Nét đẹp của nghệ thuật ngâm vịnh trong văn hóa truyền thống Á Đông

Ngâm vịnh có nghĩa là đọc thơ theo tiết tấu và vần điệu, là phương thức truyền thống ngâm thơ chữ Hán, đã có lịch sử hơn 2000 năm, truyền từ thế hệ này đến thế hệ kia. Đa số thơ chữ Hán được sáng tác theo phương thức ngâm vịnh, cho nên cũng chỉ có thể thông qua phương thức ngâm vịnh mới có thể cảm nhận sâu sắc nội hàm tinh thần và ý vị thẩm mỹ của thơ ca. Nghệ thuật ngâm vịnh là Di sản văn hoá phi vật thể của Trung Quốc, được công nhận là một trong những nghệ thuật thể hiện sức cuốn hút độc đáo của văn hóa Trung Quốc, rất nổi tiếng trên trường quốc tế.
Ngâm vịnh là hình thức ngâm thơ truyền thống của Trung Quốc, kể từ thời kỳ Tiên Tần, thông qua hệ thống giáo dục như trường tư thục và trường công lập, khẩu truyền tâm thụ, truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác. Ông Từ Kiện Thuận, Tổng Thư ký Hiệp hội Nghệ thuật Ngâm vịnh Trung Hoa, Phó Giáo sư trường Đại học Dân tộc Trung ương cho biết:
"Trong thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, vì hệ thống giáo dục thời đó không chấp nhận học lực của trường tư thục, nghệ thuật ngâm vịnh cùng với trường tư thục rút khỏi hệ thống giáo dục. Kể từ thời kỳ đó đã có người nghiên cứu nghệ thuật ngâm vịnh, chúng tôi được biết, học giả đầu tiên nghiên cứu nghệ thuật ngâm vịnh là ông Triệu Nguyên Nhiệm, năm 1922 ở Mỹ, ông đã viết luận văn về nghệ thuật ngâm vịnh. Sau ông Triệu Nguyên Nhiệm, nhiều học giả nổi tiếng đều kêu gọi đưa nghệ thuật ngâm vịnh trở lại hệ thống giáo dục."
Phó Giáo sư Từ Kiện Thuận luôn nghiên cứu về văn học cổ điển. Năm 2004, tại cuộc hội thảo về văn học với âm nhạc diễn ra ở Bắc Kinh, thông qua ca sĩ nổi tiếng Khương Gia Tương, ông Từ Kiện Thuận lần đầu tiên nghe được băng ghi âm về nghệ thuật ngâm vịnh. Sau đó, ông Từ Kiện Thuận bắt đầu quan tâm và nghiên cứu nghệ thuật ngâm vịnh—một nghệ thuật Trung Hoa hầu như thất truyền.
Ông Từ Kiện Thuận nói, ở thời cổ, ngâm vịnh giống như biết chữ, viết chữ, là kỹ năng cơ bản của văn nhân, miễn là từng học vài năm ở trường tư thục, thì biết ngâm vịnh. Thời cổ, ở nông thôn phổ biến đều có trường học. Vì vậy, ở thời cổ, không chỉ riêng văn nhân biết ngâm vịnh, nhiều người lao động và phụ nữ cũng biết ngâm vịnh.

Văn hóa Trung Hoa là văn hoá Lễ Nhạc, mục đích không phải là ràng buộc người, mà là giúp người có phong cách quân tử. Vào thời kỳ Xuân Thu, văn hóa Lễ Nhạc bị phá hoại, Khổng Tử phát minh nghệ thuật ngâm vịnh, một người, một đàn, là có thể ngâm vịnh. Kể từ thời đó, nhà Nho và văn nhân Trung Quốc thông qua nghệ thuật ngâm vịnh tiếp nhận văn hóa Nhạc, thuở nhỏ đi học ở trường tư thục dạy vỡ lòng, học "Tam Tự Kinh" là qua phương thức ngâm vịnh. Khi ngâm vịnh, người đọc sẽ cảm nhận được cái đẹp, cảm thấy say mê, cảm nhận sự cao cả và sức cuốn hút về nhân cách của người quân tử.
