Trong kỳ trước, chúng ta đã nói về “tham chiến“, cuộc chiến mà trong đó Đảng Cộng sản Trung Quốc lợi dụng lòng tham của các cường quốc phương Tây. Hậu quả của cuộc chiến mà ít người để ý đến này là gì?

1. Thách thức đạo đức từ sự “trỗi dậy kinh tế” của Trung Quốc

Nếu dùng phương pháp thống kê và nghiên cứu được thiết kế riêng cho nền kinh tế tự do phương Tây hiện đại để đo lường sự phát triển của Trung Quốc những năm qua, kinh tế Trung Quốc dường như đang phát triển nhanh, thậm chí mang khí thế “trỗi dậy”. Nhưng nếu xuyên qua màn sương mù của những con số, mô thức phát triển kinh tế Trung Quốc rốt cuộc mang lại gì cho nhân loại, đã và sinh ra ảnh hưởng xã hội tầng diện toàn cầu như thế nào thì câu trả lời trực diện cho những vấn đề này có thể trong chớp mắt phá tan bữa tiệc kinh tế được ghép nên từ những con số hào nhoáng bề mặt.

1.1. Sự phát triển kinh tế phương Tây kiến lập trên nền tảng đạo đức

Sự phát triển và lý luận kinh tế phương Tây xưa nay luôn được kiến lập trên nền tảng đạo đức. Điều này không chỉ thể hiện ở chỗ, mỗi cuộc trao đổi từ nguyên thủy đến “hàng đổi hàng” (barter trade) đều đòi hỏi công bằng, đối đẳng; mà còn biểu hiện ở việc quản lý, điều tiết kinh tế vĩ mô đương đại đều nhấn mạnh tính minh bạch và tính công ích (social welfare effect). Có thể nói, từ thuế khóa, giám sát thị trường vốn, kiểm toán, cho đến luật chống độc quyền (antitrust) phản ánh “cạnh tranh công bằng”, chức năng chính của chính phủ dân chủ trong lĩnh vực kinh tế là bảo đảm mỗi người tham gia có cơ hội cạnh tranh công bằng, và được quy phạm bởi luật chơi được công nhận như nhau, tức lý thuyết “sân chơi bình đẳng” (level playing field). Lý niệm kinh tế kiểu này của phương Tây, như nhà kinh tế học nổi tiếng đương đại, đại biểu của “trường phái Áo” Hayek đã trình bày đầy đủ, tương phụ tương thành với sự tôn trọng nhân tính sau thời “Phục Hưng” (Renaissance) của phương Tây, đặc biệt là quan điểm cho rằng hoạt động kinh tế kết tinh những nguyên tắc mà phương Tây cận đại kiên thủ như “tự do” và “lựa chọn”.

Rất đáng suy ngẫm là: tính đạo đức của thể chế kinh tế dân chủ chú trọng sự công bằng, minh bạch, nhân tính hóa của quá trình, chứ không để tâm đến kết quả tổng hợp lấy GDP làm chủ đạo. Ngược lại, các nhà kinh tế học mà Hayek là đại biểu cho rằng thứ “phồn vinh” được chế tạo dựa vào “điều tiết trung ương” (central planning) và “chính phủ can dự” (government intervention) là nguy hiểm, chuyên chế, do đó là phi đạo đức. Tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm này là danh tác kinh điển Hayek xuất bản năm 1944: “Con đường dẫn tới nô lệ” (The Road to Serfdom). Trong sách, ông trọng điểm mổ xẻ và phê phán nước Đức Quốc xã, kẻ tạo nên cái gọi là huy hoàng kinh tế và bày tỏ lo ngại sâu sắc về việc kinh tế toàn cầu sau chiến tranh đi tới nhất thể hóa và mang tính chuyên chế.

