Làng nghề Sơn Đồng- Điêu khắc tượng Phật, đồ thờ có lịch sử hơn 1000 năm

Nghề Truyền Thống
340 người theo dõi
226 Lượt xem video·10 thg 11, 2024
. Nói đến tượng Sơn Đồng, nhất là tượng Phật - không những vang danh cả nước mà còn vang xa đến nhiều nước trên thế giới. Đến đây, người ta nghe tiếng đục đẽo lách cách khắp làng. Không giống như những làng nghề khác, chỉ toàn người già cố giữ nghề Tổ, Sơn Đồng quy tụ được những lớn thì lớp trẻ kế thừa với tay nghề ngày càng tinh xảo, có em bé mới 3 tuổi đã tập tành các cụp. Thợ Sơn Đồng quanh năm suốt tháng miệt mài tạo nên những pho tượng, họa phẩm từng ăn sâu trong thế giới tâm linh con người: những pho tượng A-di-đà, Di lặc, thần tài, những bức hoành phi câu đối,.
Hãy đăng kí cho kênh Ghiền Mì Gõ Để không bỏ lỡ những video hấp dẫn
Lại được các bậc thầy đạo cao đức trọng, trong đó có cả tiên ông, truyền dạy cho tinh thông cáo văn lẫn võ.
Khi trưởng thành, Ngài là một cha nam tưởng văn vũ toàn tài, ấn đức truyền tụng ngày càng lan xa.
Khi cha mẹ lần lượt qua đời, Ngài đem chia hết tài sản, tiền bạc, rộn đồng cho dân chúng.
Lòng lạnh như cho tàng, không mảng danh lợn, Ngài đi ngộ thu sợ thủy khắp nơi, cuối cùng tìm được đất lành sơn đồng.
Chính với dự đền thờ ngày nay, nơi đây cao giáo, địa khí rất vượng,
thể đất dồi dào, thanh long bạch hổ đều trầu về, cây cối tốt tươi, dân sinh thuần hậu, thật hiểm có nơi nào được như thế.
Đẹp lòng, Ngài thu nhận đệ tử, mở trường dạy học, ngôi trường được dựng theo hình chữ nhị.
Đền đường là nhà dạng, hậu đường là thư phòng và sinh hoạt, phong cách rất phong lưu, nhò nhã.
Có kẻ xấu bụng, muốn dâng công khiển lợi, đã ton hót về triều đình, vu cho Ngài tội xây trường hình chữ nhị, âm mưu phản nghịch.
Do thần lực tiên truyền rất thâm hậu nên Ngài đã biết trước.
Khi quan quân triều đình sắp kéo tới, Ngài bè sai đệ tử xin rước tượng Phật tử chùa ma tên rất lạ.
Gần đó về trường, lập đàn chàng lễ Phật tạm thời biến trường học thành nhà chùa.
Quan quân tới nơi, thấy vậy, liền trị tội tên tiểu nhân vu cáo, sinh sự sự sinh.
Mấy năm sau, nhà Tống kéo đại quân sang xâm lược nước ta, vận nước lâm nguy.
Vua kêu gọi anh Tài cùng toàn dân đứng lên cứu nước.
Nhà giáo Nguyễn Đào trực cùng đệ tử trường Sơn Đồng và toàn dân đã đứng lên, dùng sức người và sức trời giúp vua phá giặc.
Chém tướng nhà Tống là Hồ Nguyên Bảo bắt sống hai phó tướng, đuổi giặc chạy dài về bên kia ải chi lăng.
Thiên hạn Thái Bình, vua phong công hầu cho Ngài.
Nhưng Ngài xin không nhận mà tâu rằng bả dân Sơn Đồng, quốc oai lành hiền, chất phát, thuần hậu, nhưng còn rốt nát, vụn về lắm.
Thần xin trở về tiếp tục khai trường dạy dân làm ăn.
Khi nào nước cần thì thần và dân chúng lại xin hết sức phỏ vua giúp nước.
Vua chuẩn tấu, ban thưởng rất hậu, cho Ngài nuôi về dạy học như trước, khai hóa dân sinh cả một vùng rộng lớn.
Có lẽ nghề làm tượng Phật cũng do Ngài truyền cho dân chúng, từ sự tích nguyện tượng Phật chùa Mai.
