Vì Sao Ấn Độ Lâu Nay Vẫn Không Thể Sánh Ngang Được Với Trung Quốc? | Lăng Kính Kỳ Thú -------------------------------------------------------------------------------------- Chào mừng các bạn đến với kênh Lăng Kính Kỳ Thú Lăng Kính Kỳ Thú là kênh chia sẻ những kiến thức bổ ích về thế giới, địa lý, thiên nhiên, động vật các hiện tượng kỳ lạ và con người. Cảm ơn các bạn đã xem video! #langkinhkythu#ando#india
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This video analyzes why India lags behind China in economic development, infrastructure, and quality of life. It examines disparities in growth strategies, industrialization, labor productivity, and political systems, highlighting how China's centralized model and manufacturing focus created a significant lead over India's service-oriented and democratic approach.
Xin chào quý vị và các bạn.
Như chúng ta đã biết, Trung Quốc và Ấn Độ đang là 2 quốc gia rất đầu về dân số.
Thậm chí Ấn Độ đã xoán ngôi Trung Quốc trở thành quốc gia đồng dân nhất thế giới.
Tuy nhiên, dù có những bước tiền lớn nhưng Ấn Độ vẫn còn cách Trung Quốc khá xa
về mức độ phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và chất lượng cuộc sống.
Vậy do đâu mà Ấn Độ cố gắng bấy lâu vẫn không thể sánh bằng Trung Quốc?
Mời các bạn xem video ngày hôm nay để biết câu trả lời.
1. Chính sách phát triển
Trong những thập kỷ gần đây, cả Ấn Độ và Trung Quốc đều nổi lên như những cường quốc kinh tế hàng đầu tại châu Á.
Tuy nhiên, khi so sánh nền kinh tế Ấn Độ vẫn thua kém đáng kể so với Trung Quốc trên nhiều khía cạnh.
Từ quy mô GDP, tốc độ phát triển cho đến chiến lược cơ sở hạ tầng và khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Theo Quỹ Tiền Tể Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới, Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới
với GDP giành nghĩa đạt khoảng 19,4 nghìn tỷ đô la Mỹ vào năm 2023, chỉ đứng sau Hoa Kỳ.
Trong khi đó, Ấn Độ xếp thứ 5 với GDP giành nghĩa vào khoảng 3,7 nghìn tỷ đô la Mỹ.
Nếu xét về GDP, theo sức mùa tương đương PPP, Trung Quốc đạt khoảng 30 nghìn tỷ đô la Mỹ,
vượt xa cốt số 13,2 nghìn tỷ đô la Mỹ của Ấn Độ.
Sự tranh lệch này phản ánh không chỉ sự khác biệt trong tốc độ phát triển,
mà còn là kết quả của những chiến lược và mô hình kinh tế khác biệt.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất lý giải sự khác biệt giữa nền kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc
chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế, bắt nguồn từ sự khác biệt lớn trong chiến lược phát triển.
Trung Quốc, kể từ khi khởi xướng cải cách kinh tế vào năm 1978,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Tiểu Bình, đã tập trung mạnh mẽ vào việc mở cửa nền kinh tế,
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát triển công nghiệp hóa với tốc độ chưa từng có.
Trung Quốc đã dụng lợi thế nhằn công giá rẻ, cơ sở hạ tầng đang phát triển nhanh chóng
và chính sách khuyên khích sản xuất để trở thành công sưởng của thế giới.
Trong giai đoạn từ năm 1980 đến 2010, Trung Quốc duy trì tốc độ tăng trưởng GDP
trung bình 9-10% mỗi năm, một con số ấn tượng,
giúp đưa hàng triệu người thoát khỏi đóa nghèo và xây dựng tầng lớp trùng lưu mạnh mẽ.
Ngược lại, Ấn Độ chỉ bắt đầu cải cách kinh tế vào năm 1991,
muộn hơn Trung Quốc hơn một thập kỷ, sau khi phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng.