Nay, nhìn tổng quát kinh tế toàn cầu, người ta không thể không khâm phục tầm nhìn xa trông rộng của Hayek, cũng không thể không tiếc nuối vỗ tay than thở cho cục diện kinh tế thế giới, vốn lấy thị trường tự do làm định hướng và chủ thể rơi vào cạm bẫy chuyên chế hay “chủ nghĩa tư bản nhà nước” (state capitalism). Quả thực, từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 suýt đè bẹp nước Mỹ cho đến cuộc khủng hoảng nợ châu Âu vẫn đang lên men, có khả năng một đòn phá hủy “khu vực đồng euro”, kinh tế Âu Mỹ khủng hoảng rình rập bốn phía, đã đi đến ngã tư đường; đến nỗi một trong những chủ đề của “Diễn đàn Kinh tế Davos” chính là “Kinh tế thị trường phương Tây phải chăng đã chết”. Đáng sợ hơn nữa là: giới chính trị – kinh tế phương Tây tuy phổ biến nhận thức được cuộc khủng hoảng này quan hệ đến sống còn của chính mình, nhưng về nguồn cơn của nó thì đến nay vẫn chưa sờ thấy cửa. Chẳng những tập thể “mất phương hướng” về căn nguyên và tính chất của khủng hoảng, có kẻ thậm chí còn sùng bái đến đỉnh cái gọi là “mô hình Trung Quốc”, cho rằng đó là con đường mới mở lối riêng.

1.2. Vai trò của kinh tế Trung Cộng trong kinh tế toàn cầu

Nền kinh tế Trung Quốc đã qua hơn ba mươi năm “cải cách mở cửa” có thật là tiên đan diệu dược giải quyết được vấn đề kinh tế thế giới không? Vấn đề của kinh tế phương Tây rốt cuộc nằm ở đâu? Là tự thân hay ngoại tại? Vì sao độ sâu của khủng hoảng, một mặt chỉ có thể so sánh với cuộc “Đại Suy thoái” thập niên 20 do sự non nớt của kiến trúc thượng tầng kinh tế phương Tây gây ra; mặt khác lại vừa khéo xuất hiện đúng vào hôm nay, khi kinh tế Trung Cộng và phương Tây hoàn toàn dung hợp, không phân biệt anh tôi? Kinh tế Trung Cộng rốt cuộc đóng vai trò gì trong kinh tế toàn cầu? Có gợi mở gì cho cục diện và sự phát triển của thế giới?

“Cải cách mở cửa” là cọng rơm cứu mạng của chính quyền Trung Cộng đang treo trên sợi tóc

Sau Cách mạng Văn hóa, kinh tế Trung Quốc đầy thương tích; tỷ trọng GDP của nó trên toàn cầu cũng rơi xuống điểm thấp nhất trong lịch sử Trung Quốc, đến chính Trung Cộng cũng thừa nhận “kinh tế quốc dân ở bên bờ sụp đổ”. Trong tình thế ấy, đảng khôi Trung Cộng Đặng Tiểu Bình đề xuất “cải cách mở cửa” để cứu vớt chính quyền Trung Cộng đang lung lay sắp đổ. Trên thực tế, giữa hai lựa chọn phát triển kinh tế và củng cố chính quyền, Trung Cộng sẽ chọn gì, thì việc Giang Trạch Dân dốc sức cả nước bức hại Pháp Luân Công đã đưa ra câu trả lời đầm đìa máu: những cái lợi to lớn cho quốc gia, chính phủ, tiết kiệm lượng lớn kinh phí y tế dân sinh, nâng cao trình độ sức khỏe nhân dân, nâng cao trình độ đạo đức Trung Hoa, thảy đều bị gạt bỏ hoàn toàn, kéo Trung Quốc xuống vực thẳm vạn trượng.

Sau khi mất tính chính danh cầm quyền, thành tích kinh tế trở thành cọng rơm cứu mạng duy nhất của Trung Cộng.

Trung Quốc gia nhập WTO là khởi đầu của việc bắt cóc phương Tây

Nếu một nhà nghiên cứu có tâm phác họa chuỗi thời gian từ số liệu vĩ mô của kinh tế Trung Quốc hậu Cách mạng Văn hóa, một điểm ngoặt rõ rệt sẽ là năm 2001. Kinh tế Trung Quốc trước đó tựa như con la thồ nặng leo dốc, bị hàng loạt vấn đề: nợ tam giác, thuế quốc gia, thuế địa phương, chiến tranh thương mại với các nước phát triển và Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, v.v đè cho nghẹt thở; còn kinh tế Trung Quốc sau này nhìn bề ngoài thì như được thay bộ động cơ BMW. Người ta thường nói “không phá không lập”; sự phát triển kinh tế Trung Quốc cho người ta cảm giác luôn gào to “chỉ phá không lập”. Cùng với việc thể chế kinh tế toàn dân nguyên có bị phá vỡ, việc kiến lập một thể chế kinh tế tư hữu và pháp luật có trật tự, có hệ thống, toàn diện – tương tự tiến trình phát triển của các nước phát triển sau khi “Liên Xô – Đông Âu giải thể” – bị trì hoãn vô thời hạn. Việc kiến lập còn bị cố ý xử lý mơ hồ theo kiểu rỗng ruột, giản đơn, khái niệm hóa, khiến người ta bị làm cho hoa mắt chóng mặt triệt để, mất đi lòng tin, sự nương tựa và thái độ nghiêm túc cơ bản đối với nó.