Qua nhiều biến thiên của lịch sử nước nhà, hàng ngàn năm dân ta phải chịu cảnh cơ hàng từ Bắc thuộc đến Pháp thuộc.
Xong vẫn là một làng có truyền thống hiếu học và đôi bàn tay tài hoa.
Thế nên thời nào cũng có nhiều người đỗ đạt khoa bảng lường danh như Thư Lưỡng Quốc, bảng nhãn Thám Hoa, quận công, tiến sĩ, cửu phẩm văn giai, bá hộ kỹ nghệ.
Đời nào cũng có nghệ nhân đối tiếp phát hay nghề tổ tiêu biểu huấn nghiệp như
cựu Bộ Tục, cựu Bá Đấu, cựu Bá Vơ, cựu Bá Đề, Bá Sáu, Bá Dậu, cựu Kim, cựu Truyền, cựu Chủ Mộ, cựu Hán, cựu Tường, cựu Thạc, cựu Khẩn, cựu Nhung Thúy.
Các nghệ nhân lớp trẻ tiêu biểu cấp nhà nước như
nghệ nhân Nguyễn Viết Thạnh, chủ tịch hồn nghệ nhân, thợ giỏi thành phố Hà Nội, quý viên thường trực hiệp hội làng nghề Việt Nam,
người đã đào tạo ra nhiều nghệ nhân trẻ cho làng nghề Mỹ Nghệ Sơn Đồng,
nghệ nhân làng nghề Việt Nam Nguyễn Trung Nghị, Nguyễn Viết Thắng, Nguyễn Danh Sơn, Nguyễn Trí Dần, Trần Quang Hùng,
Nguyễn Viết Huân và còn rất nhiều nghệ nhân, thợ giỏi của làng nghề không sao kể hết.
Nói đến tượng Sơn Đồng, nhất là tự phật, không những vang danh cả nước mà còn vang xa đến nhiều nước trên thế giới.
Đến nay, người ta nghe tiếng lục đéo lách cách khắp làng, không giống như những làng nghề khác, chỉ toàn người già cố giữ nghề tổ.
Sơn Đồng quy tụ được những lớn thì lớp trẻ kế thử với tay nghề ngày càng cánh xảo, có em bé mới 3 tuổi đã tập thanh các cục.
Thợ Sơn Đồng quanh nắm suốt tháng miệt vài tạm nên những phò tượng,
họa phẩm từng ăn sâu trong thế giới tâm linh con người,
những phò tượng Azida, Zila, Thân Tài, những bước hoành phi cầu đối, nhìn những sản phẩm của họ.
Ta dễ nên tưởng đến nét tài hoa của các nghệ nhân đã tạm nên các phò tượng là Hán,
ở chùa Tây Phương, tự phật bảo ở chùa Keo có 102.
Năm 1956, hợp tác xã thủ công nghiệp Sơn Đồng ra đời, đúng với năm nghề truyền thống.
Hai nhóm nghề chạm khắc gỗ, Sơn Mài phải trẻ nhiều bước thăng chầm nhất.
Thời bao cấp, với quan niệm chống mê tín dị đoan, nghề gần như không phát huy được, thậm chí còn bị lãng quên.
Những nghệ nhân, thợ giỏi có tâm huyết trong lần thực sự băn khoăn lo lắng.
Làm thế nào để nghề truyền thống đã tồn tại trên 1.000 năm nay không bị mai mụt là một câu hỏi lớn không lời đáp,
dù họ đã phải chăn chở rất nhiều.
Phải mãi sau này, tới năm 1983, gần thời kỳ đổi mới,
ông Phải Nguyễn Đức Dậu, nghệ nhân từ thời thuộc Pháp mới làm được một việc có tính nhất quyết định.
Ông đứng ra tổ chức lớp học nghề chạm khắc gỗ và Sơn Mài, cốt truyền nghề cho con cháu.
34 học viên ngày đó, bây giờ người là thợ giỏi,
người là giáo viên, đang tiếp tục truyền nghề cho lớp trẻ trong làng, trong xã.
Đội mũ thợ và nghệ nhân của Sơn Đồng chủ yếu trưởng thành được là nhờ vừa làm vừa học.
