CHIẾN CUỘC TRUNG ĐÔNG LẠI BÙNG LÊN, VÌ SAO BẮC KINH MUỐN MỸ SA LẦY TẠI IRAN?

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
778 Lượt xem video·23 thg 7, 2026
CHIẾN CUỘC TRUNG ĐÔNG LẠI BÙNG LÊN, VÌ SAO BẮC KINH MUỐN MỸ SA LẦY TẠI IRAN?
Thưa quý vị, cuộc chiến Mỹ, Israel với Iran tưởng như đã tạm lắng sau bản ghi nhớ Islamabad ngày 14 tháng 6.
Nhưng chỉ hơn 3 tuần sau, ngọn lửa Trung Đông lại bùng lên dữ dội.
Từ eo biển Hormuz đến các căn cư Mỹ tại Jordan, Iraq và vùng Vịnh.
Những loạt tên lửa và UAV của Iran lần này không còn chỉ mang tính biểu tượng.
Chúng gây thương vong thực sự, phá hủy khí tải, xuyên thủng cả những lớp phòng không vốn được xem là tối tân của Hoa Kỳ.
Câu hỏi lớn đặt ra là, điều gì đã khiến năng lực tấn công của Iran thay đổi nhanh đến vậy?
Phải chăng Tehran đã tự mình rút kinh nghiệm sau nhiều tháng giao tranh,
hay phía sau còn có bàn tay hỗ trợ từ những thế lực lớn hơn?
Trong tâm điểm của nghi vấn ấy, cái tên Trung Quốc ngày càng được nhắc đến nhiều hơn.
Không phải với vai trò một đồng minh công khai, mà như một người chơi âm thầm, tính toán lạnh lùng,
dùng Iran như một con bài để giữ chân nước Mỹ tại Trung Đông.
Cuộc chiến giữa Liên minh Mỹ, Israel và Iran bùng nổ từ cuối tháng 2,
mở màn bằng loạt không kích của Mỹ, Israel và vụ ám sát lãnh tụ tối cao Ali Khamenei.
Khói lửa tạm lắng khi các bên đặt bút ký bản ghi nhớ Islamabad ngày 14 tháng 6,
song lệnh ngừng bắn mong manh ấy chỉ trụ được vỏn vẹn hơn ba tuần.
Ngay 7 tháng 7, Iran bất ngờ tấn công các tàu thương mại đi qua eo biển Hormuz.
Đòn đáp trả đến gần như tức thì, dạng sáng 8 tháng 7, Mỹ chính thức nối lại chiến dịch không kích.
Giữa lúc căng thẳng leo thang, một bản tuyên bố được cho là của tân lãnh tụ tối cao Mostaba
khẳng định việc báo thù cho người tiền nhiệm Khamenei là nghĩa vụ tôn giáo, điều nhất định phải thực hiện.
Tính đến ngày 21 tháng 7, Mỹ đã dồn dập mở 10 đợt tấn công nhằm bào mòn sức kháng cự của Iran,
nhắm thẳng vào hệ thống phòng không, radar, tên lửa, rôn, lực lượng hải quân,
các kho tên lửa cùng xuông chiến đấu của lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáo.
Song song đó, Mỹ phong tỏa đường biển các cảng Iran,
đồng thời đánh phá nhiều tuyến đường bộ và cầu cống hòng, cắt đứt những mạch máu tiếp tế của đối phương.
Về phần mình, Iran phóng tên lửa và rôn vào các mục tiêu Mỹ cùng đồng minh trải rộng khắp Jordan, Kuwait, Bahrain, Oman.
Điều đáng chú ý là những đòn đánh của Iran lần này gây tổn thất nặng nề hơn hẳn.
Theo thông báo của CENCOM ngày 18 tháng 7, ba binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng tại Jordan trong đợt tập kích
bằng tên lửa đạn đạo và UAV hôm 17 tháng 7.
Một quân nhân khác tử nạn tại Iraq khi đang xử lý một UAV cảm tử chưa phát nổ của Iran.
