#17 [PL&ĐS] CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ (NGHĨA VỤ DÂN SỰ)

PHÁP LUẬT & ĐỜI SỐNG
34 người theo dõi
237 Lượt xem video·26 thg 9, 2025
Trong chuyên đề này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu các biện pháp bảo đảng thực hiện hợp đồng.
Trước khi đi vào nội dung chính, chúng ta cùng tìm hiểu hai tình huống như sau.
Tình huống thứ nhất, B vay của A 10 tỷ đồng, nhưng đến hạn, B không trả tiền cho A.
Tình huống thứ hai, C ký hợp đồng bán 100 tấn gạo cho D.
Tuy nhiên, khi C đã chuẩn bị hàng đầy đủ, D lại không muốn tiếp tục mua hàng.
Đây là những tình huống có thể thường xảy ra ở trên thực tế.
Vậy, nếu bạn là A hoặc C, bạn sẽ làm gì để bảo vệ quyền lợi cho mình khi tham gia vào các giao dịch này?
Để giải quyết vấn đề này, trong bộ luật dân sự đã quy định một số các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng chính,
bao gồm cầm cố, thế chất, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, kiếm chất và cầm giữ tài sản.
Hiểu một cách cơ bản, trong các hợp đồng có đi kèm theo các biện pháp bảo đảng thực hiện hợp đồng,
chúng ta thấy có hai quan hệ pháp luật đang diễn ra.
Thứ nhất là các quan hệ pháp luật chính. Đây là những quan hệ pháp luật mà các bên mong muốn thực hiện.
Thứ hai là các quan hệ pháp luật vũ. Bản chất của nó chính là những cái hợp đồng vũ nhằm đảm bảo để thực hiện hợp đồng chính.
Có nghĩa là chỉ khi nào nghĩa vụ của hợp đồng chính không được thực hiện đúng thì hợp đồng vũ sẽ phát sinh hiệu lực.
Chúng ta cùng lấy ví dụ về một hợp đồng vay tiền có sử dụng các biện pháp đảm bảo.
Theo đó, hợp đồng chính ở đây chính là hợp đồng vay tiền.
Theo đó, bên đi vay sẽ có nghĩa vụ trả cả tiền gốc và tiền lãi nếu có cho bên cho vay.
Và bên cho vay sẽ có quyền được nhận cả tiền gốc và lãi.
Còn hợp đồng vũ chính là các hợp đồng như là cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh tài sản.
Theo đó, nếu như nghĩa vụ của hợp đồng chính không được thực hiện, bên đi vay không trả lại tiền cho bên cho vay,
thì lúc này đối tượng của hợp đồng vũ sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật để thay thế cho nghĩa vụ của hợp đồng chính.
Chúng ta cùng lần lượt đi tìm hiểu các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Biện pháp đầu tiên mà chúng ta đề cập tới đó chính là cầm cố tài sản.
Cầm cố tài sản là việc một bên, sau đây gọi là bên cầm cố,
giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia, sau đây gọi là bên nhận cầm cố để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Cầm cố tài sản là một giao dịch bảo đảm, do vậy cần phải được lập thành văn bản.
Có thể là văn bản riêng đi kèm theo hợp đồng chính hoặc cũng có thể là một trong những điều khoản ở trong hợp đồng chính.
Theo đó, thời điểm giao kết của hợp đồng cầm cố tài sản sẽ là bên sau cùng ký vào văn bản,
và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng này kể từ khi bên bảo đảm chuyển giao tài sản của mình cho bên nhận bảo đảm.
Thời hạn thực hiện quyền và nghĩa vụ của giao dịch cầm cố tài sản sẽ theo thỏa thuận hoặc theo thời hạn của hợp đồng chính.
Một lưu ý rất quan trọng về tài sản cầm cố phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố.
Nếu như có đồng chủ sở hữu khác thì cần phải được sự đồng ý của họ trước khi dùng tài sản này là một đối tượng của hợp đồng bảo đảm.
Tài sản cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản, là vật hiện có hoặc là tài sản hình thành trong tương lai.
Về việc xử lý tài sản cầm cố sẽ được thực hiện theo những cách sau.
Nếu hợp đồng chính đã thực hiện xong thì tài sản cầm cố sẽ được trả lại cho bên cầm cố.
