MỸ - CUBA CĂNG THẲNG TỘT ĐỘ: TRUMP ÉP MEXICO CẮT DẦU, NGA - TRUNG VÌ SAO VẪN BÀNG QUAN ĐỨNG NGOÀI?

Tri Thức Mới
2.1K người theo dõi
373 Lượt xem video·4 thg 2, 2026
MỸ - CUBA CĂNG THẲNG TỘT ĐỘ: TRUMP ÉP MEXICO CẮT DẦU, NGA - TRUNG VÌ SAO VẪN BÀNG QUAN ĐỨNG NGOÀI?
Chào mừng quý vị trở lại vị trí thức mới, tôi là Lê Minh.
Thưa quý vị, tính đến ngày 3 tháng 2 năm 2026, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba đang bước vào
một giai đoạn căng thẳng nhất trong nhiều năm qua. Mỹ chủ động siết chặt áp lực kinh tế, năng lượng,
còn Cuba thì vừa phản kháng mạnh mẽ, vừa cố giữ một cánh cửa ngoại giao hé mở.
Sau khi trở lại Toà Bạch Úc, Tổng thống Donald Trump nhanh chóng đưa Cuba trở lại vị trí đối đầu.
Washington công khai coi Havana là một mối đe dọa an ninh, không phải vì sức mạnh quân sự,
mà vì Cuba bị xem là mắt xích, còn sót lại của hệ trục chống Mỹ tại Tây Bắn Cầu,
nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ đang tái cấu trúc ảnh hưởng tại khu vực Mỹ Latin sau biến động
tại Venezuela. Bước đi mạnh tay nhất của Mỹ trong giai đoạn này là đánh trực diện vào nguồn
sống năng lượng của Cuba. Chính quyền Trump ban hành các biện pháp nhằm ngăn chặn việc cung cấp
dầu cho Cuba, đồng thời gây sức ép lên các quốc gia từng hỗ trợ Havana, đặc biệt là Mexico.
Mỹ không chỉ dừng ở lời cảnh báo, mà còn đe dọa áp thuế và các biện pháp kinh tế với những nước
tiếp tục bán dầu hoặc hỗ trợ năng lượng cho Cuba. Động thái này khiến tình trạng thiếu điện,
thiếu nhân liệu và khó khăn sinh hoạt tại Cuba vốn đã nghiêm trọng, nay càng thêm trầm trọng.
Phía Cuba phản ứng gây gắt. Havana lên án các biện pháp của Mỹ là hành động cưỡng ép,
tống tiền và vi phạm chủ quyền, cho rằng Washington đang cố tình bóp nghẹt đời sống người dân
để gây bất ổ nội bộ. Tuy nhiên khác với những giai đoạn đối đầu cứng rắn trong quá khứ,
Cuba lần này không đóng sập hoàn toàn cánh cửa ngoại giao.
Các quan chức ngoại giao Cuba xác nhận rằng, đôi bên vẫn duy trì một số kênh liên lạc,
chủ yếu ở mức kỹ thuật và gian tiếp, như vấn đề di cư và trao đổi thông tin an ninh cơ bản.
Cuba nhấn mạnh rằng họ sẵn sàng đối thoại, nhưng chỉ khi Mỹ tôn trọng tục chủ quyền
và không dùng trừng phạt làm công cụ ép buộc. Mặc dù vậy, tới ngày 3 tháng 2,
thì đại sứ Cuba cho biết là nước này đang liên lạc với Mỹ trong bối cảnh bị ông Trump gây sức ép.
Một yếu tố quan trọng khiến căng thẳng leo thang là khủng hoảng năng lượng mang tính dây chuyển.
Trước đây, Cuba phụ thuộc lớn vào dầu từ Venezuela, nhưng sau khi chính quyền Maduro
sụp đổ và Hoa Kỳ kiểm soát lại dòng chảy năng lượng khu vực, nguồn cung này gần như bị cắt đứt,
Mexico trở thành nhà cung cấp thay thế mang tính nhân đạo,
và chính điều đó đã đặt Mexico vào thế khó xử giữa Cuba và Mỹ.
Dù chịu sức ép lớn từ Washington, chính phủ Mexico vẫn tuyên bố tiếp tục hỗ trợ Cuba
ở mức cần thiết để tránh khủng hoảng nhân đạo, cho thấy sự dạn nứt quan điểm trong
khu vực Mỹ-La Tinh trước chính sách cứng rắn của Hoa Kỳ.