Như vậy, kể từ khi chiến sự tái diễn sau thời gian ngừng bắn,
đã có bốn binh sĩ Mỹ thiệt mạng nâng tổng số tử vong từ đầu cuộc chiến lên 16 người.
Và đây cũng là lần đầu tiên phiên Mỹ chịu thương vong về người kể từ khi xung đột bùng phát trở lại đầu tháng 7.
Không dừng lại ở đó, Iran còn phá hủy ít nhất 5 máy bay Mỹ tại căn cứ Al-Asraq,
trong khi hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot vốn được xem là tối tân lại để lọt nhiều loạt tên lửa đạn đạo.
Những dấu hiệu này cho thấy độ chính xác trong các đòn tấn công của Iran đã tăng lên rõ rệt
và khả năng xuyên thủng lưới phòng không Mỹ cũng được cải thiện đáng kể.
Sự thay đổi càng nổi bật khi đặt cạnh giai đoạn trước.
Từ năm 2024 đến đầu 2026, phần lớn tên lửa Iran đều bị hệ thống phòng không Mỹ và đồng minh đánh chặn,
thiệt hại chủ yếu chỉ dưng ở mức vật chất và tương đối nhẹ.
Thế nhưng đến tháng 7, tên lửa Iran đã trực tiếp gây thương vong cho binh sĩ Mỹ,
đồng thời phá hủy nhiều khí tài và cơ sở vật chất ngay tại các căn cứ,
một bước tiến không thể phủ nhận về năng lực xuyên phá.
Câu hỏi đặt ra là, bằng cách nào chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi,
Iran lại có thể tạo nên những bước nhảy vọt đến vậy trong các đòn đáp trả nhằm vào Mỹ và đồng minh trong khu vực?
Theo giới phân tích, việc Iran bất ngờ tung ra hàng loạt đòn đánh chính xác
nhằm vào các căn cứ Mỹ trong khu vực bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân cộng hưởng.
Các chuyên gia quân sự nhấn mạnh rằng, độ chính xác không nằm ở bản thân của tên lửa,
mà ở chỗ có được dữ liệu mục tiêu chuẩn xác.
Khi trinh sát vệ tinh và UAV theo thời gian thực được ghép với đầu dò dẫn đường,
ngay cả một vũ khí giá rẻ như UAV cảm tử cũng có thể biến thành mối đe dọa đáng ngợm.
Việc chuyển từ GPS sang tín hiệu bắt đầu vừa giúp tên lửa và UAV Iran đạt độ chính xác cao hơn,
vừa giảm nguy cơ bị Mỹ gây nhiễu điện tử,
vốn là gót chân Achilles của các hệ thống dẫn đường thế hệ cũ mà Iran từng phụ thuộc.
Một số công ty vệ tinh Trung Quốc được cho là đã công bố hình ảnh hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực.
Đáng chú ý, vài mục tiêu xuất hiện trong các bức ảnh này sau đó đã bị Iran tấn công.
Diễn biến ấy làm giấy lên nghi vấn về một nguồn tình báo mục tiêu từ bên ngoài,
đến mức truyền thông Pháp công khai đặt câu hỏi về một thế lực bí ẩn đứng sau nâng cấp độ chính xác cho Tehran.
Iran phóng đồng loạt số lượng lớn tên lửa vào UAV nhằm áp đảo số đạn đánh chặn hữu hạn của hệ thống Patriot,
khi buộc phải xử lý quá nhiều mục tiêu cùng lúc,
sát xuất lọt lưới tăng lên bất kể từng quả đạn có chính xác tuyệt đối hay không.
Trong nhiều đợt, Iran nhắm vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu radar cảnh báo sớm của đối phương trước tiên,
mất đi đôi mắt, khả năng phát hiện và phân loại mục tiêu bị bào mòn,
kéo theo hiệu quả đánh chặn của các lớp phòng thủ phía sau suốt giảm theo.
