Giải Mã Bí Ẩn Máy Bay Trinh Sát U-2 Mỹ Biến Mất Trong Không Phận Liên Xô | Tin Hot 247 ----------------- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới bước sang một cuộc chiến mới, "Chiến tranh lạnh" thực chất nó là cuộc chạy đua vũ trang giữa hai cường quốc quân sự Liên Xô - Mỹ. Dưới sự bảo vệ của hệ thống an ninh nghiêm mật, một chiếc máy bay với những đường nét sắc sảo và gọn ghẽ, cuối cùng đã được chế tạo. Chiếc máy bay thần kỳ này, chính là chiếc U-2 nổi tiếng thế giới sau này. Ngày 1/5/1960, chiếc máy bay trinh sát U-2 của Mỹ đã “biến mất” khi đang bay trong không phận Liên Xô. Sự cố này đã phá tan kế hoạch thảo luận nhằm làm dịu bớt căng thẳng giữa hai nước. Bí mật vụ Nga bắn hạ “Thiên sứ” U-2 của Mỹ sẽ được hé lộ trong video ngày hôm nay. ----------------------------- 💲💲💲 Các bạn có thể ủng hộ kênh bằng cách Donate vào địa chỉ sau: STK: 0821000188592 - Vietcombank - NGUYEN VIET CUONG ----------------------------- ▶ ‘Tin Hot 247’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected]
Sở hữu đường nét sắc xảo và gọn ghẽ, nổi tiếng thế giới với khả năng thực hiện các chuyến bay trình sát ngày và đêm ở độ cao lên tới 21km trong mọi thời tiết.
Nhưng Liên Xô đã bí mật bắn hạ thiên sứ tưởng chừng như là bất bại của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Nếu không phải bị Liên Xô bắt sống vụ này thì theo quý vị còn vụ nào khiến cho Mỹ bẽ mặt hơn nữa?
Sử dụng máy bay để trinh thám và chụp ảnh gián điệp bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ thời truyền thứ 2.
Có điều lúc ấy chưa có máy bay gián điệp chuyên dùng nên tất cả phi công đều sợ đảm nhận nhiệm vụ này.
Đầu thời niên 1950, với những căng thẳng đang gia tăng của chiến tranh lạnh,
quân đội Mỹ rất cần một thiết bị trinh sát chiến lược tốt hơn để thăm dò các kế hoạch của quân đội Liên Xô.
Trong khi đó, máy bay trinh sát ở thời điểm ấy chủ yếu là những chiếc máy bay ném bom được chuyên đổi,
dễ bị pháo phòng không, tên lửa và các máy bay chiến đấu của đối phương bạn hạ.
Vì vậy, Mỹ cho rằng một chiếc máy bay hoạt động ở độ cao trên 20km sẽ vớt khóa tâm của các máy bay chiến đấu,
tên lửa và thậm chí là cả radar của Liên Xô.
Nó sẽ cho phép thực hiện các chuyến bay xâm nhập vào không phận nước khác để trinh sát.
Cũng trong thời gian này, Liên Xô tuyên bố đã chế tạo thành công tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có thể bắn tới Mỹ.
Điều này khiến cho Washington hết sức đau đầu và gấp rút tìm cách kiểm tra tình hình thực tế.
Ngay lập tức, Tổng thống Mỹ Ryan Sehauger đã chỉ thị cho Arlen Dulles,
Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ CIA, bắt tay nghiên cứu chế tạo loại máy bay trinh sát thầm cào.
Sau một cuộc gặp với Tổng thống Eisenhower,
Cộng đoàn Lockheed Aircraft nhận được một hợp đồng trị giá 22,5 triệu đô la cho 20 chiếc máy bay đầu tiên.
Những chiếc máy bay này sau đó được đặt tên là U-2 với biệt danh Thiên Sứ.
Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của U-2 được triển khai vào tháng 8 năm 1955
và loại máy bay này chính thức được đưa vào hoạt động vào năm 1956 dưới sự quản lý của CIA.
Ban đầu, Mỹ nói rằng nó được sản xuất để nghiên cứu thời tiết phục vụ không quân Mỹ.
