Học chữ Hán qua 198 Thien Bang P2 Viết chữ Hán Hán tự Tiếng Trung Lê Gia 720p

ChenHuang Handmade Leather
79 người theo dõi
4 Lượt xem video·9 thg 7, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Comments are disabled for this video.
Kính chào các bạn! Đây là bài học chữ Hán qua 198 thiên bàn, bài số 2.
Trong bài số 1, chúng ta đã tìm hiểu cái khái niệm thiên bàn bộ thủ và ý nghĩa của thiên bàn bộ thủ.
Đồng thời, chúng ta đã lượt qua 10 cái thiên bàn đầu tiên.
Hôm nay, trong bài số 2 này thì mình tiếp tục giới thiệu đến mọi người những thiên bàn tiếp theo.
Thiên bàn số 11, gọi là nhì ẩr có tên là ẩr tự nhì, nhì tự để.
Nhì tự ẩr tự có nghĩa là chữ nhì.
Để, tỷ có nghĩa là cái chân đế, cái bộ phần phía dưới cùng của một sự vật.
Thì những cái thiên bàn có cái tên là tỷ ở phía sau thì thường nó sẽ đứng ở phía dưới chữ, phía dưới để làm cái phần đế cho chữ.
Cái chữ ẩr này nó có cái hàm ý đó là cũng là người, rảnh, nhân.
Nhưng mà cái nhân này thường chỉ cho nam giới và ban đầu nó chỉ cho em bé trai, em bé sơ sinh.
Khi mà mới sinh ra thì em bé ở trên đầu cái xương mỏ ác của nó chưa có hợp lại.
Người ta biểu thể nó như thế này, bằng hình vẽ như thế này, chữ phồng thể viết như thế này.
Nhưng mà sau này thì cái phần phía trên được bỏ đi.
Trong chữ giảng thể thì chữ chỉ giữ lại hai cái nét ở dưới cùng, giống như là hai chân của một con người.
Một nét phải xuống, bên phải có một nét móc câu lên.
Ở, ta xem ví dụ.
Ví dụ đầu tiên là chữ huynh, xương, huynh trong huynh đệ.
Thì chữ cổ người ta viết như thế này.
Đến ngày hôm nay thì nó không có nhiều biến đổi, nó vẫn y như vậy.
Phía trên đầu nó là một chữ khẩu, là cái miệng có liên quan đến lời nói.
Phía dưới cũng là một chữ nhi, ở giống như hai cái chân.
Hình dáng nó giống như là một con người có hai chân đứng dạng ra và phía trên rất là nổi bật là cái miệng.
Chỉ cái người này đang ra lệnh hay đang nói lớn.
Thì chữ huynh nó chỉ cho người con trai ở trong một gia đình có quyền ra lệnh cho người khác làm việc.
Tiếng nói của anh ta nó có sức nặng.
Đó chính là huynh, người anh trai trong gia đình, người anh cả trong gia đình, gọi là xuân.
Thì trong chữ xuân này cái bộ nhi nó cũng chỉ cho người, mà đặc biệt là chỉ cho nam giới.
Chữ tiếp theo là chữ quan, quan.
Chữ quan này thì hình dáng thời xưa viết như thế này, chữ giáp cốt viết như thế này.
Nó có hai phần, phần phía trên là hình dạng giống như là một cái ngọn lửa, một ngọn đè.
Và trong chữ hiện đại thì nó có cái hình như thế này, giống như là những cái tia sáng phát ra từ một cái ngọn lửa.
Phần phía dưới cũng là chữ nhi, ở, giống như là có chân đứng.
Nhưng mà trong chữ cổ thì nó giống như là một người đang quỳ, một người thật ra là đang ngồi.
Nhưng mà cái thế ngồi của người xưa nó giống như là đang quỳ, người ta sẽ ngồi ở dưới đất, ngồi lên hai chân của mình.
Thì người này đang đổi trên đầu một cái ngọn đèn hay là một cái ngọn lửa gì đó có thể phát sáng.
Cái chữ quan, quan có nghĩa là ánh sáng.
Chữ tiếp theo là chữ dũng, dũng.
Chữ dũng này thì nó giống như là một người đang đứng và hơi cúi đầu, giống như đang gật đầu và đưa cái cánh tay ra.
Để tỏ cái ý là đồng ý, cho phép.
Chữ duyện hiện tại được viết như thế này.
Phía trên là một cái bộ tư, hình đầu người, hình cái phần trên của con người.
Phía dưới là cũng là hai chân, giống như là một người đang gật đầu, ân thuận.
Chữ duyện có nghĩa là cho phép, ân thuận.
Thiên bạc số 12 là kỷ.
Phiên âm là chi.
Tên của nó là kỷ tự đề.
Chi tự đề.
Chi tự, kỷ tự, có nghĩa là chữ kỷ.
Và thiên bạc này cũng có cái chữ tỷ ở phía sau, đề.
Có nghĩa là nó sẽ thường đứng ở phía dưới để làm cái thành phần đế cho chữ.
Hàm ý của nó là tiểu trắc tự.