Sau nhiều tháng giao tranh liên tục, lực lượng Iran có thời gian điều chỉnh chiến thuật
và rút kinh nghiệm từ những thất bại ban đầu.
Theo New York Times, giới chức Mỹ thừa nhận Iran không chỉ còn kho tên lửa dồi dào,
mà còn ngày càng thanh thạo trong việc né tránh lưới phòng không Mỹ,
trái ngược với đánh giá lạc quan trước đó của ông Trump rằng năng lực tên lửa Iran
chỉ còn khoảng 21% so với thời điểm trước chiến tranh.
Có ghi nhận Iran phóng tên lửa đạn đạo vươn tới tận Diego Garcia khoảng 3,80 km,
vượt xa giới hạn 2.000 km vốn được cho là ngưỡng của dòng Khodramsakha.
Bước nhảy này gợi ý Iran có thể đã sở hữu biến thể hoặc công nghệ mới,
không loại trừ khả năng có bàn tay hỗ trợ kỹ thuật từ bên ngoài.
Nga được cho là đã chia sẻ với Iran kinh nghiệm chiến trường Ukraine,
từ chiến thuật chống gây nhiễu, dẫn đường tên lửa,
đến công nghệ chống nhiễu điện tử kiểu Cometa-M,
cùng thông tin tình báo về vị trí các căn cứ Mỹ.
Về phần mình, Trung Quốc cung cấp hệ định vị bắt đầu thay thế GPS khó gây nhiễu hơn,
các linh kiện điện tử và chip, đồng thời có thể hỗ trợ cải tiến radar và hệ thống dẫn đường.
Tuy nhiên, vai trò của hai cường quốc này không cần xứng.
Nga đang xa lầy tại Ukraine.
Các đòn UAV tầm xa của Kyiv nhằm vào Moscow và hạ tầng dầu mỏ trên khắp lãnh thổ,
kể cả những nhà máy lọc dầu tận Siberia, đẩy Nga vào cảnh thiếu hụt nhiên liệu.
Còn bán đảo Crimea thì bị cô lập.
Trong hoàn cảnh ấy, những gì Nga có thể chi viện cho đồng minh Iran là khá hạn chế.
Chỗ dựa thực sự nâng đỡ cả nền kinh tế Iran, cung ứng vật tư và linh kiện chế tạo tên lửa,
UAV, chính là Bắc Kinh.
Nói cách khác, Trung Quốc mới là trụ cột giúp chính quyền Tehran đứng vững.
Vậy Bắc Kinh đang toàn tính điều gì, và rốt cuộc mục tiêu khi chống lưng cho Iran là gì?
Trong một cuộc phỏng vấn do Viện Nghiên cứu Truyền thông Trung Đông đăng tải,
nhà kinh tế học người Iran Arsham Raisinejad, giảng viên kinh tế tại Regents College,
London và Đại học Essex đã đưa ra những kiến giải đáng chú ý về chiến lược của Bắc Kinh trong cuộc chiến Iran.
Luận điểm trung tâm của ông.
Trung Quốc đang dùng Iran như một công cụ chiến thuật để kiềm chế Hoa Kỳ thông qua xung đột.
Raisinejad nói thẳng rằng Trung Quốc đặt lợi ích của chính mình lên trên lợi ích quốc gia của Iran,
nghĩa là mối quan hệ này mang tính vụ lợi hơn là quan hệ đối tác chiến lược bình đẳng như Bắc Kinh vẫn tuyên truyền,
hay như những gì được vẽ ra trong thỏa thuận đối tác chiến lược toàn diện 25 năm giữa hai nước.
Theo ông, lập trường thực chất của Trung Quốc với Iran không phải là sự phòng thủ chung giữa các đồng minh truyền thống,
mà là một dạng hậu thuẫn có tính toán và có giới hạn. Căng thẳng có kiểm soát mới là điều Bắc Kinh mong muốn.
Raisinejad cho rằng Trung Quốc không muốn Iran thất bại hoàn toàn,
nhưng cũng chẳng hề mong một nền hòa bình thực sự ở Trung Đông.
