể tự đi
mà cần chư tăng diệu đỡ
mau chóng đến rừng xa la
để kịp Ngài nhập diệt như đã định.
Thù thân xin kết thúc
bài chia sẻ của mình tại đây.
Xin chân thành cảm ơn quý vị và các bạn
đã dành thời gian quý giá của mình
để lắng nghe bài chia sẻ này.
Xin kính chúc quý vị
và các bạn luôn luôn được
hạnh phúc thành công và bình an
trong cuộc sống. Xin trân trọng
kính chào và hẹn gặp lại
trong những video tiếp theo.