Xiao chua tự, có nghĩa là cái bàn nhỏ.
Thì nhìn vô ta thấy cái hình dáng của nó cũng giống như một cái bàn nhỏ, giống như một cái kỷ trà.
Cách viết thì một nét phải xuống và một nét ngang gặp móc câu.
Chúng ta xem cái ví dụ đầu tiên cũng chính là cái chữ kỷ luôn.
Chi, nó có hai âm đọc, một là chi, hai là chi.
Cái âm đọc nguyên bản của nó là chi, kỷ, thì nó là một cái bàn nhỏ.
Và ngày nay chúng ta cũng dùng cái nghĩa này.
Ví dụ như cái kỷ trà, thì gọi là trà kỷ.
Âm đọc thứ hai là chỉ, khi đó nó có nghĩa là cái từ nghi vấn, có nghĩa là mấy.
Thì người ta mượn cái chữ chi để làm cái từ nghi vấn, để hỏi.
Chữ tiếp theo là chữ bằng, phiển.
Chữ bằng này ta thấy phía dưới cũng là một cái chữ kỷ, chi.
Ở phía trên thì nó là một cái chữ nhịm hay là nhậm.
Ở phía bên trước là một cái chữ nhân, và phía sau là một cái chữ nhâm.
Thì cái chữ nhịm này, nó chỉ một người đang mang vác một cái gì đó hay là một người đang mang thai.
Mà cái bụng của người đó sẽ to ra và nó nặng nề.
Hình dáng cổ của cả cái chữ bằng, chữ phiển như viết như thế này.
Phía dưới là cái chữ chi này, là cái bàn nhỏ.
Và phía trên là chữ nhân và chữ nhâm.
Một người đang mang vác một cái gì đó và người này cảm thấy mệt mỏi, nặng nề.
Và đang ngồi nghỉ ở trên một cái ghế nhỏ.
Một cái ghế nhỏ là chữ chi.
Thì chữ bằng, phiển có nghĩa là tựa vào, dựa vào.
Chúng ta hay nói là bằng chứng.
Một cái bằng chứng gì đó có nghĩa là một cái gì đó mà chúng ta dựa vào, chúng ta căn cứ vào để đưa ra một kết luật.
Thì gọi là bằng, bằng chứng.
Thì đó chính là cái chữ bằng này.
Chữ tiếp theo là chữ đó, tủa.
Chữ đó này thì cái chữ kỹ, chi nó lại nằm ở phía trên.
Và chữ chi này nó nhỏ, khi viết thì nó không có hất lên như thế này.
Mà nó chỉ đưa qua nhẹ nhẹ như thế này thôi.
Và phía dưới là một cái chữ mộc.
Chữ cổ, chữ triện được viết như thế này.
Phía dưới là một cái chữ mộc.
Chữ mộc có nghĩa là cây, cây cối.
Một cái cây có cành lá.
Cái phần chữ kỹ ở phía trên này, nó không có nghĩa là cái bằng nữa.
Mà nó là hình dáng này.
Hình dáng này nó giống như là một cái đó hoa.
Chữ tủa nó có nghĩa là đó.
Nó làm lượng từ cho cái bông hoa.
Một đó hoa.
Thiên bằng thứ 13 đó là thiên bằng đầu, đọc là thổ.
Tên gọi của nó là tiền khẩn thổ.
Điểm hoành đầu.
Điểm là chấm, hoành là gạch ngang.
Nó gọi là một chấm và một gạch ngang.
Còn đầu, thổ, có nghĩa là cái bộ phận ở trên đầu.
Những thiên bằng có chữ thổ, nó có nghĩa là thiên bằng này thường đứng ở trên đầu chữ.
Là bộ phận đầu cho chữ.
Cách viết của nó thì đơn giản một chấm và một gạch ngang.
Ví dụ như trong chữ văn, quẩn.
Chữ văn ta thấy là phía trên của nó cũng là một chấm, một gạch ngang.
Thiên bằng đầu.
Phía dưới là hai nét, phải và mắt.
Nó như một cái dấu chéo.
Và tổng thể hình dáng của nó là như thế này.
Đây là hình dáng của một người đang dơ cái ngực của mình ra và trên ngực của anh ta có những cái hình xăm.
Thì người ta lấy cái hình ảnh này để chỉ cho những cái hoa văn.
Đầu tiên là hình xăm.
Và sau đó là những cái hoa văn ở trên các cái vật dụng.
Đồng thời nó cũng chỉ cho cái văn tự, tức là cái chữ viết.
Văn, quẩn có nghĩa là hình xăm, hoa văn, văn tự.
Chữ kinh, chiên.
Chữ kinh này á, hình dáng của nó là một cái tòa thành cao.
Tòa thành cao.
Nó có cái chóp nhọn ở trên đầu.
Thì cái di tích chóp nhọn đó bây giờ viết trong chữ kinh, nó trở thành cái bộ đầu.
Một chấm và một gạch ngang.
Còn cái phần chân đế của cái tòa thành.
Nó là cái phần phía dưới, được viết thành một chữ khẩu và một chữ tiểu.