Thì Bắc Kinh theo đuổi là trạng thái căng thẳng vừa đủ, được kiểm soát, nhằm hai mục đích cốt lõi,
giữ Iran như một con bài phân tán sự chú ý và nguồn lực của Mỹ khỏi khu vực châu Á, Thái Bình Dương, Đài Loan, Biển Đông,
đồng thời bảo đảm nguồn dầu giá rẻ và duy trì ảnh hưởng địa chính trị mà không phải trực tiếp nhúng tay vào.
Trung Quốc cần eo biển ho mút thông suốt và cần tiếp cận năng lượng giá rẻ từ Trung Đông.
Nhưng quan trọng hơn cả, Bắc Kinh muốn Iran giữ chân Mỹ tại khu vực này,
buộc Washington phải dồn sự chú ý cùng sức ép quân sự, ngoại giao vào Trung Đông
thay vì chút toàn lực áp lực lên chính Trung Quốc.
Nói cách khác, theo Ray Sinezad, Iran phần nào đóng vai trò vật cản giúp Bắc Kinh câu giờ chiến lược trong cuộc cạnh tranh với Mỹ.
Từ phân tích ấy, ông rút ra một hệ quả rõ ràng, chừng nào Iran còn đủ sức kiêm chế Hoa Kỳ,
đe dọa các căn cứ quân sự Mỹ ở Trung Đông và buộc Washington phải duy trì một lượng lớn tàu chiến,
hệ thống phòng không cùng binh sĩ ở Vịnh Ba Tư, thì Bắc Kinh còn hưởng lợi.
Bởi mỗi nguồn lực Mỹ buộc phải rót vào Trung Đông là một phần nguồn lực bị rút bớt khỏi eo biển Đài Loan,
Biển Đông và toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương.
Khác với kiểu tương trợ ràng buộc giữa các nước NATO hay quan hệ Mỹ-Israel,
những gì Bắc Kinh làm cho Tehran mang bản chất của một cuộc trao đổi song phẳng về lợi ích.
Trên thực địa, Trung Quốc được cho là đã cung cấp cho Iran nhiều loại hỗ trợ quân sự trong các cuộc xung đột gần đây,
bao gồm cả chiến tranh Hormuz, trang thiết bị, linh kiện tên lửa, dữ liệu vệ tinh, cùng một số công nghệ tên lửa,
UAV và hạt nhân thông qua hợp tác kỹ thuật.
Theo Ray Sineshat, trong giai đoạn giao tranh quanh eo biển Hormuz, Bắc Kinh đã chi viện cho Iran cả công khai lẫn ngấm ngầm,
từ khí tài đến dữ liệu vệ tinh, giúp các đòn tấn công của Tehran trở nên chính xác hơn.
Nghĩ vấn này không chỉ đến từ một phía.
Wall Street Journal cũng dẫn lời giới chức Mỹ nghi ngờ Trung Quốc hoặc Nga đang cung cấp dữ liệu chỉ điểm mục tiêu cho Iran,
sau khi nước này đánh trúng nhiều cơ sở nhạy cảm với độ chính xác bất thường.
Ở chiều ngược lại, Bắc Kinh thu về nguồn dầu giá rẻ.
Trung Quốc mua dầu Iran qua hình thức chuyển tải tàu sang tàu và các mạng lưới né tránh trừng phạt,
và đây chính là nguồn thu chủ lực để Tehran duy trì bộ máy cai trị cũng như nuôi các chương trình tên lửa, hạt nhân, UAV.
Xong.
Thế cân bằng trong mối quan hệ này rất chênh lệch.
Iran cần Trung Quốc hơn là ngược lại.
Với Bắc Kinh, Iran chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng thương mại,
trong khi Trung Quốc lại là chiếc phao cứu sinh kinh tế lớn nhất của Iran.