Tuy nhiên, quá trình cải cách của Ấn Độ diễn ra chậm chạp hơn
do các vấn đề về cơ chế quản lý, hành chính phức tạp,
bất đồng chính trị và hệ thống pháp lý dường dã.
Dù tốc độ tăng trưởng GDP của Ấn Độ trong những năm gần đây đạt khoảng từ 5-7% mỗi năm,
nhưng sự ổn định này vẫn chưa đủ để thu hẹp khoảng cách với Trung Quốc.
Thêm vào đó, sự khác biệt về chiến lược phát triển cũng góp phần làm gia tăng khoảng cách.
Trung Quốc tập trung vào công nghiệp nặng, sản xuất quy mô lớn
và phát triển cơ sở hạ tầng để hỗ trợ xuất khẩu.
Ấn Độ lại phụ thuộc nhiều vào ngành dịch vụ, đặc biệt là công nghệ thông tin và gia công phần mềm.
Trong khi ngành dịch vụ đóng góp tới hơn 50% GDP của Ấn Độ,
nó lại không tạo ra được nhiều việc làm cho hàng triệu lao động phổ thông như ngành công nghiệp sản xuất ở Trung Quốc.
Cơ sở hạ tầng và công nghiệp hóa cũng đóng vai trò thang chốt trong sự phát triển kinh tế của Trung Quốc,
giúp nước này vượt xa Ấn Độ.
Một trong những lợi thế lớn nhất của Trung Quốc là đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng.
Theo Ngân hàng Thế giới, Trung Quốc đã chi hàng nghìn tỷ đô la Mỹ vào việc xây dựng hệ thống giao thông,
bao gồm mạng lưới đường sắt cao tốc dài hơn 42.000 km,
chiếm khoảng 70% tổng chiều dài đường sắt cao tốc toàn cầu.
Hệ thống này không chỉ giúp kết nối các thành phố lớn mà còn thúc đẩy giao thương nhanh chóng và hiệu quả.
Trong khi đó, Ấn Độ mới chỉ bắt đầu xây dựng mạng lưới đường sắt cao tốc
và vẫn phụ thuộc vào hệ thống giao thông truyền thống với tấp độ cải thiện rất chậm.
Tình trạng đường xá xuống cấp và kẹt xe cáo dài tại các đối thị lớn như Mumbai hay Delhi
đã làm giảm năng suất kinh tế và tăng chi phí vận chuyển hàng hóa.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tập trung phát triển công nghiệp hóa mạnh mẽ,
đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao như điện tử, năng lượng tái tạo và sản xuất ô tô.
Năm 2023, ngành công nghiệp đóng góp khoảng 30% GDP của Trung Quốc, biến nước này thành công xưởng của thế giới.
Các tập đoàn đa quốc gia như Apple, Tesla và Foxconn đều đặt nhà máy sản xuất lớn tại Trung Quốc
nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ, cơ sở hạ tầng tiên tiến và lao động tay nghệ cao.
Ngược lại, ngành công nghiệp của Ấn Độ chỉ đóng góp khoảng 15% GDP
và vẫn phụ thuộc nhiều vào các ngành thâm dụng lao động như dệt may và nông nghiệp.
Một yếu tố khác là sự khác biệt trong quy hoạch đồ thị.
Các thành phố lớn của Trung Quốc như Thượng Hải, Thâm Quyến và Bắc Kinh
được phát triển thành các trung tâm kinh tế toàn cầu với cơ sở hạ tầng hiện đại,
trong khi nhiều thành phố của Ấn Độ đối mặt với tình trạng quá tải dân số, cơ sở hạ tầng yếu kém và thiếu quy hoạch dài hạn.
Hơn nữa, Trung Quốc không chỉ xây dựng cơ sở hạ tầng trong nước,
mà còn thúc đẩy các dự án quốc tế thông qua sáng kiến vanh đai và con đường BRI,
giúp tăng cường vị thế kinh tế và kết nối thương mại với thế giới.
Trong khi đó, sự chẩm chẽ của Ấn Độ đang phát triển cơ sở hạ tầng và công nghiệp hóa,
một phần do hệ thống hành trình phức tạp, quan điệu và thiếu đồng thuận giữa chính quyền Trung Mương và các bang.
