Khuôn mặt trắng bệch như hóa trang, đôi môi đỏ, chiếc mũi hếch ngược lên trời — và chỉ còn khoảng 200 cá thể trên toàn hành tinh. Voọc mũi hếch là loài linh trưởng đặc hữu chỉ Việt Nam mới có: được mô tả năm 1912, rồi biến mất gần 80 năm không một dấu vết, cho đến khi được tìm lại ở Na Hang năm 1992.
Trong tập này: hành trình 80 năm mất dấu của "bóng ma đỉnh đá vôi", chiếc mũi kỳ lạ bậc nhất thế giới linh trưởng, những đêm đông chạm ngưỡng đóng băng trên độ cao 1.200m ở Hà Giang — Tuyên Quang, và cuộc đua giữ lại những cá thể cuối cùng trước khi quá muộn.
📌 Chapters 00:00 Sinh vật trên đỉnh đá vôi 01:03 Biến mất 80 năm không dấu vết 03:18 Chiếc mũi kỳ lạ nhất thế giới linh trưởng 04:35 Đêm đông trên đỉnh Đông Bắc 06:40 Những hiểm họa cuối cùng 08:52 Lời kết
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This video explores the mysterious journey of the Tonkin snub-nosed monkey, a rare primate in Northeast Vietnam that was believed to be extinct for nearly 80 years before its rediscovery. It details the species' unique physical traits, its struggle for survival in harsh limestone karst environments, and the successful conservation efforts that have helped its population slowly recover.
Bạn có bao giờ tưởng tượng ra một sinh vật trong
hệt như nhân vật hóa trang trong phim kinh dị?
Mặt trắng bệch không chút sắc tố,
môi đỏ chót và chiếc mũi hết ngược hoàn toàn lên trời.
Nghe thì giống kỹ xảo điện ảnh,
nhưng đây là hàng thật bằng xương bằng thịt.
Giữa mùa đông, rét cắt da cắt thịt trên những vách
đá vôi sắc như dao cạo ở vùng đông bắc Việt Nam.
Cả một đàn linh trưởng đang co ro,
túm chặt lấy nhau thành một khối đen thui để giữ ấm.
Đó chính là vọtmũi hếtt bắt buộc
Loài linh trưởng từng khiến giới khoa học
đinh ninh đã vĩnh viễn biến mất gần 80 năm
Lên đến những ngọn núi cao từ 200 đến 1.200 mét này
Chúng chẳng sợ vực sâu hay bão tuyết
Thế mà lại đang sung lẫy bẫy trước thứ duy nhất
Con người, hôm nay hãy cùng bước vào hành trình giải mã bí ẩn
Về một trong những loài động vật kỳ lạ và cô độc nhất hành tinh
Để hiểu được sự trân quý của loài vật này,
chúng ta phải quay ngược thời gian về đầu thế kỷ trước.
Năm 1912, các nhà thám hiểm phương Tây lần đầu tiên mô tả
về vọt mũi hết dựa trên một vài mẫu vật thu thập được.
Sau đó, như một bóng ma tan biến vào màn sương,
chúng hoàn toàn biến mất khỏi tầm mắt của giới khoa học.
Không một hình ảnh, không một tiếng kêu, không một dấu vết.
Suốt gần 80 năm đằng đẳng,
thế giới đinh ninh rằng loài linh trưởng độc đáo này đã tuyệt chủng
vĩnh viễn dưới lưỡi rìu của lâm tặc và nòng súng của thợ săn.
Sách đỏ toàn cầu đã đóng khung tên chúng như một
vết nhơ của nhân loại trong việc tàn phá tự nhiên.
Trước cả khi các nhà khoa học đặt tên cho chúng vào năm 1912, những mẫu
vật đầu tiên đã được gửi từ Việt Nam sang châu Âu từ thập niên 1860.
Và rồi, im lặng.
Suốt gần 8 thập kỷ, những gì nhân loại còn lưu giữ về vọtmũi
hết chỉ là một nhúng mẫu vật khô trong các viện bảo tàng.
Không một ai nhìn thấy chúng còn sống trong tự nhiên.
Đằng sau sự im lặng ấy là những cánh rừng bị lùng sụp triền miên,
săn bắt lấy thịt và làm thuốc cổ truyền.
Nguyên nhân chính đã xóa sổ loài khỏi tầm mắt con người. Năm 1986,
hai nhà linh trưởng học uy tín kết luận loài này có lẽ đã tuyệt chủng.
Cuối thập niên 80, một đoàn điều tra quốc tế quay lại vùng núi phía
Bắc để lật từng tất rừng tìm kiếm, nhưng vọt mũi hết vẫn biệt tâm.
Thỉnh thoảng lại có tin đồn từ người dân vùng núi,
nhưng chưa từng có bằng chứng khoa học nào đủ sức nặng.