Chính vì thế, Bắc Kinh luôn đặt lợi ích của mình lên trước và không sẵn sàng gánh rủi ro lớn chỉ vì Tehran.
Theo Ray Sinezat, đây chính là điểm tinh tế trong tính toán của Trung Quốc.
Nếu căng thẳng Mỹ, Iran hạ nhiệt hoàn toàn.
Lợi ích chiến lược cốt lõi của Bắc Kinh giữ Mỹ mắc kẹt ở Trung Đông cũng theo đó mất đi.
Vì vậy, Trung Quốc không có động lực thực sự để thúc đẩy chấm dứt xung đột một cách nhanh chóng,
dù trên mặt công khai vẫn kêu gọi ngừng bắn và nối lại đàm phán,
như khi Ngoại trưởng Trung Quốc tiếp người đồng cấp Iran-Araqchi tại Bắc Kinh.
Nhưng Bắc Kinh cũng không hề muốn Iran châm ngòi trong một cuộc chiến, khu vực mất kiểm soát.
Nếu eo biển Hormuz bị đóng kéo dài, đòn giáng sẽ không chỉ rơi xuống châu Âu và Mỹ,
mà còn bổ thẳng vào chính Trung Quốc, quốc gia phụ thuộc nặng nề, vào dầu nhập khẩu từ vùng vịnh.
Bởi thế, điều Bắc Kinh mong đợi có lẽ không phải một chiến thắng quyết định của Iran,
mà là một Iran đủ sức tồn tại và trả đũa, song không kéo cả thị trường năng lượng vào cảnh tê liệt triển miên.
Đánh giá của Raisinejad khá đồng điệu với phân tích từ một số hãng truyền thông quốc tế.
Financial Times chỉ ra rằng, việc Mỹ liên tục tiêu hao tên lửa, đạn đánh trạn và nguồn lực quân sự
trong cuộc chiến với Iran có thể bao mòn khả năng sẵn sàng cho những kịch bản xung đột khác,
chẳng hạn một cuộc đối đầu liên quan đến Đài Loan.
Nhưng ở chiều kia, giá dầu leo thang và sự gián đoạn hàng hải ở vùng vịnh
cũng sẽ ráng tổn thất nặng đề lên kinh tế Trung Quốc.
Nói cách khác, ngọn lửa Trung Đông vừa mang lại lợi thế chiến lược, vừa ẩn chứa rủi ro đáng kể cho Bắc Kinh,
một canh bạc hai lưỡi mà Trung Quốc buộc phải chơi thật khéo.
Bắc Kinh không muốn Mỹ giành chiến thắng, nhưng cũng không muốn Iran thổi bùng ngọn lửa ra toàn Trung Đông.
Thoạt nghe có vẻ mâu thuẫn, song thực chất đây chính là chiến lược tối đa hóa lợi ích, tối thiểu hóa rủi ro của Trung Quốc.
Chiến lược ấy tựa lên 5 trụ cột chính. Đây là trụ cột thực chất và bền vững nhất.
Trung Quốc gần như là khách mua độc quyền dầu Iran, chiếm khoảng 14% lượng dầu thô nhập khẩu của nước này,
thường được rán nhãn lại thành dầu Malaysia để lách trừng phạt.
Nhưng bản chất mối quan hệ lại bất đối xứng rõ rệt.
Trung Quốc là bên định giá, còn Iran chỉ là bên chấp nhận giá.
Dầu Iran phải bán chiết khấu 6-8 đô la mỗi thùng so với dầu Brent.
Và trước chiến tranh, Bắc Kinh còn liên tục ép mức chiết khấu ngày một sâu hơn.
Tận dụng đúng thế bí của một Tehran, không còn nơi nào khác để bán.
Hưởng lợi trực tiếp là các nhà máy lọc dầu độc lập tập trung ở Sân Đông,
với biên lợi nhuận phục hồi mạnh nhờ nguồn dầu giá rẻ từ Trung Đông.