Phóng mắt nhìn vào Trung Quốc, dưới những khẩu hiệu rỗng tuếch không biết đang nói gì, làm cho có lệ, thậm chí tự mâu thuẫn như “cải cách mở cửa”, “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc”, cái Trung Cộng đang tiến hành là một canh bạc vô thời hạn dùng kinh tế để duy trì nền thống trị độc tài của nó. Thử hỏi: “cải cách mở cửa” của Trung Cộng đã tiến hành mấy chục năm năm, có một thời gian biểu nào không? Không có cuộc cải cách nào như Trung Cộng cứ cải cách mãi không thôi. Cuộc cải cách không mục tiêu, không giám sát, không kế hoạch, thực chất là tấm bánh vẽ lớn treo trên trời để nhử khẩu vị của toàn thể dân chúng Trung Quốc và những nhân sĩ phương Tây bị che mắt. Nó là một bản “khế ước bảo mạng” để lay lắt tồn tại hệt như một tên tội phạm ba mươi năm ngày nào cũng giết người mà ngày nào cũng công bố một tờ cam kết “cải tà quy chính”. Từ tháng 10 năm 2001, bản khế ước ấy lại thêm một điều khoản mới, giúp Trung Cộng trong cuộc xung đột lý niệm giá trị tối hậu với thế giới tự do phương Tây có được một con bài tựa như “bùa hộ mệnh”. Tầm quan trọng của con bài này đối với những kẻ cầm quyền ở Trung Nam Hải rất rõ ràng. Vào WTO đã mang sinh cơ đến cho Trung Cộng vốn không còn đường tiếp tục, nhưng lại chôn xuống mầm họa sâu xa cho nền kinh tế phương Tây đang phơi phới bấy giờ.

Do cải cách của Trung Cộng không đụng đến “cải cách chính trị”, mà sự bất tài của Giang Trạch Dân càng khiến kinh tế quốc dân tan nát rời rạc. Tất cả những điều này trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng toàn diện của Trung Cộng cuối thập niên 90 về ngân hàng, thuế khóa và các phương diện khác. Bấy giờ nợ xấu của bốn ngân hàng quốc hữu lớn đều vượt quá một nửa, buộc Trung Cộng phải thông qua tấm chi phiếu khống, mở cửa “thị trường rộng lớn” của mình để trói mình vào kinh tế phương Tây mà vượt qua khủng hoảng. Nhiều năm trôi qua, giới chính trị – kinh tế phương Tây đột nhiên phát hiện: cái thị trường một tỷ người từng đầy sức cám dỗ chỉ là bọt ảo hư huyễn; sự bóc lột tài chính nặng nề cộng với đủ kiểu cưỡng đoạt khéo léo từ cải cách nhà ở, cải cách giáo dục đến cải cách y tế, đi kèm với xoá bỏ triệt để trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp phúc lợi cơ bản cho công dân, khiến khẩu hiệu “kéo nội nhu” hô hào năm này qua năm khác thành chuyện “Nghìn lẻ một đêm”, huống hồ kích thích dân chúng mua những sản phẩm nước ngoài giá đắt.

Trên thực tế, cái Trung Cộng thực sự coi trọng không phải cơ hội hợp tác công bằng, trao đổi có không với phương Tây, mà là nguồn vốn, kỹ thuật có thể truyền máu cho nó, cùng phần ăn chia từ việc hợp tác với tư bản lũng đoạn quốc tế nô dịch người dân trong nước.