Trong ngày 3 tháng 2, ông Trump đã gây sức ép buộc Mexico ngừng vận chuyển dầu
sang Cuba trong bối cảnh căng thẳng leo thang. Trong khi đó, tình hình nội bộ Cuba vẫn tiếp tục
xấu đi. Lạm phát cao, thiếu điện, thiếu lương thực và hạn chế Internet khiến đời sống người
dân ngày càng khó khăn. Các cuộc bất mãn xã hội không bùng nổ công khai trên diện rộng,
nhưng sự căng thẳng ở Mỹ là rất rõ. Đây chính là điều mà Washington tin rằng sẽ tạo ra đòn bẩy
chính trị, còn Havana thì coi là chiến tranh kinh tế trá hình.
Ở bình diện quốc tế, nhiều tiếng nói kêu gọi hạ nhiệt bắt đầu xuất hiện. Vatican,
thông qua giáo hoàng, đã lên tiếng kêu gọi Mỹ và Cuba đối thoại chân thành,
tránh để người dân Cuba trở thành nạn nhân của đối đầu địa chính trị.
Một số nước châu Âu và Mỹ-La Tinh cũng theo sát diễn biến, lo ngại rằng nếu Mỹ siết quá mạnh,
Cuba có thể xích lại gần hơn với các đối tác ngoài phương Tây, tái tảo một vòng đối đầu mới ngay
sát biên giới Mỹ. Nhìn tổng thể thì chúng ta thấy là quan hệ Mỹ-Cuba đang ở trạng thái đối đầu
cao độ, nhưng quan hệ cũng chưa đóng băng hoàn toàn. Mỹ đang thử chiến lược gây sức ép tối đa
thông qua năng lượng và kinh tế, còn Cuba thì cố gắng cầm cự, tìm kiếm sự ủng hộ quốc tế
và giữ một lối thoát ngoại giao để tránh kinh bản xụm đổ không thể kiểm soát.
Đây là một thế rằng có nguy hiểm. Chỉ cần một tính toán sai lầm thôi,
khủng hoảng nhân đạo hoặc là bất ổn khu vực có thể bùng phát,
kéo theo hệ lụy vượt xa quan hệ song phương. Ở góc độ của Mỹ mà nói,
sau khi Venezuela sụp đổ, điều mà Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump nhìn thấy không chỉ là sự
kết thúc của một chính quyền thu địch, mà là sự xuất hiện của một khoảng chống quyền lực
năng lượng cực kỳ lớn ở Tây Bán Cầu. Trong nhiều thập kỷ, Venezuela không chỉ là
một quốc gia xuất khẩu giàu, mà là trụ cột năng lượng tài chính, chính trị, nuôi sống cả
một hệ sinh thái các chế độ đối khám với Mỹ, trong đó Cuba là mắt xích trung tâm.
Khi Caracas sụp đổ, Washington hiểu rằng hậu phương chiến lược của Cuba đã bị rút phích.
Từ thời điểm đó, Cuba không còn là một thực thể độc lập về năng lượng,
mà đã trở thành một điểm yếu trơ trọi trong chuỗi kiểm soát của Mỹ tại khu vực.
Trong logic địa chính trị của Trump, Tây Bán Cầu không đơn thuần là khu vực ảnh hưởng,
mà là vùng sinh tồn chiến lược của nước Mỹ. Khác với Trung Đông hay Đông Á,
nơi Mỹ chấp nhận cạnh tranh, cân bằng và thỏa hiệp, Tây Bán Cầu là không gian mà Washington không
chấp nhận tồn tại các thực thể đối kháng có khả năng liên kết, nuôi dưỡng và kéo dài ảnh hưởng bên ngoài.
Cuba, xét về quân sự, không phải là mối đe dọa, nhưng xét về địa chiến lược thì họ nằm
ngay trên tuyến giao thương biển, sát các tuyến hàng hải quan trọng. Và quan trọng hơn cả là Cuba
từng là trung tâm trung chuyển ảnh hưởng của các thế lực ngoài khu vực vào sân sau của Mỹ.