Đây rõ ràng là một quan hệ giao dịch vụ lợi,
chứ không phải thứ viện trợ anh em như tuyên truyền chính thức của cả hai bên vẫn tô vẽ.
Và mấu chốt nằm ở chỗ, chính việc Iran duy trì căng thẳng với Mỹ và Israel
mới là điều giúp Bắc Kinh giữ vững vị thế người mua duy nhất,
từ đó thu về khoản lợi ích kinh tế khổng lồ.
Trung Quốc còn xem quan hệ với Iran như một mắt xích trong chiến lược dài hạn
nhằm mở rộng vai trò quốc tế của đồng nhân dân tệ.
Các giao dịch dầu được thanh toán qua hệ thống CEPS,
hệ thống chạy song song với SWIFT bằng nhân dân tệ,
qua đó né hoàn toàn khỏi hệ thống đô la.
Iran cũng từng phát tín hiệu sẽ ưu tiên cho những tàu trở dầu thanh toán bằng nhân dân tệ
được đi qua Hormuz an toàn hơn.
Vô hình chung biến mình thành một phòng thí nghiệm thực địa
Hệ quả lô dịch, nếu quan hệ Mỹ-Iran hạ nhiệt,
chiến lược quốc tế hóa nhân dân tệ của Trung Quốc cũng mất đi một đòn bẩy quan trọng.
Trung Quốc chủ động tư định vị mình là bên trung gian hòa giải,
tương tự vai trò từng thể hiện trong việc gian xếp quan hệ Ả Rập Xê Út-Iran năm 2023.
Bắc Kinh tiếp đón Ngoại trưởng Iran, kêu gọi các bên kiềm chế,
ủng hộ nối lại đàm phán, đồng thời phản đối các lệnh trừng phạt đơn phương của Mỹ
nhắm vào doanh nghiệp Trung Quốc mua dầu Iran.
Thậm chí Bộ Thương mại nước này từng chỉ đạo doanh nghiệp không tuân thủ trừng phạt của Washington.
Nhưng vai trò trung gian ấy phục vụ một mục đích kép,
vừa đánh bóng hình ảnh cường quốc có trách nhiệm,
vừa duy trì ảnh hưởng với cả Iran lẫn các quốc gia vùng vịnh,
như Ả Rập Xê Út và UAE, những đối tác dầu mỏ quan trọng không kém.
Đây chính là làn danh Bắc Kinh phải giữ.
Nếu ngả về Iran quá nhiều, Trung Quốc sẽ làm mất lòng các nước vùng vịnh,
vốn là nguồn cung năng lượng chủ chốt.
Bởi vậy, Trung Quốc luôn cố giữ thế cân bằng
và trên bề mặt không ngừng tuyên bố trung lập, kiến tạo hòa bình.
Đây là phần gây tranh cãi nhất. Song bằng chứng gián tiếp lại ngày một rõ nét.
Trung Quốc bị nghi cung cấp cho Iran dữ liệu vệ tinh,
ảnh độ phân giải cao và tín hiệu định vị bắt đầu,
để tăng độ chính xác cho các đòn tấn công,
nghi vấn được cả chuyên gia Ray Sinezad lẫn giới chức tình báo Mỹ nêu ra.
Đặc điểm của kiểu hỗ trợ này là mang tính có thể chối bỏ.
Không hề có bằng chứng công khai xác thực về ảnh vệ tinh
Nhờ đó Trung Quốc tránh được việc bị quy trách nhiệm trực tiếp
hay bị lôi vào một cuộc xung đột quân sự chính thức.
Đáng chú ý, không có dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc gửi quân,
vũ khí hạng nặng hay đưa ra cam kết phòng thủ chung,
một sự khác biệt rõ rệt so với các mối quan hệ quân sự chính thức kiểu Nga,
Triều Tiên hay Nga, Iran.
Thay vào đó, phần lớn hỗ trợ được cho là đi theo con đường vật tư,
linh kiện lưỡng dụng phục vụ Iran phát triển tên lửa và UAV,
cách làm giúp Bắc Kinh luôn lách khỏi các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương Tây.