Nhưng, tình hình thực tế khiến người ta nuối tiếc, thời cổ ai ai cũng biết nghệ thuật ngâm vịnh, nhưng sau sự biến thiên của thời đại, nghệ thuật ngâm vịnh dần dần tiêu vong. Năm 1905, triều đình nhà Thanh phế bỏ chế độ khoa cử, trường tư thục đứng trước tình hình khó khăn, nghệ thuật ngâm vịnh lần đầu tiên vấp phải đòn giáng. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, trường học kiểu mới phát triển sôi nổi, trường tư thục tiếp tục tiêu vong. Sau năm 1949, nghệ thuật ngâm vịnh không được đưa vào nhà trường. Những người trí thức có tuổi trên 90 đều biết ngâm vịnh. Nhưng, hiện nay những người vẫn sống thì rất ít. Ông Từ Kiện Thuận nói:
"Hiện nay, các cụ già biết ngâm vịnh thường ở tuổi trên 80 hoặc 85, cả nước chỉ còn hơn 2000 cụ già biết ngâm vịnh, số lượng này như số lượng gấu trúc hoang dã, hơn nữa, ở nhiều khu vực rất có thể chỉ còn lại một cụ già biết ngâm vịnh."
Thực ra, không chỉ riêng người Trung Quốc, ở hải ngoại nhiều người yêu thích văn hóa Trung Hoa cũng rất thích nghệ thuật ngâm vịnh, nghệ thuật ngâm vịnh luôn thịnh hành ở những khu vực này. Các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philipin, Singapore v.v đều có truyền thống ngâm thơ chữ Hán. Ông Từ Kiện Thuận nói:
"Ở Nhật Bản, Trung tâm ngâm thơ nhiều như nhà hàng mì sợi kéo tay, có hơn 500 thành viên, ngâm thơ còn chia thành nhiều cấp bậc, ở mỗi một quán karaoke người ta đều có thể tập ngâm thơ. Ngoài ra, ở Nhật Bản, nghệ thuật ngâm thơ còn có chức năng tập luyện sức khỏe. Buổi sáng, sau khi dậy, người Trung Quốc thường đi rừng cây tập Thái Cực Quyền, người Nhật Bản thường đi rừng cây ngâm thơ, luyện khí nhằm tăng cường sức khỏe."
Ngâm Vịnh thơ trong văn hóa truyền thống phương Đông
Ngâm vịnh là một hình thức diễn xướng văn hóa truyền thống, kết hợp giữa ngâm thơ và vịnh, thường thấy trong các buổi sinh hoạt văn hóa, lễ hội, hoặc các dịp trang trọng. Nó mang đậm dấu ấn văn hóa Việt Nam, thể hiện sự tinh tế, tao nhã trong thưởng thức nghệ thuật và giao tiếp ứng xử.
Đặc điểm của ngâm vịnh:
- Kết hợp ngâm và vịnh:
Ngâm là đọc thơ theo giai điệu, có thể có nhạc đệm hoặc không. Vịnh là bình luận, đánh giá, cảm nhận về bài thơ, thường được diễn ra sau khi ngâm. - Mang tính nghệ thuật cao:
Ngâm vịnh đòi hỏi người thực hành có kiến thức về thơ ca, có giọng ngâm hay, có khả năng cảm thụ và diễn đạt tinh tế. - Gắn liền với các sự kiện văn hóa:
Ngâm vịnh thường xuất hiện trong các buổi lễ, hội làng, các cuộc thi thơ, hoặc các buổi giao lưu văn hóa. - Thể hiện sự tao nhã và tinh tế:
Ngâm vịnh là một hình thức thưởng thức nghệ thuật mang tính truyền thống, thể hiện sự thanh lịch và tinh tế trong văn hóa Việt Nam.