Nó giống như một cái chân đế.
Thì tổng thể hình dáng nó là cái tòa thành để chỉ cho kinh đô.
Chiên có nghĩa là kinh đô thủ đô, nơi có những cái tòa thành cao.
Chữ lục, liệu.
Chữ lục đầu tiên, hình dáng của nó là một cái ngôi nhà đơn sơ.
Phần phía trên cũng là cái chóp của ngôi nhà.
Nó cũng được biểu diễn trong chữ bằng một chấm và một gạch ngang.
Là bộ đầu, thổ.
Phần phía dưới, cái chân đế của ngôi nhà thì cũng là hai cái chấm.
Hai chấm, là hai phía.
Thì cái chữ lục, ban đầu nó chỉ cái ngôi tròi tranh đơn sơ thôi.
Nhưng mà sau này người ta mượn cái chữ lục này để chỉ cho con số.
Thì nó chính là số sáu.
Lục là sáu, đọc là liệu.
Thiên bằng thứ mười bốn là thiên bằng có tên là băng.
Tên của nó là lưỡng điểm thủy.
Lưỡng điểm có nghĩa là hai điểm, hai chấm.
Thủy là nước, thủy.
Đây là cái thiên bằng có liên quan đến nước.
Sau này chúng ta sẽ học một cái thiên bằng nữa có liên quan đến nước là tam điểm thủy.
Thì nó có ba chấm, thiên bằng này có hai chấm.
Hàm ý của cái thiên bằng Liên Tiến Suệ hay là băng này thì nó là...
Nó là piên, là băng.
Tức là những cái tảng băng.
Thì người xưa người ta quan sát những cái mảnh băng trôi ở trên sông.
Thì nó sẽ va vào nhau và nó sẽ xếp thành những cái hình giống như là hình chữ nhân như thế này.
Người ta biểu diễn bằng hai cái dấu như thế này.
Rút gọn còn hai chấm.
Hai chấm như thế này.
Nhưng mà nó cũng nằm cái hình dạng là giống như là va vào nhau như vậy.
Và cái nghĩa là băng cho nên nó cũng diễn dịch ra thành cái nghĩa gọi là hạn lọc.
Hạn lạnh có nghĩa là lạnh lẽo.
Chúng ta viết một chấm đi xuống và một cái phải đi lên như vậy.
Thường nó sẽ nằm ở phía trước chữ.
Chúng ta xem cái chữ băng.
Cái bộ này là bộ băng.
Nó có nghĩa là băng nhưng mà nó không được coi là một chữ.
Tại vì nó chỉ là thiên bằng thôi.
Còn bây giờ dùng để chỉ cái nghĩa là băng.
Những cái tảng băng thì chúng ta phải dùng cái chữ băng này.
Piên, cũng đọc là piên luôn.
Nhưng mà phía sau nó có một cái chữ thủy nữa.
Chữ thủy có nghĩa là nước.
Băng thì liên quan đến nước tất nhiên.
Và phía trước là có một cái bộ băng.
Thì nó mới có nghĩa là những cái tảng băng.
Hay là cái đá lạnh mà chúng ta bỏ vào nước uống thì cũng gọi là piên.
Chữ tiếp theo là chữ lọn.
Lạnh có nghĩa là lạnh.
Chữ lạnh này, nó cũng gồm hai thành phần.
Ở bên phải là một cái chữ lệnh.
Lệnh trong mệnh lệnh, ra lệnh.
Chữ lệnh này, hình dáng của nó là một người đang ngồi ở trong nhà với cái tư thế là ngồi quỳ.
Và ở bên ngoài trời thì có cái bộ băng.
Có nghĩa là lạnh, ở bên ngoài trời lạnh.
Và anh ta ngồi ở trong nhà để giữ ấm.
Chữ lọn có nghĩa là lạnh, lạnh lẽo.
Đây là chữ thứ.
Chữ thứ thì cũng có hai thành phần luôn.
Ở bên phải là một cái chữ khiếm.
Chữ khiếm có nghĩa là một người đang há to miệng.
Đây là cái phần miệng của anh ta.
Hình dáng của chữ khiếm lúc sơ khai nó như thế này.
Có cái phần miệng há to.
Còn ở phía bên trái của chữ nó có hai cái chấm.
Giống như là nước bọt ở trong miệng của người này bắn ra.
Trong chữ khải hiện đại nó được biểu diễn bằng hai cái chấm trở thành cái bộ băng.
Nhưng mà nó không có nghĩa là băng hay là lạnh giá nữa.
Bởi vì cái nguồn gốc của nó không phải là băng.
Mà nguồn gốc của nó là hai cái chấm giống như là nước bọt.
Thì cái chữ thứ này vốn dĩ nó là hình dáng của một người đang chửi bới hay là đang nói lớn tiếng.
Cái hành động của anh ta nó rất là khiếm nhã.
Cho nên chữ thứ nó có nghĩa là kém, kém cõi, không tốt.
Bởi vì cái nghĩa kém cõi không tốt cho nên là nó có nghĩa là thứ.