Tuy nhiên trường hợp nếu như đến hạn thực hiện nghĩa vụ chính mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc là thực hiện không đúng theo như thỏa thuận thì lúc này tài sản cầm cố sẽ được xử lý theo những thỏa thuận.
Nếu các bên không có thỏa thuận rõ ràng thì có thể lấy tài sản cầm cố đó đem bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
Bên nhận cầm cố được ưu tiên thanh toán từ tiền bán tài sản cầm cố.
Miện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng thứ 2 đó là Thế chấp.
Thế chấp tài sản là việc một bên gọi là bên Thế chấp dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia gọi là bên nhận Thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận Thế chấp.
Chủ thể ở trong giao dịch Thế chấp này cũng có bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm.
Tài sản được thực hiện trong trường hợp này cũng có thể là động sản hoặc bất động sản.
Hợp đồng Thế chấp cần được phải lập thành văn bản, có thể là văn bản riêng hoặc là một cái điều khoản trong hợp đồng chính.
Nếu pháp luật có quy định thì hợp đồng Thế chấp phải được công chứng chứng thực hoặc là đăng ký giao dịch bảo đảm.
Thường là những tài sản Thế chấp là bất động sản hoặc động sản có đăng ký quyền sở hữu thì sẽ thực hiện theo quy định này.
Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Thế chấp sẽ do các bên thỏa thuận hoặc từ thời điểm có công chứng hoặc là đăng ký giao dịch bảo đảm.
Thời hạn thực hiện quyền và nghĩa vụ của giao dịch Thế chấp sẽ do các bên thỏa thuận.
Nếu như không có thỏa thuận khác thì thời hạn sẽ thực hiện cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm.
Về tài sản Thế chấp cũng cần phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của bên Thế chấp là vật hiện có hoặc là tài sản hình thành trong tương lai.
Tài sản dùng để Thế chấp có thể là động sản hoặc bất động sản cũng như là vật vụ của các loại tài sản này.
Tài sản Thế chấp sẽ do bên Thế chấp giữ hoặc có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ.
Đối với việc xử lý tài sản Thế chấp thì cũng tương tự như là xử lý tài sản cầm cố.
Như vậy chúng ta có thể nhận thấy giữa biện pháp cầm cố và biện pháp Thế chấp có khá nhiều quy định của pháp luật tương đồng với nhau.
Tuy nhiên có một điểm khác biệt rất lớn đó là biện pháp cầm cố thì tài sản sẽ được chuyển giao cho bên nhận cầm cố.
Còn về tài sản Thế chấp thì không chuyển giao cho bên nhận Thế chấp mà vẫn thuộc về bên Thế chấp hoặc là do bên thứ ba giữ.
Thông thường bên nhận Thế chấp sẽ giữ những giấy tờ sở hữu của tài sản Thế chấp.
Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tiếp theo đó là bảo lãnh.
Bảo lãnh là việc người thứ ba gọi là bên bảo lãnh.
Tam kết với bên có quyền gọi là bên nhận bảo lãnh.
Sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ gọi là bên được bảo lãnh.
Nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Như vậy trong biện pháp này sẽ có 3 chủ thể tham gia.
Theo đó bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh sẽ ký kết với nhau một giao dịch chính.
Theo đó khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh hay còn gọi là bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng những nghĩa vụ đã cam kết đối với bên có quyền.
Thì lúc này nghĩa vụ của bên được bảo lãnh sẽ được truyền giao cho bên bảo lãnh.
Và bên bảo lãnh sẽ thực hiện một phần hoặc là toàn bộ nghĩa vụ theo đúng như thỏa thuận cho bên nhận bảo lãnh.
Cũng tương tự như đối với biện pháp tầm cố và thế chấp thì trong bảo lãnh cũng cần phải được lập thành văn bản.
Nếu pháp luật có quy định thì hợp đồng bảo lãnh cũng phải được công chứng hoặc chứng thực.
Về phạm vi bảo lãnh, có thể bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh,
bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thương thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh sẽ do các bên thỏa thuận hoặc kể từ thời điểm có công chứng hay đăng ký các giao dịch bảo đảm.
Đối với thời hạn thực hiện nghĩa vụ của các bên sẽ theo thỏa thuận.
Trong trường hợp nếu không có thỏa thuận thì thời hạn thực hiện hợp đồng bảo lãnh sẽ cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ của hợp đồng chính.
Tài sản bảo lãnh là động sản hoặc bất động sản.