Đến lúc đó, gần như toàn bộ giới khoa học đã gạch tên loài
khỏi danh sách những động vật còn sống trên trái đất,
nhưng tự nhiên luôn ẩn chứa những khúc ngoạc kỳ diệu.
Vào năm 1992, tại khu rừng đặc dụng Nahang thuộc tỉnh Tuyên Quang,
một nhóm nghiên cứu quốc tế và kiểm lâm Việt Nam đã vỡ òa khi
nghe thấy những âm thanh lạ vọng ra từ làng sương mù dày đặc.
Họ không thể tin vào mắt mình, một quần thể vọt mũi hết bằng sương,
bằng thịt vẫn đang bám trụ trên vách đá.
Và đến năm 2002, một quần thể lớn hơn tiếp
tục được phát hiện tại Khâu Ca, Hà Giang.
Cõi chết đã buông tay,
bóng ma thời tiền sử chính thức trở lại từ cõi quên lạc.
Tìm kiếm vọt mũi hết không bao giờ là một cuộc dạo chơi
Địa bàn sinh sống của chúng là những ngọn núi đá vôi hiểm trở bậc nhất
Với độ cao giao động từ 200 đến 1.200 mét so với mực nước biển
Ở độ cao này, mây mù che kiến gần như quanh năm
Thảm thực vật cực kỳ khắc nghiệt, cây cối không mọc trên đất màu
Mà phải đâm rễ vào những kẻ nước nẻ của
đá sám để giành giật từng giọt nước mưa
Nhìn vào diện mạo của vọt mũi hết, bất kỳ ai cũng phải tò mò
Khuôn mặt chúng không có lông,
màng sắc trắng bệt nổi bật giữa rừng già, viền quanh bởi đôi môi đỏ rực
Đặc biệt nhất là chiếc mũi hết ngược hoàn toàn,
hoác lên mình bộ lông dày cộn, dài và mượt với phần lưng đen tuyền
Ngực trắng phao cùng điểm nhấn vàng cam ở vùng vai,
chúng sinh ra để thuộc về cái lạnh
Đây là một bộ áo giáp tự nhiên, hoàn hảo giúp chúng
chống chọi với những đợt rét đậm hay băng giá mùa đông
Một đàn vọt mũi hết là một xã hội được tổ chức rất chặt chẽ
Bên trong đàn lớn có thể lên tới vài chục cá thể là những gia đình nhỏ
Mỗi gia đình gồm một con đực trưởng thành cùng vài con cái và con non
Cả đàn di chuyển như một,
gần như không bao giờ rời khỏi tán cây và vách đá vôi
Chúng cũng cực kỳ cảnh giác
Những quan sát thực địa ghi nhận, chỉ cần thấy bóng người xuất hiện
Cả đàn sẽ lập tức báo động và tan biến vào rừng sâu chỉ trong tích tắc
Khi màn đêm buông xuống, nhiệt độ trên những đỉnh núi đá
vôi sụt giảm nghiêm trọng, đôi khi chạm ngưỡng đóng băng.
Đó là lúc cuộc chiến sinh tồn thực sự bắt đầu.
Vọt mũi hết là loài sống theo bầy đàn có tính xã hội cao.
Chúng không bao giờ ngủ đơn độc.
Khi đêm lạnh ấp đến, cả đàn sẽ tập trung lại trên
những ngõ đá treo leo, sát ngay miệng vực thẳm,
rồi cuộn chặt vào nhau thành một úi cầu lông đen tuyền khổng lồ.
Những con trưởng thành, khỏe mạnh nhất sẽ nằm ở vòng ngoài cùng,
trực tiếp gánh chịu những cơn gió núi bút giá thổi thốc qua khe vực
Trong khi đó, những con non,
con cái mang thai được che chở ở tận lớp trong cùng của cuối cầu
Chỉ cần một phút lơ đỉnh, một cái trở mình sai nhịp, hiểm họa từ
vực thẳm nghìn mét luôn trực chờ nuốt chững bất cứ thành viên nào
Thực đơn hàng ngày của chúng cũng nghèo nàng và khắc nhiệt
y như thời tiết vậy
Không có trái cây ngọt liệm hay mật hoa thơm thảo
Thức ăn của vọt mũi hít chủ yếu là lá già, trồi non,
nụ hoa và lớp vỏ cây chá xít bám trên vách đá
Để tiêu hóa thứ nguyên liệu thô kệt và nghèo dinh dưỡng này
Chúng sở hữu một hệ thống dạ dày phức tạp,
nhiều ngăn hoạt động không ngừng nghỉ
Như một nhà máy hóa chất thu nhỏ để chiết
từng giọt năng lượng duy trì sự sống
Rồi mùa đông đến và cuộc thử thách thực sự của dạ dày bắt đầu
Trên những vách đá vôi cao, mùa đông vặt trụi hết lá non,
trồi ngọt và quả chín đúng những món ngon nhất trong thực đơn của đàn
Cái còn lại cho vọt mũi hết, chỉ là những nắm lá khô cứng đến
mức hầu như không loài linh trưởng nào khác thèm đụng đến
Có những đợt rét đậm, sương muối phủ trắng cả vách đá,
khiến việc nhai những miếng lá khô cứng cũng trở nên khó khăn hơn
Khi rét cắt sâu, cả đàn lặng lẽ bỏ lại những mỏm đá cao nhất,
men xuống vùng thấp hơn để tránh giá rét và tìm thêm miếng ăn
Chúng di chuyển chậm rãi kiểm từng bước chân như thể biết rằng mỗi calo đốt
phí đều có thể là ranh giới giữa
sống và chết. Mỗi tối cả đàn lại trở về mỏm đá cũ giữ lại từng chút năng lượng
cho ngày mai và cứ thế chúng cầm cự chờ đợi mùa xuân đánh
Ghiền Mì Gõ
Để không bỏ
những trồi non đầu tiên trên
vách đá phần thưởng duy nhất dành cho kẻ kiên nhẫn nhất thiên
nhiên khắc nghiệt chưa bao giờ là kẻ thù nguy hiểm nhất
Dù quần thể tại Khâu Ca, Hà Giang và Na Hang, Tuyên Quang đã được phát
của vọt mũi hế kẻ thù đáng sợ nhất vẫn luôn là con người
hiện bóng đen của nạn săn trộm và phá rừng chưa từng buông tha chúng.