Tuy nhiên sau đó, báo chí phát hiện ra các nhiều phục vụ U-2 ở bên ngoài lãnh thổ nước Mỹ.
Những chiếc U-2 có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết,
ở độ cao không tưởng khoảng 21 km, gấp đôi độ cao của các máy bay thường mạng,
và làm nhiệm vụ không kề ngày đêm.
Về thiết kế, U-2 là loại máy bay do thám một chỗ ngồi, một động cơ,
thân dài, cánh rộng cùng với hệ thống cảm biến, camera đối nét cao, làm nhiệm vụ trinh sát.
Thiết kế độc nhất vô nhị đã khiến U-2 có những tính năng đáng không phục,
nhưng cũng khiến nó trở thành chiếc máy bay khó điều khiển.
U-2 rất nhạy cảm với gió và rất khó hạ cánh.
Để hỗ trợ phi công hạ cánh, một chiếc xe chuyên dụng cùng với người chỉ dẫn
sẽ thông báo mức hạ độ cao của máy bay khi nó giảm tốc độ.
Vì hoạt động ở tầm cao nên phi công phải mặc bộ quần áo bay theo kiểu chuyên dụng cho phi hành gia vũ trụ.
Bộ đồ này có thể cung cấp khí oxy và bảo hộ khẩn cấp trong trường hợp bị mất áp suất carbine ở trên cao.
Trên thức tế, U-2 chưa bao giờ được chế tạo để đo đạt huệ tiết.
Nó được trang bị những camera đối nét cao để chụp ảnh
và hệ thống điện tử kinh vịt nhằm thu thập các thông tin tình báo.
Mục tiêu chính của U-2 lúc đó là LISO, đối thủ lớn nhất của Mỹ trong chiến tranh lạnh.
Mỹ sẽ đưa vào những thông tin này để đánh giá các kế bộ khoa học và công nghệ của LISO,
đặc biệt là trong lĩnh vực khu vọng.
Ngoài ra, U-2 cũng được sử dụng để thu thập thông tin tình báo liên quan đến các hoạt động quân sự
trong các cuộc xung đột ở Syria, Iraq, Saudi Arabia, Lebanon và Yemen lúc đó.
24 tháng 7 năm 1956, U-2 bắt đầu thực hiện sứ mệnh gián điệp đầu tiên tại vùng trời LISO.
Vì LISO khi đó chưa chế tạo được loại vũ khí nào có khả năng bắn rơi máy bay gián điệp bay cao như vậy,
nên chỉ biết nhìn trời và than thở, mặc cho U-2 tự tung tự tác suốt 4 năm sau đó.
Cũng trong thời gian này, U-2 đã thu thập được rất nhiều tin tức có giá trị,
và nhờ vào đó mà Tổng thống Eisenhower tuyên bố rằng
LISO không hoàn toàn chiếm ưu thế về vũ khí hạt nhân sau phía Mỹ.
Nhưng đến ngày 1 tháng 5 năm 1960, tình hình đã thay đổi.
Vào đêm trước kỳ nghỉ ngày quốc tế lao động,
phi công Francis Warren Powers của CIA cùng chiếc U-2 cất cánh từ một căn cứ ở Pakistan
và bay tới một căn cứ quân sự khác tại Naui.
Với đường bay như kế hoạch ban đầu, Powers sẽ bay qua 5.000 km thuộc khu vực LISO.
Việc bay do thám như thế này, Powers đã thử nghiệm vài lần.
Những lần trước thì anh chỉ bay đến khu vực gần Moskova.
Nhưng trong nhiệm vụ lần này, Powers sẽ phải vào sâu hơn nữa
tới vùng trời trên eo biển Bahrain để làm nhiệm vụ trinh sát.
Cùng phế hợp với hành động của Gary Powers,
còn có một chiếc U-2 khác cất cánh từ Thổ Nhĩ Kỳ,
bay dọc các biên giới LISO nhằm đánh lạc hướng và thu hút sự chú ý của các trạm radar LISO.
Powers không thể ngờ rằng đây là chuyến bay gián điệp cuối cùng của anh,
bởi với thiết kế đặc biệt,
U-2 có thể dễ dàng trốn thoát sự kiểm soát của các radar và tên lửa phòng công của đội quân.