Trump hiểu rằng quyền lực của Mỹ tại Tây Bán Cầu không được quyết định bằng quân đội và bằng
kiểm soát dòng chảy năng lượng. Ai kiểm soát dầu mò, ai quyết định ai được mua dầu,
ai bị cắt dầu, người đó kiểm soát nhịp thở kinh tế của khu vực.
Khi Venezuela sụp đổ, Mỹ không chỉ giành lại quyền kiểm soát một quốc gia,
mà giành lại quyền điều tiết dầu mò tại toàn bộ trụng Caribe, Trung Mỹ, Bắc Đà Mỹ.
Trong bức tranh đó, Cuba trở thành nốt thắt cuối cùng chưa được xử lý.
Chính vì vậy, việc Mỹ chuyển sang tấn công kiểu phong tỏa năng lượng của Cuba không
phải là hành động trả đũa hay ý thức hệ, mà là bước hoàn tất một chuỗi tái cấu trúc quyền lực
của khu vực. Trump không cần chiêm đóng Havana, cũng không cần lật đổ chính quyền Cuba bằng bạo lực.
Điều ông cần là đưa Cuba vào trạng thái không thể tự vận hành nếu không tin đến Mỹ,
và con đường hiệu quả nhất để làm điều đó chính là năng lượng.
Khi Mỹ xiết nguồn dầu, gây sức ép lên các nước trung gian như Mexico,
và đe dọa trừng phạt bất kỳ ai tiếp tục cung cấp nhiên liệu cho Cuba,
Washington đang gửi đi một thông điệp chiến lược rất rõ,
không có dòng năng lượng nào trong Tây bán cầu được phép vận hành bên ngoài sự cho phép của Mỹ.
Đây không chỉ là trừng phạt Cuba, mà là tái khẳng định quyền bá chủ năng lượng khu vực
sau nhiều năm bị sói mòn bởi Venezuela, Nga và Trung Quốc.
Chỗ này chúng ta cũng cần nói rõ hơn. Chẳng hạn như Venezuela từng là một trong những trụ cột
về quyền lực năng lượng ở Tây bán cầu, với chữ lượng dầu lớn nhất thế giới và sản lượng xuất
khẩu chiếm tỷ lệ đáng kể. Tập đoàn dầu mò quốc doanh PDVSA của họ từng kiểm soát các tài
sản quan trọng như gã khổng lồ xăng dầu Citgo ở Mỹ, từng chiếm đến khoảng 10% thị trường nội địa Mỹ.
Điều này có nghĩa là Venezuela không chỉ bán dầu, mà còn tham gia trực tiếp vào mạng
với cung cứng năng lượng của Mỹ và toàn cầu, tạo ra một dạng phụ thuộc lẫn nhau giữa Caracas
và Washington trước khi quan hệ sụp đổ. Trong hơn một thập kỷ qua, Venezuela đã phát triển
mối quan hệ sâu rộng với Trung Quốc, một trong những nhà nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới,
với hàng chục tỷ đô la tín dụng được trao đổi để đổi lấy dầu, giúp Bắc Kinh đa dạng hóa
nguồn cung và giảm bớt phụ thuộc vào các thị trường truyền thống như Trung Đông.
Điều này đồng nghĩa rằng Venezuela trở thành một cứ điểm năng lượng chiến lược không chỉ đối với Mỹ,
mà còn đối với Trung Quốc, mở ra một chục cung ứng dầu thô nối Caracas đến Bắc Kinh,
khiến Washington không thể đơn giản phớt lờ ảnh hưởng của đối thủ.
Đồng thời, Nga cũng đã tham gia vào mạng nơi này qua các khoản vay và cam kết quân sự,
chính trị với Maduro, khiến Caracas trở thành một trong số ít quốc gia ở vùng đệm đối trọng
với ảnh hưởng của Mỹ, cả về năng lượng lẫn địa chính trị.
Chính vì vậy, trong những năm trước khi sụp đổ, Venezuela không đơn thuần là một nước xuất khẩu dầu,
mà là một đối thủ chiến lược với vị thế đôi bên cùng lợi ích.