Có nghĩa là đứng sau những cái khác chứ không được đứng đầu.
Thiên bằng số 15 có phiên âm là mi.
Âm hóng Việt là mịch.
Và tên gọi thông thiện của nó là thu bảo cái, thốc bảo cái.
Bảo cái, bảo cái.
Nó chỉ là cái thành phần đổi ở trên đầu của cái chữ bảo.
Chữ bảo là chữ này.
Thì chúng ta có một cái thiên bằng khác gọi là thiên bằng bảo cái.
Nó là một chấm phải và ngang móc.
Còn cái này gọi là thốc bảo cái.
Thốc có nghĩa là trọc, trọc.
Có nghĩa là trên đầu này nó không có dấu chấm.
Mà nó chỉ có cái phần phía dưới này thôi.
Phần phía dưới này thôi.
Gọi là thốc bảo cái.
Chúng ta viết một dấu phải nhỏ, một nét ngang gập móc.
Thốc bảo cái.
Nó có hàm nghĩa là phù cái, phút cái.
Có nghĩa là chê đẩy.
Ví dụ như là trong chữ này, chữ oan.
Trong oan ức doan.
Ở bên trên nó cũng có một cái thốc bảo cái.
Một cái chữ mi.
Có nghĩa là chê đẩy chụp lên.
Chữ cổ là nó có hình giống như một cái vật chê đẩy chụp lên ở bên ngoài như thế này.
Ở bên trong, nó là một cái chữ thố.
Thù.
Thố tử thù tử có nghĩa là con thỏ.
Đây là hình một con thỏ.
Một con thỏ đã bị bắt, bị nhốt lại.
Con thỏ là một cái vật lương thiện.
Chỉ cho cái người lương thiện không có làm gì sai, không có làm gì xấu.
Mà bị bắt, bị nhốt lại như vậy.
Thì rất là oan uổng, oan ức.
Chữ doan với hình dáng như vậy thì nó có nghĩa là oan ức.
Tiếp theo là chữ thâm.
Xên.
Chữ thâm này thì hình dáng chữ cổ, chữ triện.
Nó là bên ngoài được bao bọc bởi một chữ gọi là chữ huyệt.
Chữ huyệt được viết như thế này.
Tức là cái hang động hay là cái hang của những con vật đào hang.
Thì ở trong chữ thâm này nó trở thành một cái thốt bảo cái.
Và hai cái chấm phía dưới.
Còn cái dấu chấm ở phía trên này nó đã bị lược bỏ đi rồi.
Không có dấu chấm.
Cái phần bên trong của chữ thâm.
Ở đây, trong chữ cổ nó là một cái bàn tay.
Một bàn tay đưa vào trong cái hang của con động vật.
Để dò xem cái độ nông sâu.
Cho nên chữ thâm có nghĩa là sâu.
Ở trong cái chữ hiện đại thì thay cái bàn tay này thành một cái chữ mộc.
Có nghĩa là cái cây gỗ.
Dùng cây gỗ để dò cái độ nông sâu.
Nó an toàn hơn là dùng tay.
Người ta đã cải tiến như vậy.
Sên có nghĩa là sâu.
Ngoài ra người ta thêm cái chữ thủy.
Đây là chữ ba chấm thủy.
Có nghĩa là nước.
Thêm chữ thủy ở phía trước để chỉ.
Đây là cái độ sâu của nước.
Sên thâm.
Chữ tiếp theo là chữ quán hay là quan.
Đọc là quán hay là quạnh.
Có hai âm đọc.
Âm đọc đầu tiên nó là quán.
Thì chữ quán này thì ban đầu nó cũng có một cái vật che ở bên ngoài như thế này.
Thì cũng được biểu diễn trong chữ thành một cái chữ mệt mị.
Là thốt bầu cái.
Che đại phía trên như vậy.
Ở phía trong nó gồm hai thành phần.
Thành phần thứ nhất là một cái chữ nguyên.
Đây.
Một cái chữ nguyên.
Chữ nguyên như thế này.
Nó có nghĩa là...
Cũng có nghĩa là người.
Nhưng mà người ta...
Khi người ta chú trọng cái phần đầu.
Thì người ta sẽ dùng chữ nguyên này.
Phần đầu người.
Và cái thành phần bên này nó là một cái cánh tay.
Cánh tay đang cầm nắm một cái gì đó.
Thì dùng chữ thốn.
Cho nên đọc là thốn.
Thì tổng thể cái chữ quán này.
Hay là quan này.
Nó có nghĩa là...
Một người đang...
Cầm...
Một cái mũ.
Cái thốt bầu cái này trở thành một cái mũ.
Một cái vật chê đại trên đầu.
Một cái khăn hay là một cái mũ gì đó.
Để chê lên đầu.
Chê lên cái chữ nguyên này.
Thì...
Nó chỉ cho...
Cái mũ, nón hay là cái khăn đổi đầu.
Những cái vật gì mà đổi lên đầu.
Khi đọc là quan.
Thì nó có nghĩa là vương miệng.
Như vậy chúng ta thấy là...
Cái thốt bầu cái hay là chữ mi.