Đầu năm 2012, “Ủy ban Kinh tế – An ninh Mỹ – Trung” trực thuộc Quốc hội Mỹ công bố báo cáo mới nhất về kinh tế Trung Quốc. Quan điểm trong văn bản phản ánh ở mức độ lớn sự tổng kết của giới trí nang chủ lưu phương Tây về mười năm ra nhập WTO của Trung Cộng: trong quá trình này, tính cạnh tranh tự do của kinh tế Trung Quốc chẳng những không tăng như dự kiến, ngược lại còn giảm mạnh. Điều này thể hiện ở chỗ: tuy tổng số doanh nghiệp quốc doanh lớn từ khoảng năm nghìn giảm xuống chỉ còn ba trăm, nhưng khối quốc doanh tính theo quỹ lương chỉ thuê 8% lực lượng lao động, lại khôi phục về mức 50% trong tỷ trọng GDP; còn doanh nghiệp tư nhân, từng tăng trưởng rõ rệt thời Đặng Tiểu Bình, thuê lượng lớn lao động thì co rút dưới đòn đánh của thiếu vốn, gánh thuế nặng nề cùng đủ loại chi phí ẩn do quản chế chính sách mang lại. Đến đây, toan tính do cựu Tổng thống Mỹ Clinton đề xuất thông qua “Trung Quốc ra nhập WTO” để nuôi dưỡng kinh tế tư doanh của nó và cuối cùng thực hiện tự do hóa thị trường, thậm chí thể chế chính trị tuyên cáo thất bại triệt để.

Cùng lúc đó, “New York Times” trong bản điều tra tin tức có sức ảnh hưởng nhất gần một năm của mình đã phanh phui sự bóc lột và bức hại kinh người bên trong nhà máy “Foxconn” đặt tại Thành Đô, Tứ Xuyên, nơi độc quyền toàn cầu sản xuất iPhone và iPad của Apple. Nhân vật chính của câu chuyện, một sinh viên tốt nghiệp chưa lâu, mỗi tuần làm việc 6 ngày, vậy mà vào ngày nghỉ, đang hẹn bạn gái cùng xem kịch vẫn bị gọi đi tăng ca. Chức trách công việc của cậu là giám sát công nhân dùng giấy nhôm mài bóng màn hình điện thoại Apple trong phân xưởng đầy bụi nhôm. Bi kịch xảy ra: khi cô bạn gái đứng chờ trước cửa rạp nghe lại được tin tức về người yêu mình, thì phân xưởng mài, nơi chỉ số bụi vượt chuẩn nghiêm trọng đã phát nổ, còn người yêu cô đang rên rỉ trên giường bệnh, chịu đựng những khoảnh khắc cuối cùng của quãng đời ngắn ngủi. Công chúng Mỹ xôn xao trước bản báo cáo: phút chốc, công ty Apple, trên thương trường nhờ lợi nhuận điện thoại thông minh mà như mặt trời giữa trưa, trên thị trường chứng khoán rực rỡ hào quang, trở thành kẻ thù chung bị nghìn người chỉ mặt. Thế nhưng, cùng lúc ấy, tại nơi xảy ra câu chuyện lại là một mảng im lìm. Có lẽ, thần kinh của dân chúng nơi đó đã bị chuỗi sự việc công nhân nhảy lầu tự tự cũng xảy ra tại “Foxconn” trước đó châm chích đến tê dại rồi. Càng chấn động lòng người hơn: trong toàn bộ quá trình này, chính quyền Trung Cộng ở đâu? Đã có biểu thị gì?

Việc Trung Cộng gia nhập nhất thể hóa kinh tế quốc tế đã phá hoại pháp tắc thương mại quốc tế công bằng sẵn có, khiến sự can dự thậm chí thao túng của nhà nước thành tất nhiên, làm xấu đi môi trường sinh thái của kinh tế thị trường. Học thuyết kinh tế tự do phương Tây từ Adam Smith thế kỷ 18 đã dựng nên lý thuyết thương mại quốc tế lấy “lợi thế so sánh” làm nền tảng. Khác biệt lớn nhất giữa lý thuyết này và “học thuyết trọng thương” thịnh hành trước đó là nó nhấn mạnh nguyên tắc cùng có lợi và trao đổi có không trên tiền đề phát huy ưu thế tự thân của mỗi đối tác thương mại, thúc đẩy kinh tế toàn cầu phát triển. “Học thuyết trọng thương” sở dĩ bị vứt bỏ cũng chính vì nó bó hẹp trong sự tích lũy tài phú dị dạng, hẹp hòi, không bền vững, bằng cách duy trì xuất siêu, hy sinh lợi ích của các đối tác thương mại khác. Thái độ tích cực của phương Tây đối với việc Trung Cộng nhập WTO ban đầu đến từ ảo tưởng về sức ràng buộc của pháp tắc thương mại quốc tế đối với Trung Cộng, và sự thèm khát “thị trường rộng lớn” hư huyễn của Trung Quốc. Còn Trung Cộng sau khi nhập WTO chẳng những tiếp tục thông qua sự can dự trần trụi của nhà nước để bảo hộ các thị trường cốt lõi như tài chính, năng lượng, viễn thông, mà còn thông qua thao túng tỷ giá nhân dân tệ, các hình thức trợ cấp nhà nước trá hình như “hoàn thuế xuất khẩu” mà đại hưng “chủ nghĩa trọng thương” để giành vốn liếng mặc cả với phương Tây, giảm nhẹ áp lực của cộng đồng quốc tế đối với sự bức hại nhân quyền của nó, và ăn mòn, lôi kéo chính khách, học giả, truyền thông phương Tây đứng ra chống lưng cho nền thống trị độc tài của nó.