Vai trò của ngâm vịnh trong văn hóa Việt Nam:
- Lưu giữ và truyền bá văn hóa:
Ngâm vịnh giúp bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc. - Nâng cao đời sống tinh thần:
Ngâm vịnh mang lại niềm vui, sự thư thái cho người tham gia và người thưởng thức. - Gắn kết cộng đồng:
Ngâm vịnh thường được tổ chức trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, giúp tăng cường sự đoàn kết và giao lưu giữa các thành viên. - Giáo dục thẩm mỹ:
Ngâm vịnh giúp người nghe cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn ngữ, của thơ ca, từ đó hình thành gu thẩm mỹ tốt.
Ví dụ về ngâm vịnh trong văn hóa Việt Nam:
- Ngâm thơ Kiều:
Đây là một hình thức ngâm vịnh phổ biến, thể hiện sự yêu thích và ngưỡng mộ đối với tác phẩm "Truyện Kiều" của Nguyễn Du. - Ngâm vịnh các bài thơ truyền thống:
Các bài thơ ca dao, dân ca, thơ văn cổ điển thường được ngâm vịnh trong các dịp lễ hội, sinh hoạt văn hóa. - Ngâm vịnh trong các cuộc thi thơ:
Các cuộc thi ngâm vịnh được tổ chức thường xuyên, là sân chơi để các nghệ nhân thể hiện tài năng và giao lưu học hỏi.
Tóm lại, ngâm vịnh là một phần không thể thiếu trong văn hóa truyền thống Việt Nam, mang giá trị nghệ thuật, giáo dục và tinh thần cao, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc.
Thưởng trà vịnh thơ: Nét đẹp trong văn hóa Việt Nam
Trong dòng chảy của thời gian và biến động của cuộc sống hiện đại, thưởng trà đã trở thành một thú vui tao nhã mà nhiều người tìm đến để lắng đọng tâm hồn, cảm nhận được sự thanh tịnh. Đối với người Việt Nam, thưởng trà không chỉ là cách thưởng thức một thức uống mà còn là cách trở về với cội nguồn văn hóa, thấm đẫm trong từng giọt trà là cả một thế giới của tâm hồn, của thơ ca, của những mộng mơ và cảm xúc chân thành. Thưởng trà vịnh thơ là một nghệ thuật, một triết lý sống và là nơi mỗi người có thể tìm thấy chính mình.
Từ xa xưa, trà đã là một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa Á Đông, đặc biệt là ở Việt Nam. Thưởng trà ban đầu xuất phát từ tầng lớp quý tộc và học giả, với những lễ nghi trang trọng và phức tạp. Người Việt, với nét giản dị và thuần túy, đã biến nghệ thuật thưởng trà thành một phong cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, phản ánh tính cách bình dị mà tinh tế của dân tộc. Trà được coi là biểu tượng của sự hòa hợp với thiên nhiên, với đất trời, là sự dung hòa giữa con người và vũ trụ.
Người thưởng trà không chỉ để giải khát mà còn để “giải tâm” - đó là cách tìm đến sự bình an, thanh thản trong tâm hồn. Giữa một buổi sớm tinh mơ hay một chiều tà lặng lẽ, ngồi trước một ấm trà nóng, thưởng thức từng ngụm và cảm nhận hương vị đậm đà thấm sâu vào lòng, đó là khi tâm hồn như dần dần được “gột rửa” khỏi những phiền muộn. Trong không gian ấy, thơ ca thường tự nhiên trỗi dậy như một dòng suối ngọt ngào, hòa quyện vào hương trà, dẫn dắt người thưởng trà vào một thế giới của mộng mơ, của cảm xúc và suy tư.