Mỹ phải chấp nhận Venezuela trong cấu trúc năng lượng khu vực, còn Nga và Trung Quốc dùng nguồn
tàn nguyên này để xây dựng ảnh hưởng sâu ở Tây Bán Cầu, khu vực mà Mỹ luôn xem là
sân sao chiến lược và học thuyết Monroe. Trong quá trình đó, quyền lực năng lượng của Mỹ
ở Tây Bán Cầu thực sự bị xói mỏn. Trở lại với câu chuyện Cuba,
ở tầng sâu hơn, Trump nhìn Cuba như một điểm nhiễu chiến lược còn sót lại trong chất tự mới.
Sau Venezuela, nếu Cuba vẫn tồn tại như một thực thể đối kháng, dù yếu,
thì nó vẫn là cánh cửa mở cho ảnh hưởng ngoài khu vực quay trở lại trong tương lai.
Trong logic của Trump, không xử lý Cuba khi nó đang yếu là một sai lầm chiến lược,
vì đến khi Cuba tìm được hậu phương mới, dù là Trung Quốc hay bất kỳ thế lực nào khác,
cái giá để xử lý sẽ cao hơn rất nhiều. Vì vậy, chiến lược của Trump mang tính
phòng ngừa quyền lực, chứ không phải phản ứng bị động. Ông không chờ Cuba trở thành mối đe dọa,
mà đánh khi mà Cuba đã mất hậu phương, mất năng lượng, mất khả năng mặc cả. Đây là thời điểm
Mỹ có thể buộc Havana phải lựa chọn, hoặc tiếp tục đối đầu và chấp nhận suy kiệt,
hoặc tái định vị mình trong chất tự do Mỹ trì phối.
Mỹ dưới thời Trump không tái lập quyền lực bằng quân sự và bằng việc khóa các dòng chảy năng lượng,
và Cuba, sau Venezuela, chính là mắt xích cuối cùng trong phép khóa đó.
Tuy nhiên, từ góc nhìn của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước đang phát triển,
việc Mỹ cắt nguồn năng lượng gây áp lực lên các nước thứ ba và đẩy Cuba một khủng hoảng
kinh tế, xã hội, không khác gì một hình thức bao vây thời bình. Cuba là một quốc gia nhỏ,
không có khả năng đe dọa quân sự, lại đang chịu khủng hoảng nội tại kéo dài.
Vì vậy, khi Washington xiết giàu, xiết tái chính và xiết cả đường sống nhân đạo,
hình ảnh hiện lên không phải là bảo vệ an ninh, mà là trừng phạt một quốc gia yếu thế để đạt
mục tiêu chính trị. Chính trên mặt phẳng đó, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov đã lên tiếng ngày 3 tháng 2
rằng, khẳng định áp lực kinh tế và quân sự đối với Cuba là không thể chấp nhận được.
Nhưng cần nói rõ, Nga không phát biểu như một nhà bảo trợ đạo đức thuần túy,
lập trường này phản ánh nỗi lo sâu xa. Với Nga, Cuba không còn là đồng minh quân sự kiểu
chơi tranh lạnh. Nga hiện không đủ nguồn lực để cứu Cuba bằng viện trợ lớn. Điều Nga lo ngại
thực sự là tiền lệ chiến lược. Nếu Mỹ có thể dùng quyền kiểm soát năng lượng và trừng phạt B
thứ Ba để bóp nghẹt hoàn toàn một quốc gia trong sân sau của mình, thì cùng logic đó,
Mỹ hoàn toàn có thể khóa chặt các không gian ảnh hưởng còn lại của Nga ở nơi khác,
từ Trung Á, Đông Âu cho đến Bắc Cực. Nói cách khác, Lavrov không chỉ bảo vệ Cuba,
mà đang bảo vệ nguyên tắc sinh tồn của Nga trong một chật tự do Mỹ áp đặt, rằng Washington không
được phép độc quyền quyền lực cưỡng chế kinh tế ở cấp khu vực. Nếu Cuba bị xử lý rất điểm
mà không gặp phản kháng, thì các không gian ảnh hưởng còn lại của Nga chỉ là vấn đề thời gian.
Đối với Trung Quốc, phản ứng có vẻ mềm hơn, nhưng lợi ích bị đe dọa lại sâu hơn. Bắc Kinh nhìn
Cuba không phải bằng lăng kính ý thức hệ và bằng lăng kính cấu trúc quyền lực toàn cầu.