Các thế hệ thầy trò trực tiếp truyền nghề cho nhau,
nhưng phương thức này hạn chế ở chỗ khó mở rộng quy mô và thời gian để trưởng thành khá lâu.
Tới nay nhìn lại, gần 30 năm đã chưa qua,
từ khóa học này, đa số các học viên đã trở thành các nghệ nhân chủ chốt, các chủ sản xuất lớn ngày nay.
Những năm 1998-2002, làng đã mở lên 2 lớp,
mỗi lớp có 50 học viên, học trong 18 tháng.
Tới nay cũng đã có rất nhiều người trưởng thành.
Xong kinh phí mở những lớp như thế khá tôn kém,
chi phí cho một học viên trong 18 tháng khoảng 10 triệu,
tổng kinh phí mở 2 lớp này tới 1 tỷ đồng.
Hiệp hội Làng nghề Sơn Đồng đã được thành lập từ năm 2000,
nhưng tới nay hoạt động ít hiệu quả, mới dừng lại ở hình thức.
Theo các nghệ nhân và cán bộ của xã,
sắp tới, cần kiện toàn và nâng cao năng lực của tổ chức này.
Có như vậy mới có thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường trong thời đại gia nhập về KFTO.
Năm 2007, Làng nghề Mỹ nghệ Sơn Đồng được công nhận làng nghề tiêu biểu Việt Nam,
được Ủy ban Trung ương bật trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ văn hóa thể thao và du lịch và nhiều bộ,
ngành tặng nhiều bằng khen, giấy khen và qua các cuộc triển lãm.
Gắn với việc xúc tiến thương mại du lịch làng nghề,
các nghệ nhân làng nghệ Sơn Đồng được tặng thưởng hàng trăm danh hiệu,
cuốc vàng, huy chương vàng, tinh hoa Việt Nam và các giải thưởng cao quý khác.
Mấy năm gần đây do phong trào khuyến học,
khuyến tài nở dỗ ông Nguyễn Nghiêm Đạt Dạnh và học chữ Hán Nôm,
thư pháp miễn phí cho con em trong họ ngoài làng với hàng trăm sĩ tử,
những ông đồ nhí biết đọc, biết viết và biết nghĩa lý của những con chữ trên hoành phi câu đối,
mang hồn quót bản sắc tinh hoa văn hóa Việt với hai mục đích là học để làm người và học để làm nghề.
Nói về nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng thật là,
mất người chưa thấy dung nhan Phật mà tự tay người Phật hiện ra.
Bởi các tích về kiến trúc trang trí mỹ thuật của các đạo tám giác đồng nguyên đã ngấm
nửa dân làng nghề người Sơn Đồng có duyên với Phật,
được Phật, Thánh Khai, sãng nghề nghiệp cho biết các thủ tướng tốt, vẻ đẹp của người,
rồi các nghệ nhân dùng ngôn ngữ điêu khắc thổi hốn vào tác phẩm.
Từ thỏa sơ Khai, các nghệ nhân làng nghề Sơn Đồng đã tham gia thi công nhiều công trình văn hóa thành Đại La,
nghề điêu khắc tạc tượng và đồ thử sơn son thép vàng.
Bạc Sơn Đồng phát triển mạnh từ khi nhà lý giới đô ra Thăng Long,
cùng với sự phát triển văn hóa tám giác đồng nguyên đạo lão, đạo thích, đạo khổng.
Đến nay làng nghề có tới trên 4.000 lao động thường xuyên,
thu hút khoảng hơn 1.000 lao động ở các địa phương trong cả nước đến học nghề,
và làm các công đoạn phụ cho làng nghề, ước đạt thu nhập thủ công nghiệp 65% toàn xã,
thị phân sản đồ thử sơn son thép vàng, bạc phục vụ mảng văn hóa tâm linh của làng phẩm tượng.
Nghề Sơn Đồng ước chiếm 60% trên toàn quốc, thích ứng với thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đổi mới,
đô thị hóa công nghiệp hóa nông thôn những lao động nhỡ nhàng có công ăn việc làm ly nông,
chứ không ly hương, tạo việc làm góp phần thiết thực ổn định xã hội và xây dựng quê hương đất nước.