Ở trong...
Chữ Hán thì nó...
Thường là cái vật chê đại.
Như trong chữ Oan.
Trong chữ Oan.
Cũng có thể là cái...
Hang động.
Như là trong chữ Thâm.
Vâng vâng.
Thiên bàng thứ 16 có phiên âm là Khảnh.
Âm hóng Việt là Khảnh.
Tên gọi thông thường của nó gọi là...
Hùng tự khung.
Xuân tự khung.
Tự khung.
Khung có nghĩa là cái khung.
Xuân tự.
Hùng tự có nghĩa là chữ Hùng.
Tức là cái chữ này.
Chữ này gọi là chữ Hùng.
Và chữ Hùng này nó có cái khung ở phía bên dưới đây.
Khung phía bên dưới này.
Thì cái khung này chính là cái Khảnh này.
Chữ Khảnh này thì cái hạ mỹ của nó là Khanh.
Khân có nghĩa là cái hố.
Cái hố sâu.
Hình dáng thời nguyên thủy của nó là như thế này.
Cũng không có gì thay đổi nhiều.
Cách viết thì chúng ta viết thành hai nét.
Một là nét sổ gập.
Và hai là một nét sổ bên này.
Tạo thành một cái hố.
Đầu tiên là chữ Hỏa.
Chữ Hỏa.
Thì chúng ta sẽ xem cái hình dáng nguyên thủy của nó.
Nó có hai thành phần.
Thành phần phía trên này.
Thì nó chính là một cái bàn tay.
Một cái bàn tay như thế này.
Một cái cánh tay.
Đang cầm một cái bút lông.
Đây là cái bút lông.
Và cái bút lông trên này nó có những cái lông xề ra như vậy.
Cái bút lông này vẽ trên một cái vật.
Trên một cái tòa giấy.
Tòa giấy có cái khung.
Bốn cái khung như vậy.
Và vẽ ra một cái đám ruộng ở bên trong.
Đây là một cái chữ điên.
Đám ruộng ở bên trong.
Thì cái chữ này có nghĩa là Hỏa.
Là chữ Hỏa.
Có nghĩa là vẽ.
Hỏa là vẽ.
Đầu tiên nó không có nghĩa là vẽ tranh.
Mà nó có nghĩa là vẽ ra quy hoạch để chia cái ruộng.
Giống như ngày nay chúng ta vẽ sổ đỏ, sổ hồng như vậy.
Và dần dần sau này thì nó mới có nghĩa là vẽ tranh.
Trong cái chữ giảng thể hiện đại thì người ta đã bỏ đi cái phần tay cầm ở phía trên.
Tay cầm và bút lông ở phía trên đã bị bỏ đi.
Chỉ giữ lại cái phần bức vẽ bên dưới.
Chúng ta thấy đây là.
Nó có một nét nhắc ở phía trên và một chữ khảm ở phía dưới.
Tức là cái khung.
Nó có cấu thành một cái khung của bức vẽ.
Ở bên trong cũng là cái chữ điên, chữ ruộng.
Như hồi xưa.
Hỏa.
Hỏa có nghĩa là vẽ.
Chữ tiếp theo là chữ hung.
Chữ hung mà lúc nãy chúng ta nói đến ở phía trên này.
Đầu tiên chúng ta thấy ở bên ngoài cũng là một cái chữ khảm.
Hay là một cái hung tự khuôn.
Xung.
Thì nó có nghĩa là cái hố.
Cái hố sâu.
Và bên trong.
Cái dấu chéo này chỉ cho những cái bẫy hay là những cái trong gai.
Những cái vặt nhọn ở phía dưới.
Thời xưa thì cái hố này được dùng để bẫy thú là chính.
Hay là để ngăn quân địch.
Đảy ý là cái chữ xung này nó chỉ cái nơi này là nguy hiểm, hung hiểm, không tốt lành.
Và ngày nay nó còn có nghĩa là hung dữ, hung ác.
Xung.
Hung.
Chữ này là chữ sơn.
Chữ sơn thì khá quen thuộc với chúng ta.
Chữ sơn thì ban đầu nó là một cái chữ tường hình luôn.
Nó là một cái dải núi có ba ngọn núi.
Chứ không phải riêng một ngọn núi.
Và diễn biến lần lần thì nó trở thành như thế này.
Và hôm nay được viết như thế này.
Thì cái ngọn núi cao nhất ở giữa thì sẽ được viết thành một nét dọc.
Nó cạch xuống.
Còn chứ khảm phía dưới.
Như chúng ta thấy thì nó chính là cái dấu vết, cái vết tích của hai cái ngọn núi hai bên.
Khảm.
Chứ nó không có nghĩa là cái hố nữa.
Sơn.
Sơn là núi.
Thiên bàng 17 có âm hát Việt là Tiết.
Và phiên âm là Chỉa.
Cái tên thiên bàng thông thường gọi là Đơn Nhĩ Đao.
Tan Ơi Tao.
Ở cái Ơi Tao, nhĩ đao.
Chỉ cái thiên bàng này nó có hình giống như là lỗ tai, cái nhĩ.