Một quyền sở hữu của bên bảo lãnh là vật hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai.
Đối với việc xử lý tài sản bảo lãnh thì khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đường bảo lãnh
mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.
Việc khủy bỏ bảo lãnh sẽ được thực hiện nếu như bên nhận bảo lãnh đồng ý trừ trường hợp pháp vật có quy định khác.
Việc bảo lãnh sẽ được chấm dứt trong các trường hợp sau.
Thứ nhất là nghĩa vụ được bảo lãnh đã chấm dứt.
Thứ hai, việc bảo lãnh được khủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm pháp.
Thứ ba, bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
và thứ tư là theo thỏa thuận của các bên.
Tiếp theo là biện pháp đặt cọc.
Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tiên khí quý đã quý
hoặc vật có giá trị khác gọi là tài sản đặt cọc trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện nghĩa vụ.
Hợp đồng đặt cọc phải được lập thành văn bản và có xác nhận của các bên tham gia.
Việc giao kết hợp đồng đặt cọc cũng cần phải tuân theo quy định của pháp luật
và có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản đặt cọc.
Khi thực hiện hợp đồng đặt cọc, nếu bên đặt cọc giao kết thực hiện hợp đồng đúng theo quy định đã thỏa thuận
thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc.
Còn nếu bên nhận cọc từ chối việc giao kết thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc
và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Để minh họa cho các quy định về đặt cọc, chúng ta cùng xem xét ví dụ sau đây.
A đặt cọc 10 triệu đồng cho B để cam kết sau một thời gian 3 ngày sẽ ký hợp đồng mua 10 tấn gạo của B.
Sẽ có 3 trường hợp xảy ra.
Trường hợp thứ nhất, nếu 2 bên ký hợp đồng, B sẽ trả lại cho A 10 triệu tiền đặt cọc hoặc trừ vào số tiền hàng phải trả.
Trường hợp thứ 2, nếu A không muốn ký hợp đồng với B, A sẽ phải mất cho B 10 triệu tiền đặt cọc này.
Trường hợp thứ 3, nếu B lại là người không ký hợp đồng với A, thì ngoài việc phải trả cho A 10 triệu tiền đặt cọc đã nhận,
B còn phải trả thêm cho A 10 triệu nữa, coi như là một khoản tiền bồi thường vì đã vi phạm cam kết.
Tiếp theo là biện pháp ký cực.
Ký cực là việc bên thuê tài sản là tổng sản, giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc tiêm thí quý đã quý hoặc vật có giá trị khác,
gọi là tài sản ký cực trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê.
Tài sản ký cực được xử lý như sau.
Trường hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê sẽ nhận lại tài sản ký cực sau khi đã trừ tiền thuê.
Còn nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê.
Nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cực sẽ thuộc về bên cho thuê.
Và thông thường trên thực tế thì tài sản ký cực sẽ có giá trị bằng hoặc lớn hơn tài sản thuê.
Biên pháp thứ 6 là ký quỹ.
Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc tiêm thí quý đã quý
hoặc giấy tờ có giá vào tài khoản thong tỏa tại một tổ chức ứng dụng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ.
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên có quyền được tổ chức tín dụng nơi ký quỹ thanh toán bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra
sau khi đã trừ đi các chi phí dịch vụ.
Chúng ta thấy biên pháp ký quỹ có nhiều nét tương đồng đối với đặc cập
tuy nhiên ký quỹ sẽ ưu điểm hơn khi mà các khoản tiền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
sẽ do một bên thứ 3 có uy tín cầm giữ.
Khi xảy ra những cái vi phạm từ bên có nghĩa vụ thì bên thứ 3 sẽ thanh toán cho bên có quyền.
Viện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng tiếp theo là cầm giữ tài sản.
Theo đó bên có quyền gọi là bên cầm giữ đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ
được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Việc cầm giữ tài sản sẽ phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Bên cầm giữ tài sản có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ
và phải thanh toán các khoản chi phí cần thiết cho việc tạo quản và giữ gìn tài sản cầm giữ.
Bên cầm giữ tài sản được khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi lợi tức nếu như bên có nghĩa vụ đồng ý.
Giá trị của việc khai thác tài sản cầm giữ được bù trừ vào giá trị nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ.