Các nước dân chủ chủ yếu phương Tây, trong bối cảnh Liên Xô – Đông Âu giải thể, gió dân chủ tự do thành chủ lưu toàn cầu, đã lơi lỏng cảnh giác với pháo đài cuối cùng của thống trị cực quyền – Trung Cộng. Họ chẳng những mặc nó lớn mạnh, còn vì nhu cầu lợi ích ngắn hạn hoặc đảng phái của mình mà truyền máu cho nó, khiến Trung Cộng, thứ rác lịch sử từ lâu đã thành xác sống vẫn nô dịch, khống chế một phần năm dân số thế giới, trở thành hậu đài tổng của mọi tổ chức và chính quyền cực quyền, khủng bố, phản nhân loại trên toàn cầu, cấu thành mối đe dọa lớn nhất đối với hòa bình thế giới và các lực lượng tự do. Bề ngoài mà nhìn, Trung Cộng thông qua việc cung cấp sản phẩm giá rẻ cho các doanh nghiệp như Walmart đã tiết kiệm cho người tiêu dùng Mỹ mấy nghìn tỷ đô la (năm 2011 phía Trung Quốc ước tính 600 tỷ đô la Mỹ; giới học thuật phương Tây ước con số thực tế có thể cao hơn), và giúp Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có đủ không gian hoàn thành nhiệm vụ vốn bất khả thi, vừa giữ lãi suất thấp để thúc phát triển, vừa giữ lạm phát thấp để ổn vật giá dân sinh; nhưng cái giá mà Mỹ và cả phương Tây phải trả trong quá trình này là thảm khốc, thậm chí mang tính tự sát.

Ngoài ra, phương Tây ngây thơ hy vọng thông qua việc Trung Cộng gia nhập vòng tuần hoàn kinh tế quốc tế mà tăng tốc tư hữu hóa, thị trường hóa kinh tế của nó, cuối cùng kéo theo dân chủ hóa. Nhưng hiện thực phản ánh từ các sự kiện gần đây như “vạn người kháng thuế ở Hồ Châu”[1] và “ông chủ Ôn Châu bỏ trốn”[2] lại là: doanh nghiệp tư nhân, khối phát triển nhanh nhất, lợi nhuận cao nhất, sức sống mạnh nhất, thuê nhiều người nhất trong kinh tế Trung Quốc, lại bị vắt ép và làm khó ở những phương diện thể hiện rõ nhất sự nâng đỡ của chính phủ như thuế khóa, cho vay. Cùng lúc đó, doanh nghiệp quốc doanh giương biển “công ty niêm yết” nhận không từ nhà nước lượng lớn đất đai, khoản vay lãi thấp, cùng đặc quyền thuế thấp, cổ tức thấp nhờ tùy tiện làm sổ sách kế toán giả. Theo ước tính, tổng giá trị tài sản của 121 doanh nghiệp quốc doanh lớn nhất Trung Quốc từ 360 tỷ đô la Mỹ năm 2002 tăng vọt lên 2.900 tỷ đô la Mỹ năm 2010; trong đó giai đoạn tăng nhanh nhất vừa khéo là 2008-2009,lúc khủng hoảng tài chính thế giới hoành hành, cũng chính là thời gian thực thi “kế hoạch cứu thị 4 nghìn tỷ”. Còn trong tổng số khoản vay cao tới 1,4 nghìn tỷ đô la Mỹ mà các ngân hàng quốc hữu Trung Quốc cho vay năm 2009, 85% chảy về doanh nghiệp quốc doanh.