Thậm chí, một số vũ khí có nguồn gốc Trung Quốc như tên lửa vác vai
cũng không đến tay Iran một cách trực tiếp,
mà thông qua nước thứ ba, các đường dây buồn lậu hoặc từ những nhóm phiến quân trong khu vực,
thêm một lớp màn xương, giúp Trung Quốc phủi tay khỏi trách nhiệm.
Đây là điểm tinh vi nhất trong phân tích của Resneisat.
Trung Quốc không thực sự muốn Iran chiến thắng tuyệt đối,
nhưng cũng chẳng muốn Iran sụp đổ hoàn toàn.
Thứ Bắc Kinh theo đuổi là một mức xung đột vừa đủ.
Vừa đủ để giữ chân sự chú ý, nguồn lực quân sự và sức ép ngoại giao của Mỹ ở Trung Đông,
thay vì để Washington dành tay dồn toàn lực sang mặt trận Đài Loan, Biển Đông
hay cuộc chiến thương mại với chính Trung Quốc.
Và vừa đủ để vẫn giữ Iran như một nguồn cung năng lượng giá rẻ, ổn định.
Dù vậy, chiến lược này không hề trơn tru mà chứa đựng những mâu thuẫn tự thân.
Thứ nhất, Trung Quốc buộc phải cân bằng giữa Iran và các nước vùng vịnh
như Ả Rập Xê Út, UAE, vốn là những nguồn cung giàu lớn hơn nhiều
và chẳng hề muốn thấy Bắc Kinh ngả hẳn về phía Tây Hề Đàn.
Thứ hai, bản thân Trung Quốc cũng chịu thiệt hại nặng nếu khủng hoảng Hôm Út vượt tầm,
mất khoảng 1,5 triệu thùng giàu giá rẻ mỗi ngày từ Iran,
cộng thêm 4 đến 6 triệu thùng mỗi ngày từ các nguồn cung vùng vịnh khác đi qua eo biển này.
Nói cách khác, động cơ ủng hộ căng thẳng có kiểm soát của Bắc Kinh luôn có giới hạn của nó,
bởi một khi căng thẳng bị đẩy quá mức, nó sẽ quay lại ráng đòn vào chính lợi ích kinh tế của Trung Quốc.
Thứ ba, quan hệ an ninh, thực chất giữa hai nước thấp hơn nhiều so với đổn đoán.
Iran đã nhiều lần kỳ vọng nâng cấp quan hệ song phương lên mức đối tác chiến lược đúng nghĩa,
nhưng chưa từng nhận về cam kết cụ thể nào từ Bắc Kinh.
Xét đến cùng, chiến lược của Trung Quốc và Iran là bài toán khai thác tối đa lợi ích kinh tế đi đôi,
với giảm thiểu tối đa nguy cơ bị cuốn vào cuộc đối đầu trực diện với Mỹ.
Bắc Kinh hỗ trợ ngầm ở liều lượng vừa đủ để Iran không sụp đổ,
đủ để Tehran làm đối trọng phân tán sức mạnh của Washington,
nhưng tuyệt đối tránh mọi cam kết công khai hay hành động quân sự có thể kéo mình vào vòng xoáy xung đột trực tiếp.
Đó cũng chính là nghịch lý phơi bày bản chất mối quan hệ.
Dù trên giấy tờ mang danh đối tác chiến lược toàn diện,
trên thực tế Iran vẫn ở thế yếu và phụ thuộc vào Trung Quốc.
Nói cho cùng, Iran chỉ là một công cụ chiến thuật trong bàn cờ lớn của Bắc Kinh,
chứ không phải một đồng minh được đối xử bình đẳng.
Đến đây, những chia sẻ của chúng tôi cũng xin phép được tạm dừng.
Cảm ơn sự quan tâm của quý vị.
Nếu có bất kỳ góp ý nào, xin hãy để lại bình luận ở phần dưới.
Xin chào và hẹn gặp lại!