Hay là có hình cũng khá là giống chữ đao.
Tao.
Và cái này là Tan Ơi Tao.
Đơn nhĩ đao.
Để nó phân biệt với cái sông nhĩ đao mà chúng ta sẽ gặp sau.
Cái Tan Ơi Tao này nó có cái hàm ý có nghĩa là hạ quỷ đích nhân.
Xa quỷ rễ.
Nó là hình dáng một người đang quỷ.
Đây là hình dáng người đang quỷ.
Người đang quỷ thì có thể là người ta khuất phục trước một cái gì đó.
Hoặc là đơn giản là người ta chỉ đang ngồi ở trên chiếu, ở trên mặt đất mà thôi.
Bởi vì người xưa người ta ngồi trên mặt đất, người ta cũng thường dùng cái tư thế quỷ.
Nó diễn biến thành những hình dạng như thế này.
Và thành hình như thế này.
Chúng ta viết là một nét ngang gặp mốc và một nét sổ thẳng.
Một nét sổ thẳng xuống.
Nó sẽ xuất hiện ở trong những chữ như là chữ khước.
Chữ khước thì hình dáng ban đầu của nó như thế này.
Ở bên trái nó là một cái chữ cốc.
Chữ cốc có nghĩa là cái vách núi.
Nó là cái hẻm núi, cái vật sâu.
Chỉ những cái khó khăn, trở ngại.
Và bên đây là một người đang quỳ.
Người này đang quỳ bởi vì người ta bị khuất phục trước cái khó khăn.
Và người ta thoái lui.
Cái chữ khước nó có nghĩa là quay lại, thoái lui.
Trong cái chữ hiện đại thì được thay bằng, chữ cốc này được thay bằng một cái chữ khứ.
Chứ có nghĩa là đi, rời đi, bỏ đi.
Còn bên này vẫn là một cái chữ người đang quỳ.
Chữ ta nở tàu, có nghĩa là chữ tiếc.
Người đang quỳ đã bị khuất phục trước cái khó khăn và người ta rời đi.
Chữ khước nó vẫn nghĩa như vậy.
Nó có nghĩa là thoái lui, lùi lại, rời đi.
Và nó còn làm cái liên từ, có nghĩa là mà lại, thì lại.
Chỉ cái sự việc nó chuyển hướng ngược lại so với cái gì đó.
Chữ ấn, in.
Thì bên này cũng là một cái người, dưới này cũng là một cái chữ tiếc.
Bên này là một cái người đang quỳ, khuất phục.
Chữ tiếc, một cái ta nở tàu, khuất phục.
Và cái bàn tay, đây là cái bàn tay, trên này là một cái bàn tay.
Đây chính là một cái bàn tay.
Ấn cái đầu của người đang quỳ xuống để khiến cho người đó phải khuất phục.
Thì chữ in.
Ngày này nó có cái nghĩa đơn giản đó là ấn xuống, in ấn.
Hay là đóng dấu, gọi là ấn.
In.
Chữ này là chữ tức.
Chỉ.
Chữ tức này thì hình dạng ban đầu của nó như thế này.
Một cái bên này là một cái chữ cắn.
Đây là chữ cắn.
Thì chữ cắn nó có hình dạng ban đầu là một cái vật đựng thức ăn.
Một vật đựng thức ăn.
Và ở bên phải cũng là một cái chữ tan ở đâu, một cái chữ tiết.
Người đang quỳ.
Nhưng người này đang quỳ không phải là để khuất phục trước một cái gì hết mà để lại gần cái đồ ăn này thôi.
Để lại gần cái vật đựng đồ ăn này để mà ăn.
Cho nên cái chữ chỉ này nó có nghĩa là lại gần, đến gần.
Và nó cũng diễn dịch ra thành cái nghĩa là tức là, thì là.
Nó là một cái giới tượng.
Chỉ.
Thiên bằng thứ 18.
Gọi là tao.
Hãng viện là đao.
Tên thông dụng đó là đao tự bằng.
Tao tự bằng.
Đao.
Thì nó có hai mỹ là con dao.
Được viết như thế này.
Một nếp được gọi là nếp khung đao.
Nó nằm trong chữ thiết.
Thì chữ thiết ban đầu nó có hình dáng như thế này.
Bên này là một cái chữ thắt.
Có nghĩa là cắt.
Cái nghĩa ban đầu của nó là cắt làm đôi.
Chúng ta thấy là có mỗi đường ngang và một cái dấu đi xuống cắt cái đường đó làm đôi.
Nhưng mà chữ thắt này sau này được mượn để chỉ con số.
Nó chính là con số 7.
Là con số 7.
Cho nên người ta mới tạo ra một cái chữ khác có nghĩa là cắt làm đôi.
Bằng cách là thêm cái bộ đao.
Thêm một cái bộ đao ở bên này.
Tức là con dao.
Thêm một bộ đao bên này nữa.
Tạo thành chữ chia.
Và nó diễn biến thành cái chữ hôm nay chúng ta dùng.
Nó cũng không thay đổi nhiều.