Khi đến gần thành phố Svolov Oblast ở dạy nước Iran,
Powers đã đụng độ với những chiến đấu cơ của LISO.
Nhưng anh ta vẫn hy tâm rằng các máy bay tiếm kích này không thể làm gì như những lần trước.
Tuy nhiên chỉ vài phút sau, những tiếng nổ chát chúa bắt tình linh vang lên.
14 tên lửa SAM-2 đã đông loạt suất kích nhằm vào chiếc U-2.
Powers lúc đó hoảng hốt, chỉ tiếp nhấn nút phát hiểm, và chiếc U-2 đã bị trúng đạn và nổ tung.
Khi vừa chạm đất, Powers đã bị lực lượng an ninh LISO tóm gọn.
Thực ra, ngay từ tháng 7 năm 1956, khi lần đầu tiên Mỹ cho U-2 chiếm sát trong lãnh thổ LISO,
Moscow đã phát hiện ra vị khách không mời mà đến này.
Do không có hỏa lực đạt tới tầng cao như vậy,
nền vực tiêu diệt thiên sứ vẫn là một nhiệm vụ bất khả thi.
Sau đó, để bán hạ được chiếc U-2, LISO đã bỏ ra không biết bao nhiêu cổ sức.
Trước khi xảy ra vụ Powers không lâu,
Mỹ đã ba lần cho U-2 bay tới trạm phóng tên lửa Spirovska để thám thính.
Lần thứ nhất, vì thấy tiết xấu nên không thể nào chụp ảnh, bay đến nửa đường đánh quay về.
Lần thứ hai, cũng vì không nhìn thấy gì mà tội công.
Lần thứ ba, vào ngày 9-24, U-2 đã chụp được những tấm ảnh quan trọng về trung tâm tên lửa Terratam
trên đường quay về bị quân đội LISO phát hiện.
Cho nên vào ngày 1-5-1960, khi Powers hành động, LISO đã sẵn sàng đòn đánh.
Bố trí chú đáo mạng lưới hỏa lực, chỉ còn chờ U-2 dẫn sạc đến.
Vũ khí chính của lưới hỏa lực quân đội LISO là tên lửa W-0 SAM-2.
Tên lửa này được bắt đầu nghiên cứu chế tạo vào cuối những năm 40 và trang bị cho quân đội vào giữa những năm 50.
Năm 1957, lần đầu tiên nó xuất hiện trong lễ rượt binh tại Moscow nhân ngay quốc tế lao động mùa 1 năm.
Cánh trước, cánh chính, hoàng và cánh đuôi của tên lửa thiết kế theo hình chữ thập dùng động cơ tên lửa phổ định.
Khi tác chiến, mục tiêu bị phá hủy nhờ vào 3.600 mảnh vỡ với tốc độ ban đầu là 3 km trên giây do sức nổi đảo rạc.
SAM-2 là vũ khí phòng không mũi nọn tiên tiến nhất của LISO vào thời bấy giờ.
Trong vụ bắn hạ U-2, SAM-2 tham gia tác chiến lần đầu tiên và đã có trình thắng vang rội.
Khi Powers điều kiển chiếc máy bay tới trung phận tỉnh Espolov,
các đơn vị SAM-2 do các đại bí tiêu đoàn trưởng Boris Moiseev và Ivan Illinis chỉ vì đã bắn rơi chiếc U-2 trên.
Nhưng tầm bắn xa nhất của SAM-2 lúc bấy giờ vẫn không tạt tới độ cao của máy bay U-2 Mỹ
sau nhiều lần nâng cấp, đó có bay hiện nay của SAM-2 lên tới 25 km.
Cho nên, dù SAM-2 được trang bị cho bộ đội phòng không khi U-2 bay vào liên xô lúc đó,
nhưng nó cũng không có khả năng tiêu diệt U-2.
Bởi vậy, sau khi phát hiện máy bay U-2 liên tục trinh sát các căn cứ quân sự tên lửa của mình,
dự đoán U-2 còn tiếp tục dò nhập nữa,
nền phía liên xô quyết tâm tìm cách ngăn chặn các cuộc thâm nhập của người Mỹ và gây ra sự quan ngại
khiến Washington không dám tiếp tục các vụ do thảm trên không bằng một kế hoạch đặc biệt
mà mãi tới 4 năm sau, người ta mới biết được sự thật của bộ việc.