“Mô hình Bắc Kinh” mà Trung Cộng đề xướng, bề ngoài chỉ là “chủ nghĩa tư bản nhà nước”, đi con đường cũ của Đức, Nhật, Hàn; nhưng bản chất thì khác. Do đặc tính độc tài và chuyên chế ngoan cố của chính quyền Trung Cộng, cái “nhà nước” mà nó đại diện có khác biệt rất lớn với hàm nghĩa mà phương Tây hiểu, hay theo nghĩa thông thường. Ví như, trong số các “lãnh đạo” Trung Cộng hiện có, 17 người đồng thời kiêm nhiệm ông chủ các đại doanh nghiệp “cấp quốc gia”; còn trong Ủy viên Trung ương Trung Cộng, 27 người là lãnh tụ giới thương mại. Hiện thực chuyên chính một đảng của Trung Cộng trao cho những “ông chủ mũ đỏ” này quyền lực và tài nguyên gần như vô hạn, nhưng đồng thời lại gần như tước đoạt mọi sức ràng buộc công khai của xã hội, hay của “nhà nước” chân chính, đối với những con người ấy – khiến “mô hình Bắc Kinh” thành biến thể mới nhất, cũng cực đoan nhất của “chủ nghĩa tư bản quyền quý”.

Nhà báo nổi tiếng phương Tây, chuyên gia vấn đề Trung Quốc Richard McGregor khi mô tả những “quyền quý đỏ” này chỉ ra: các tổng giám đốc của hơn 50 công ty lớn nhất Trung Quốc, bên cạnh chiếc máy đầu cuối Bloomberg và tấm ảnh gia đình đặt trên bàn làm việc, luôn có một chiếc điện thoại màu đỏ nối thẳng Trung Nam Hải. Có lẽ, con đường quan lộ của Lý Tiểu Bằng, con trai cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng, kẻ nổi danh vì trợ giúp trấn áp “Lục Tứ” (cách gọi tắt của cuộc thảm sát sinh viên ở Thiên An Môn), cung cấp cho người ngoài lời chú giải sống động để hiểu câu nói này của McGregor. Ngày 3 tháng 6 năm 2008, 20 năm sau thảm án “Lục Tứ” (nguyên văn ghi vậy), Tân Hoa Xã phát tin tuyên bố Lý Tiểu Bằng “từ nhiệm” chức Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Bí thư Đảng tổ Công ty cổ phần Điện lực Quốc tế Hoa Năng để nhậm chức Phó Tỉnh trưởng tỉnh Sơn Tây. Thời điểm công bố bản bổ nhiệm này có mang ý vị chế giễu toàn thể dân chúng Trung Quốc một cách chọn lọc hay không, chúng ta không thể biết; nhưng một cuộc chuyển đổi từ ông chủ doanh nghiệp sang quan chức công quyền cấp cao, vốn trong thể chế bầu cử bình thường của phương Tây ít nhất cần hai năm (tỷ lệ thành công bất định), lại được công nhận và thực thi tức khắc chỉ qua một bản điện tín Tân Hoa Xã hoặc “văn kiện dấu đỏ” trong đảng, khiến người ta có nhận thức tự nhiên, trực cảm về độ chân thực hay hàm lượng vàng của những danh từ ngoại lai từ kinh tế thị trường phương Tây đang tràn ngập Trung Quốc như “công ty cổ phần hữu hạn”, “chủ tịch hội đồng quản trị”, “người quản lý mua lại”.

Trong mười năm Trung Quốc “nhập thế” (ra nhập WTO – ra nhập thế giới), Bắc Kinh khoét kẽ hở, giở trò vô lại không mở cửa thị trường, để doanh nghiệp quốc doanh do “Thái tử đảng” nắm giữ vơ vét lợi nhuận khổng lồ; dùng “bóc lột tài chính” làm suy yếu mang tính hủy diệt sức mua thực tế của dân gian; ra sức nâng đỡ doanh nghiệp quốc doanh “đảng sản”; chế tạo kinh tế bong bóng như bất động sản, đường sắt cao tốc để vơ tiền; thông qua vốn ngoại, doanh nghiệp ngoại, ngoại thương mà trói chặt kinh tế Trung Quốc vào kinh tế phương Tây, vinh cùng vinh, tổn cùng tổn.

Khủng hoảng kinh tế phương Tây là khủng hoảng đạo đức do Trung Cộng xuất khẩu

……………..

Kính mời Quý vị xem chi tiết tại đây: https://trithucvn2.net/van-hoa/su-that-ve-giang-trach-dan-10-1-su-sa-nga-trong-cuoc-chien-loi-dung-long-tham.html