Chỉ có một cái thay đổi nhỏ đó là chữ thắt này.
Đã biến thành cái chữ này gọi là chữ thổ.
Thổ thì có nghĩa là đất.
Đất đá.
Thổ như thế này.
Đây là một sự nhầm lẫn thôi.
Do cái cách viết nó khá là giống nhau.
Còn cái chữ chia có nghĩa là cắt làm đôi thì nó không có liên quan gì đến đất đá cả.
Nó vẫn là bộ đao ở bên này.
Chia có nghĩa là dùng dao để cắt cái sự vật gì đó ra.
Chữ này là chữ sơ.
Chữ sơ thì phía bên trái.
Nó là một cái chữ y.
Y có nghĩa là y phục quần áo.
Hình dáng ban đầu của chữ y như thế này giống như một cái áo.
Và bên phải là một con dao.
Nó chỉ cái việc dùng dao để cắt vải làm y phục.
Ngày xưa thì người ta không có kéo mà dùng dao bén để mà cắt vải để mây quần áo.
Cái việc mà dùng dao cắt vải thì nó là một trong những bước đầu tiên để tạo nên y phục.
Cho nên là chữ chu nó có nghĩa là ban đầu.
Sơ khai.
Bên này có một cái bộ đao.
Chữ nhận.
Chữ nhận này.
Ở bên này nó cũng là một cái chữ đao.
Có nghĩa là con dao.
Nhưng mà ở đây chúng ta thấy có thêm một cái dấu chấm.
Đây là một cái yếu tố chỉ sự.
Để chỉ người ta đang chú ý đến cái phần lưỡi dao.
Chữ đao thì nó chỉ cho cả một con dao.
Nhưng mà thêm một cái dấu chấm ở đây để chỉ.
Đây là cái lưỡi dao.
Chữ nhận.
Có nghĩa là cái lưỡi dao.
Thiên bằng thứ 19 cũng là thiên bằng đao.
Cũng đọc là to.
Nhưng mà thiên bằng này lại có tên là lập đao.
Lì to.
Chữ lập lì.
Có nghĩa là đứng.
Lập đao có nghĩa là cái dao đứng.
Con dao đứng.
Lúc nãy là con dao bình thường.
Còn đây là con dao đứng.
Và lý do mà nó đứng lên.
Thì là để nhường cho cái thành phần khác ở trong chữ.
Thường chữ đao, lập đao này nó sẽ được viết ở phía bên phải.
Và cái thành phần khác sẽ viết phía bên trái.
Thì chúng ta viết gồm hai nét.
Một cái nét sổ ngắn.
Nét sổ ngắn.
Và một cái nét sổ dài móc lên.
Cái thành phần khác của chữ sẽ được viết phía bên trái này.
Chúng ta sẽ thấy nó trong những chữ như là chữ lợi.
Chữ lợi đọc là lì.
Thì ở phía bên trái chữ lợi nó sẽ có một chữ hòa.
Chữ này là chữ hòa.
Có nghĩa là cây lúa.
Hình dáng nguyên thủy của chữ hòa như thế này.
Có nghĩa là cây lúa.
Hình một cái cây lúa.
Và ở phía bên phải là một cái lập đao.
Một cái con dao để gặt lúa.
Ở trong chữ cổ nó còn có những hạt lúa rơi ra.
Đây là chữ lập đao.
Cho nên là dùng dao để gặt lúa
nó chỉ cái sự thu hoạch mùa màng.
Thu hoạch cái nông sản.
Cho nên chữ lợi nó có nghĩa là ít lợi.
Lì có nghĩa là ít lợi.
Và đồng thời nó cũng có cái nghĩa khác.
Đó là nghĩa bén, sắc bén.
Bởi vì con dao gặt lúa là phải là một con dao sắc bén.
Cho nên nó có nghĩa là sắc bén nữa.
Chữ tiếp theo là chữ đáo.
Đáo.
Chữ đáo này thì phía bên trái nó gồm một cái
hình một cái mũi tên găm vào cái mục đích.
Đây là một cái mũi tên
găm vào một cái đích ở phía bên dưới.
Chữ này đọc là chữ trí.
Đọc là trí.
Chữ trí nó có nghĩa là đến.
Hình cái mũi tên găm vào đích có nghĩa là đến đích.
Và phía bên phải này vốn dĩ nó là một cái chữ nhân.
Có nghĩa là người.
Có nghĩa là con người.
Nhưng mà sau này người ta lại viết nhầm sang
cái chữ lập đao.
Chữ đáo này.
Bởi vì nó cũng có hai nét như vậy.
Thì đầu tiên là cái chữ nhân.
Đầu tiên là chữ nhân gấp với chữ trí có nghĩa là đến.
Chỉ cái hành động đi đến của một người.
Sau đó trong chữ người ta viết nhầm sang chữ đao.
Cho nên nó cũng ảnh hưởng cái âm đọc đao và đáo.
Thì cái âm đọc nó na ná với nhau.
Còn người ta đọc cái chữ này là chữ đáo.
Phiên âm là tọ.