Trong nhiều năm, Trung Quốc đã cố gắng mở rộng hiện diện kinh tế, tài chính và công nghệ tại Mỹ
Latin. Trong đó, Cuba là một điểm tựa biểu tượng và chiến lược, không phải vì quy mô thị trường,
mà vì vị trí địa chính trị và ý nghĩa phá thế độc quyền ảnh hưởng của Mỹ.
Khi Mỹ hành động cứng rắn với Cuba, và trước đó là Venezuela, điều mà Bắc Kinh thấy là một
thông điệp gửi tới Trung Quốc, rằng Mỹ sẵn sàng tái áp dụng học thiết Monroe bằng công cụ hiện đại,
không cần quân đội, và bằng năng lượng, tài chính và áp lực chuỗi cung ứng. Điều này đánh thẳng vào
chế lược dài hạn của Trung Quốc ở Mỹ Latin, nơi Bắc Kinh đã đầu tư hàng trăm tỷ đô để xây dựng
hiện diện kinh tế như một đối trọng mềm với Mỹ. Vì vậy, điều Trung Quốc thực sự lo không
phải là Cuba bị thiếu dầu, và là không gian chiến lược của mình bị thu hẹp một cách có hệ thống.
Nếu Mỹ thành công Cuba, thì thông điệp rất rõ, mọi hiện diện của Trung Quốc ở Tây Bắn Cầu đều
chỉ tồn tại chừng nào Washington cho phép. Điều này phá vỡ giả định nên tảng của Bắc Kinh,
rằng kinh tế có thể đi trước chính trị và quân sự trong việc mờ rộng ảnh hưởng toàn cầu.
Ở tầng sâu hơn nữa, cả Nga và Trung Quốc đều nhìn thấy trong hành động của Mỹ vốn dạng quyền lực
mà họ chưa có, hoặc chưa đủ mạnh để đối phó. Quyền lực kiểm soát dòng chảy năng lượng khu vực,
kết hợp với cưỡng chế bên thứ ba. Đây chính là thứ mà họ sợ bị áp dụng ở những mặt trận khác,
từ dầu khí Trung Đông, khoáng sản Châu Phi, cho đến các tuyến vận tả chiến lược.
Vì vậy, khi Nga và Trung Quốc lên tiếng phản đối, họ không đứng về phía Cuba vì Cuba,
mà vì chính họ. Vậy Nga và Trung Quốc có khả năng cứu Cuba hay không?
Trước hết, cần làm rõ cứu Cuba trong bối cảnh hiện nay nghĩa là gì.
Nó không phải là vài chuyến hàng viện trợ hay vài tuyên bố ngoại giao cứng rắn.
Cứu ở đây đồng nghĩa với việc thay thế được vai trò mà Venezuela từng đóng,
cung cấp năng lượng ổn định, bảo đảm dòng ngoại tệ, tạo lá chắn trước áp lực trừng phạt của Mỹ,
và quan trọng nhất là phá được quyền kiểm soát năng lượng tài chính của Washington tại Tây Bắn Cầu.
Đó là một nhiệm vụ cực kỳ tốn kém và rủi ro.
Với Nga, câu trả lời gần như là không. Nga ngày nay không còn là liên xô.
Moscow đang bị xa lầy về kinh tế, quân sự và tài chính bởi các mặt trận khác,
đặc biệt là châu Âu. Nga không có dư điện năng lượng để viện trợ quy mô lớn,
cũng không có khả năng bảo vệ các tuyến cung ứng tới Carribe trước áp lực của Mỹ.
Bất kỳ nỗ lực cứu Cuba theo kiểu hậu thuẫn dầu mỏ hay bảo trợ an ninh đều sẽ lập tức đối
mặt với rủi ro leo thang trực tiếp với Washington, điều mà Nga không đủ nguồn lực
để theo đuổi Tây Bắn Cầu. Đối với Trung Quốc, câu chuyện phức tạp hơn,
nhưng kết luận vẫn tương tự. Bắc Kinh có tiền, có dầu mua được trên thị trường,
có khả năng hỗ trợ tài chính và đầu tư. Về mặt kỹ thuật, Trung Quốc có thể giúp Cuba sống sót,
cấp tín dụng, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ năng lượng ở bức hạn chế. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ là Trung
Quốc không thể làm điều đó mà không chấp nhận đối đầu trực diện với Mỹ ngay trong sân sau của Washington.