Quá trình thưởng trà là một nghi thức chậm rãi, không vội vàng. Mỗi bước pha trà đều yêu cầu sự tinh tế, tỉ mỉ và cẩn trọng, từ việc chọn nước, đun sôi cho đến pha trà. Người Việt ta thường nói, “Trà ngon phải có bạn hiền.” Câu nói ấy không chỉ là một mệnh đề về điều kiện thưởng thức trà mà còn thể hiện quan niệm về sự kết nối trong cuộc sống, về mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên.
Trà và thơ có lẽ là hai thứ gắn bó mật thiết nhất trong đời sống của người Việt xưa. Cái thú tao nhã, thanh cao của thơ, khi kết hợp với vị đắng chát mà dịu ngọt của trà, tạo nên một sự hòa quyện tuyệt vời, mở ra một không gian của tâm hồn. Người thưởng trà thường tìm đến thơ để nói lên những suy nghĩ mà khó diễn tả thành lời, để bộc bạch lòng mình một cách chân thật nhất.
Nhà thơ Hoàng Thanh, trong bài thơ “Chén trà quê hương” đã viết:
Một ngày thăm viếng đất cao nguyên
Thưởng thức hương sen đậm vị thiền
Trà xanh pha nước dòng cam lộ
Hồn bỗng thanh cao hết muộn phiền.
Khi một người ngồi bên ấm trà, ngâm nga vài câu thơ, đó là lúc họ đang bước vào một thế giới riêng của tâm hồn, nơi mà không có những bon chen, ganh đua của đời thường. Trong không gian ấy, ta có thể cảm nhận được cái đẹp của sự lặng thinh, của những ý niệm bình dị nhưng sâu sắc, của những câu thơ truyền tải lòng biết ơn đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống. Những câu thơ cổ điển của Nguyễn Khuyến, với cảnh sắc làng quê Việt Nam, hay những câu thơ của Xuân Diệu về tình yêu và tuổi trẻ, đều là những tác phẩm hoàn hảo để thưởng thức cùng một chén trà nóng.
Thưởng trà còn là cách để con người tiếp xúc với triết lý nhân sinh. Mỗi một lá trà như là biểu tượng của sự giản dị và tinh khiết, ẩn chứa những thông điệp sâu xa. Trà đắng ban đầu nhưng ngọt hậu, như đời người phải trải qua những gian nan mới thấy được sự ngọt ngào, viên mãn. Qua hương vị của trà, con người học cách chấp nhận và buông bỏ, như khi trà chát đắng tan vào lòng, để lại một vị ngọt thanh mát nơi cuối vị giác. Trong quá trình uống trà, ta như được sống chậm lại, nhìn nhận cuộc sống bằng một thái độ khác, không quá vội vã mà đầy suy ngẫm.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của xã hội, việc thưởng trà dường như trở nên xa lạ với nhiều người trẻ. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận không nhỏ quay về với trà như một cách để tìm lại sự cân bằng trong cuộc sống đầy áp lực. Các quán trà, không gian thưởng trà hiện đại nhưng vẫn giữ được hồn cốt truyền thống, đã thu hút nhiều bạn trẻ. Thưởng trà không chỉ là cách trở về với văn hóa dân tộc mà còn là cách để họ khám phá bản thân, lắng nghe chính mình. Thưởng trà, khi kết hợp với âm nhạc nhẹ nhàng hay một quyển sách hay, là cách để họ tự chữa lành, là cơ hội để bước ra khỏi những bộn bề lo toan và lắng đọng tâm hồn trong giây lát.
Thưởng trà vịnh thơ không chỉ là một nét văn hóa truyền thống của người Việt mà còn là một triết lý sống, là nơi tâm hồn có thể tìm về những giá trị nguyên sơ nhất. Trong từng giọt trà, ta tìm thấy sự tĩnh lặng, bình an, và trong từng vần thơ, ta tìm thấy chính mình. Đó là cuộc gặp gỡ của hai thế giới - một thế giới của vị giác và một thế giới của tâm hồn, để tạo nên một trải nghiệm sâu sắc và trọn vẹn.
(C.N.C tổng hợp)


Comments