Một ví dụ minh họa cho biện pháp cầm giữ tài sản sau
A bán cho B một chiếc xe đạp điện, nhưng B không đủ tiền để trả, do đó A đã cầm giữ chiếc xe đạp để đảm bảo rằng B sẽ phải hoàn thành nghĩa vụ trả tiền.
Tiếp theo là biện pháp bảo lưu quyền sở hữu
Trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ.
Trường hợp bên mua không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận thì bên bán có quyền đòi lại tài sản.
Bên bán hoàn trả cho bên mua số tiền bên mua đã thanh toán sau khi trừ giá trị hao mòn tài sản do sử dụng.
Trường hợp bên mua làm mất hay hư hỏng tài sản thì bên bán có quyền yêu cầu vù thường thiệt hại.
Biện pháp bảo lưu quyền sở hữu
Thường đi kèm với quan hệ pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chưa thanh toán đầy đủ cho bên có quyền thì bên có quyền có thể bảo lưu tạm thời chưa chuyển giao quyền sở hữu của hàng hóa cho bên mua.
Cuối cùng là tiến chấp
Tiến chấp cũng là một biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.
Theo đó, tổ chức chính trị xã hội ở cơ sở có thể bảo đảm bằng tiến chấp cho các cá nhân hộ gia đình nghèo vây một khoản tiền tại tổ chức tiến dụng để sản xuất kinh doanh tiêu dùng theo quy định của pháp luật.
Biện pháp tiến chấp cũng giống như bảo lãnh, cũng có sự tham gia của ba chủ thể.
Trong đó có chủ thể có quyền, chủ thể có nghĩa vụ chính và một người thứ ba đứng ra đảm bảo cho bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng theo thỏa thuận.
Tuy nhiên, trong biện pháp bảo lãnh thì thường người bảo lãnh sẽ phải dùng tài sản có giá trị của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cho bên có quyền.
Còn trong biện pháp tiến chấp thì thông thường các tổ chức chính trị xã hội chỉ dùng uy tín của mình để đảm bảo thực hiện hợp đồng.
Chúng ta cùng quay lại tình huống ở phần ngỏ đầu. Đối với tình huống 1, B vay quả A 10 tỷ đồng nhưng không trả.
Về bản chất đây là một hợp đồng vay tài sản theo quy định của bộ lập dân sự.
Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho mình thì bên A có thể yêu cầu bên B thực hiện các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ trả tiền
thông qua việc đặt cọc hoặc thế chấp các tài sản có giá trị trước khi chuyển giao số tiền vay cho B.
Tình huống thứ 2, C ký hợp đồng bán 100 tấn đạo cho D.
C đã chuẩn bị đầy đủ hàng hóa nhưng D không muốn tiếp tục mua hàng.
Thì đây cũng là một quan hệ về hợp đồng mua bán hàng hóa để bảo vệ quyền lợi cho mình.
C có thể yêu cầu D đặt cọc trước một khoản tiền đích định nhằm đảm bảo việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
Nếu như D không muốn tiếp tục mua hàng thì D sẽ mất số tiền đặt cọc.
Một biện pháp bảo đảm thứ 2 mà C có thể áp dụng đó là thực hiện việc ký quỹ tại các ngân hàng có uy tín.
Để củng cố thêm kiến thức đã học, chúng ta cùng giải quyết tình huống sau.
Ngày 28 tháng 10 năm 2023, ông K là phó giám đốc phụ trách tri nhánh Long Biên thuộc ngân hàng X đã ký hợp đồng tín dụng với ông A.
Theo đó, ông A vây ngân hàng X là 2 tỷ đồng trong thời hạn 3 năm.
Để đảm bảo phần vây, ông A đã thế chấp quyền sử dụng 200m2 tại số 12 Chùa Bọc cho ngân hàng X.
Hỏi 1. Hợp đồng trên chịu sự điều trình của các quy định pháp luật nào? Hãy giải thích.
2. Trên phương diện thẩm quyền ký kết, hợp đồng trên có hiệu lực trong trường hợp nào? Hãy giải thích.
3. Ngày 28 tháng 10 năm 2024, ông A tự ý cho thuê mảnh đất trên mà không thông báo với ngân hàng X. Hỏi việc cho thuê mảnh đất trên có hợp tác hay không?
4. Giả sử hết thời hạn thanh toán, ông A không trả được số nợ trên. Hỏi tài sản bảo đảm của ông A được xử lý như thế nào? Hãy giải thích.