Có nghĩa là đến.
Đi đến.
Chữ này là chữ khắc.
Chữ khắc thì phía bên phải nó cũng có cái chữ lập đao.
Có nghĩa là con dao.
Và con dao trong chữ khắc này là con dao điêu khắc.
Con dao điêu khắc.
Còn phía bên trái nó là một cái chữ hội.
Chữ hội như thế này.
Đây là hình dáng của một con heo.
Hình dáng của một con heo rừng.
Con lợn rừng.
Thì con heo rừng nó có cái tập tính là
ủi đất để tìm thức ăn ở trong đất.
Tìm những cái con công trùng hay là những cái củ ở trong đất để ăn.
Và khi cái người thọ điêu khắc mà dùng dao điêu khắc
thì người ta cũng đẩy cái con dao giống như là con heo.
Nó ủi đất như vậy.
Cho nên là người ta đã chọn cái chữ hội này
để ghép với chữ cái lập đao.
Con dao điêu khắc để chỉ cái sự điêu khắc.
Cái chữ khắc.
Có nghĩa là điêu khắc.
Nó còn có cái nghĩa trừ tượng là khắc ghi.
Ghi vào trong lòng.
Hay là chỉ cái đơn vị thời gian.
Một khắc đồng hồ.
Thiên bản thứ 20.
Nó cũng là một cái biến thể của chữ đao.
Cũng đọc là tao.
Thì nó là tà đao bằng.
Xìa tao phẳng.
Lúc nãy là lì tao phẳng.
Lập đao là đao đứng.
Còn cái này là xìa tao.
Tà đao có nghĩa là đào nghiêng.
Cái chữ đao này thì nó
không có một cái nghĩa nhất định.
Nó không có nghĩa là con dao nữa.
Mà thường ở trong chữ thì nó sẽ làm cái thành phần
tượng hình cho chữ thôi.
Thì chúng ta
thường viết nó ở trên đầu chữ.
Một cái nét
phải xuống và một cái nét ngang
phải nữa như vậy.
Phần dưới đây là chữ.
Ví dụ như trong chữ giác.
Thì ta thấy đây là hình
một cái sừng.
Sừng thú, sừng trâu, sừng bò gì đó.
Và được biểu diễn trong cái chữ giáp cốt như thế này.
Hình một cái sừng và có những đường văn
ở trên đó.
Sang cái chữ truyện thì được viết như thế này.
Thì ta thấy cái phần phía trên này
nó đã biến thành cái chữ đao.
Chữ tà đao.
Xìa tao.
Thì nó chỉ là cái di tích
của cái phần mũi nhọn của cái sừng mà thôi.
Chứ nó không có
nghĩa gì hết.
Chữ này là chữ thố.
Thù.
Chữ thố này thì nó cũng là chữ tượng hình.
Đầu tiên người ta viết hình một con thỏ như vậy.
Vẽ hình một con thỏ.
Đây là cái tai, đây là cái đầu, mình,
chân, có một cái đuôi nhỏ nhỏ.
Đặc biệt ở trên này nó sẽ có
những cái này gọi là cái râu thỏ.
Hai cái râu thỏ.
Thì sang chữ truyện người ta viết như thế này.
Nó khó nhận ra hơn nhưng mà vẫn còn
những cái viết tích như vậy.
Vẫn là phần đầu, phần tai,
rồi chân.
Sau đây, nó cũng có một cái đuôi
nhỏ. Và cái râu
thì nó lại biến thành một cái hình phức tạp.
Khó nhận ra. Cái râu thỏ.
Sang chữ hiện đại thì
cái râu thỏ nó đã biến thành
một cái xìa tao.
Một cái xìa tao phận.
Và cái phần ở giữa đây
cũng là phần đầu và phần tai
của con thỏ. Đây là chân trước
con thỏ. Chân sau con thỏ
và cái đuôi nó vẫn còn là
một cái chấm. Thủ
là con thỏ.
Rồi, chữ tranh.
Chữ tranh thì
hình dáng ban đầu của nó là
hai cái tay. Một trên,
một tay trên, một tay dưới.
Hai cái cánh tay đang tranh dành
một cái vật gì đó ở giữa.
Một cái vũ khí hay là một cái gì đó.
Thì sang chữ
tiểu truyện thì nó viết như thế này.
Nó được viết như thế này. Vẫn là
hai cánh tay.
Còn cái vật tranh dành nó đã lọt vào
trong cánh tay ở phía dưới rồi.
Sang chữ hiện đại
chúng ta thấy là cái cánh tay phía
trên thì lại trở thành một cái
xìa tao. Một cái xìa tao phận.
Rồi, đây là cánh tay phía dưới.
Và
đây là cái vật
mà người ta đang tranh dành.
Tranh. Tranh có nghĩa là tranh dành.
Và hôm nay mình xin được
tạm dừng ở đây. Hẹn gặp lại
các bạn trong những bài tiếp theo. Chúng ta sẽ
cùng nhau khám phá
những ý nghĩa, những hàm ý sâu
xa trong những thiên bàng
và chữ hát.
Tạm biệt.