Khác với Nga, Trung Quốc không dựa vào ý thức hệ với Cuba. Bắc Kinh vận hành theo logic lợi
ích rủi ro. Cuba là một thị trường nhỏ, nghèo, khả năng hoàn vốn thấp và rủi ro chính trị cực cao.
Để cứu Cuba thật sự, Trung Quốc sẽ phải phá vòng kiểm soát năng lượng và tài chính của Mỹ,
chấp nhận nguy cơ trừng phạt thư cấp, làm tổn hại đến các lợi ích lớn hơn của mình ở Mỹ Latin
và thậm chí cả thị trường Mỹ. Đó là một canh bạc quá đắt cho một quân cờ quá nhỏ.
Quan trọng hơn, Bắc Kinh hiểu rất rõ rằng Mỹ đang cố tình biến Cuba thành một cái bẫy chiến lược.
Nếu Trung Quốc lao vào cứu Cuba, Washington sẽ đạt được điều họ muốn, buộc Bắc Kinh bộc lộ
và tiêu hào nguồn lực ở một mặt trận bất lợi. Trong khi Mỹ nắm toàn bộ lợi thế địa lý,
quân sự và năng lượng, Trung Quốc không muốn rời vào cái bẫy đó.
Vì vậy, điều Nga và Trung Quốc thực sự có thể làm chỉ là kéo dài thời gian. Họ có thể giúp Cuba
không xung đổ ngay lập tức, giữ cho chính quyền Havana tồn tại, duy trì một mức ổn định tối thiểu
để tránh khủng hoảng nhân đạo toàn diện. Nhưng họ không thể thay đổi cấu trức quyền lực
đang xiết Cuba lại. Dòng chảy năng lượng ở Tây Bắn Cầu vẫn nằm trong tay Mỹ,
các nước trung gian vẫn sợ trừng phạt của Washington, và Cuba thì vẫn bị cô lập về mặt hệ thống.
Nói thẳng ra, Cuba hiện nay đã không còn là một quân cờ có thể được cứu bằng viện trợ,
mà đã trở thành điểm thử quyền lực. Mỹ đang thử xem họ có thể xiết đến đâu,
Nga và Trung Quốc thì đang thử xem họ có thể phản ứng tới mức nào mà không phải trả giá quá lớn,
và trong phép thử đó thì Havana ở vị trí yếu nhất.
Có một thực tế phũ phàng nhất của chính trị quốc tế là thế này. Không ai có thể cứu bạn nếu việc
cứu đó khiến họ phải trả giá cho lợi ích quốc gia của chính mình. Đồng minh hay đối tác chiến lược
chỉ tồn tại chừng nào lợi ích còn song chùng, khi bài toán buộc phải lựa chọn lợi ích quốc gia
luôn thắng. Cuba hôm nay, Venezuela hay bất kỳ quốc gia nào khác đều cho thấy một chân lý lạnh lùng,
chủ quyền thực sự không nằm ở lời cam kết, mà nằm ở năng lực tự quyết.
Vì vậy, bài học cuối cùng không phải là tìm thêm đồng minh, mà là tự xây dựng sức mạnh,
tự chọn con đường và tự nắm quyền quyết định số phận của mình. Bởi trong thế giới này,
không ai đặt vận mệnh của bạn lên trên vận mệnh của họ.
Hẳn quý vị còn nhớ, Trump nhiều lần nhấn mạnh rằng sức mạnh bền vững nhất không đến từ liên minh,
mà đến từ nội lực, từ khả năng tự sản xuất, tự bảo vệ, tự nuôi sống và tự ra quyết định.
Liên minh chỉ là công cụ hỗ trợ, không bao giờ là nền móng. Khi nội lực yếu,
liên minh trở thành ảo tưởng. Khi nội lực đủ mạnh, liên minh mới có giá trị.
Vì vậy, sức mạnh từ nội lực không có nghĩa là cô lập hay tự mãn,
mà là xây dựng nền tảng đủ vững để không bị ép phải chọn con đường do người khác vạch sẵn.
Đó là khả năng giữ quyền quyết định trong tay mình, dù hợp tác hay đối đầu.
Và đó cũng chính là bài học lớn nhất mà những biến động vừa qua đang buộc thế giới phải nhìn thẳng vào.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay xin được phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới.
Lên minh xin chào và hẹn gặp lại.