Trong quá khứ, những chiếc bẫy kiền răng kín lối đi,
tiếng súng săn vang lên giữa đại ngàn đã đẩy
loài này đến sát bờ vực tuyệt chủng một lần nữa.
Rừng bị chia cắt, những vạt đá vôi bị nổ mìn, phá lấy nguyên liệu
xây dựng đã thu hẹp không gian sống của chúng đến mức giật mình.
Để hiểu vì sao điều đó đáng quý, chỉ cần nhìn vào con số
Toàn bộ loài vọt mũi hế Bắc Bộ trên trái đất ngày nay
Chỉ còn khoảng 200-250 cá thể theo ước tính
mới nhất của tổ chức bảo tồn Fauna và Flora
Trong đó, riêng khu rừng Khau Ka đã che chở tới 160 con,
tức khoảng 80% cả loài
Từ khoảng 50 con lúc mới phát hiện năm 2002,
quần thể này đã tăng hơn 3 lần chỉ trong 2 thập kỷ
Còn số ấy không tự nhiên mà có.
Hơn 2 thập kỷ qua, những đội tuần tra cộng đồng người dân tộc Tày,
Dao, Kinh, Hát Mông sống quanh rừng đã được tuyển chọn,
đào tạo và trả thu nhập để đi tuần quanh năm,
ngăn chặn săn bắt và khai thác gỗ trái phép.
Cùng với chương trình thu hồi súng từ năm 2005, những cánh rừng
ở Khao Ka giờ đây gần như không còn bẫy, không còn tiếng súng.
Chính trong cuộc kiểm kê 19 ngày cuối năm 2025 với lưới bản đồ Geo,
drone ảnh nhiệt và bẫy ảnh,
các nhà nghiên cứu đã ghi nhận tới 3 cá thể non trong 2 đàn.
Dấu hiệu sinh sản đang trở lại, nhưng hy vọng chưa bao giờ tắt.
Những năm qua, sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương,
các tổ chức bảo tồn quốc tế như FFI và đặc biệt là sự hy
sinh thầm lặng ngày đêm của lực lượng kiểm lâm cùng những
người giữ rừng bán địa đã thay đổi hoàn toàn cục diện.
Những chuyến tuần tra xuyên qua sơn núi,
những cái bẫy được tháo gỡ lặng lẽ và ý thức của người
dân vùng cao nâng lên đã trả lại sự bình yên cho vách đá.
Hôm nay, những dãy núi đá vôi tại Đông Bắc Việt Nam
chính là pháo đài cuối cùng, là chiếc khiên duy nhất
trên toàn cầu bảo bọc loài linh trưởng vô giá này.
Không một quốc gia nào khác trên trái
đất còn sở hữu bóng ma nguyên thủy ấy.
Mỗi bình minh ló dạng trên đỉnh núi cao Đông Bắc là một chiến thắng
ngoạn mục trước thời gian của vọt mũi hết minh chứng cho sức sống
bền bỉ của tự nhiên khi được con người trao cho cơ hội sửa sai.
Nhưng hành trình khám phá những bí ẩn hoang dã của
chúng ta tại dải đất hình chữ S vẫn chưa dừng lại ở đó.
Nếu bạn yêu thích những thước phim tài liệu chân thực và đầy
cuốn hút này, đừng quên nhấn like, chia sẻ và đăng ký kênh
Thiên nhiên Hoang dã để không bỏ lỡ những tập tiếp theo.
Xin chào và hẹn gặp lại!