Trong thời gian ấy, người ta vẫn thắc mắc không hiểu nổi máy bay của Powers bị rơi là do trục chặt kỹ thuật
hay là người liên xô đã có được loại tên lửa có thể bắn hạ U-2.
Điều bí ẩn này mãi tới năm 1960 mới được làm rõ
sau khi một điều quyên cao cấp liên xô là Paul Oleski tiết lộ bí mật.
Lúc đó, người Mỹ mới biết bộ phận hiển thị độ cao trên chiếc máy bay của Powers
đã bị điều quyên của liên xô gắn thiết bị đặc biệt
gây ra sự sai lệch về chỉ số trên chiếc đồng hồ đo đồ đạp.
Còn bản thân Powers khi đó thì vẫn đinh đinh cho rằng
anh bị bắn hạ khi đang bay ở độ cao trên 20 km.
Bí mật này cũng được đại tán nghỉ hiệu là Alexander Orlov
người đã trải qua rất nhiều năm trong lực lượng phòng không liên xô
và cũng là chỉ huy phụ trách về U-2 sau khi bị bắn hạ, khẳng định.
Trong một bài viết được xuất bản vào năm 1998, ông Orlov nhắc lại rằng
chiếc U-2 đã nằm trong tâm bắn của tên lửa SAM-2 khi bay qua khu vực Ural của liên xô.
Sau khi Powers bị bắt, phía Mỹ ngay lập tức khẳng định chiếc U-2 bị tai nạn
khi làm nhiệm vụ đó đặc biệt.
Nhưng viên phi công bị bắt sống và toàn bộ dữ liệu từ sát chiếc máy bay được giải má
đã phạch trần âm mưu do thám của cơ quan tình trạng Mỹ.
Viên phi công Powers bị kiết tội gián điệp và bị xử mời năm tù
ra mở nhà Lao Rubianka của KGB.
Một năm sau đó, viên phi công này được tha về nước sau một cuộc trao đổi tù binh.
Mới đây, U-2, biểu tượng của Mỹ trong thời kỳ chiến tranh lạnh,
suýt bị khai tử bởi máy bay do thám không người lái Global Hawk 30.
Nhưng do Global Hawk 30 có chi phí quá đắt đỏ,
và chất lượng do thám thua xa so với U-2,
nên đã giúp lão tướng U-2 của quân quân Mỹ tránh bị vệ hưởng.
Để đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của quân đội Mỹ,
3 chiếc máy bay do thám U-2 đã được đưa vào phục vụ từ thời chiến tranh lạnh,
được đại tù toàn bộ với giá tiền lên tới 1 tỷ đô la.
Bên trong quả sát phũ ký, những chiếc U-2 được trang bị hệ thống cảm biến
và liên kết dữ liệu hoàn toàn mới.
Nhưng chiếc U-2 hiện nay có khả năng bay cao hơn và thời gian bay làm nhiệm vụ dài hơn.
Nhờ được kết nối trực tiếp với mặt đất và vệ tinh,
U-2 có thể cung cấp thông tin do thám và tình báo nhanh chóng,
đồng thời giúp xử lý các tình huống cơ động hơn.
Vụ U-2 bị bắn hạ trên cũng là động lực để Mỹ chế tạo ra các thể thống tinh sát khác
như máy bay siêu thành Astro 71 hay là vệ tinh do thám Corona sau này.
Và sát chiếc U-2 bị Liên Xô bắn hạ kể trên hiện vẫn được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử quân sự này.
Thưa quý vị, Vụ việc Liên Xô bắn rơi máy bay do thám U-2 của Mỹ vào năm 1960
được coi là trường hợp nổi tiếng nhất về cuộc chiến trên không trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Cảm ơn quý vị đã theo dõi hết video.
Nếu có bất cứ thắc mắc hay góp ý nào, hãy để lại bình luận phía bên dưới cho chương trình biết.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và chừng thông báo để đón xem những video mới nhất từ tin Hot 247.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!