Kết quả là, Ấn Độ không thể tạo ra môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư quốc tế
hoặc hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển.
Sự yếu kém trong cơ sở hạ tầng và công nghiệp hóa đã trở thành giao cản lớn,
khiến Ấn Độ khó cạnh tranh với Trung Quốc trên sân chới kinh tế toàn cầu.
Ấn Độ và Trung Quốc đều là những quốc gia đông dân nhất thế giới,
với gia số lần lượt là 1,4 tỷ và 1,43 tỷ người tính đến năm 2023.
Cả hai nước đều sở hữu lực lượng lao động lớn,
được kỳ vọng là sẽ trở thành động lực phát triển kinh tế mạnh mẽ.
Tuy nhiên, chất lượng và năng suất lao động lại có sự khác biệt rõ rệt,
trở thành một trong những lý do khiến nền kinh tế Ấn Độ vẫn chưa thể bắt kịp Trung Quốc.
Ấn Độ hiện có dân số trẻ hơn Trung Quốc, với gần 50% dân số dưới 25 tuổi.
Lợi thế này mang lại tiềm năng to lớn trong việc cung cấp lực lượng lao động dồi dào,
năng động và sẵn sàng tiếp nhận các xu hướng công nghệ mới.
Trong khi đó, dân số Trung Quốc đang già đi nhanh chóng
do chính sách một con kéo dài hàng thập kỷ trước đây.
Theo LHQ, tỷ lệ người cao tuổi trên 65 tuổi ở Trung Quốc
chiếm khoảng 14% tổng dân số vào năm 2023, cao hơn mức 7% của Ấn Độ.
Về mặt tí thuyết, lực lượng lao động trẻ của Ấn Độ
có thể trở thành cỗ máy tăng trưởng nếu được quản lý và sử dụng hiệu quả.
Mặc dù có lợi thế về số lượng lao động, chất lượng giáo dục và đào tạo ở Ấn Độ
vẫn là một điểm yếu lớn so với Trung Quốc.
Trung Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống giáo dục,
đặc biệt là các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học, STEAM.
Theo một báo cáo của OECD, một năm Trung Quốc sản xuất
hơn 4 triệu sinh viên tốt nghiệp các ngành kỹ thuật, cao gấp đôi so với Ấn Độ.
Các trường đại học hàng đầu của Trung Quốc như Đại học Thanh Hoa và Đại học Bà Kinh
nằm trong nhóm những cơ sở giáo dục tốt nhất thế giới.
Trong khi các trường đại học Ấn Độ vẫn chật vật với chất lượng giảng dạy
và nghiên cứu khoa học hạn chế.
Ngược lại, hệ thống giáo dục của Ấn Độ thường bị chỉ trích vì tập trung nhiều
vào lý thuyết hơn là thực hành, với ít đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.
Ở nữa, tỷ lệ học sinh bỏ học ở Ấn Độ vẫn rất cao,
đặc biệt ở các vùng nông thôn nơi trẻ em phải đối mặt với những rào cản
về kinh tế, xã hội và văn hóa.
Điều này khiến một phần lớn lực lượng lao động ở Ấn Độ không có khả năng
hoặc chỉ có kỹ năng cơ bản, có đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại.
Một trong những lợi thế lớn của Trung Quốc là sự đầu tư mạnh mẽ vào đào tạo nghề.
Trí phủ Trung Quốc xây dựng hàng loạt trường đào tạo nghề và các chương trình hợp tác
giữa nhà trường và doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu nhân lực trong ngành công nghiệp.
Nhờ vậy, Trung Quốc có một lực lượng lao động không chỉ đông đảo
mà còn có kỹ năng phù hợp với yêu cầu sản xuất hiện đại.
Từ lạp giáp điện tử cho đến chế tạo các sản phẩm công nghệ cao như chip bán dẫn
và ô tô điện. Trong khi đó, Ấn Độ gặp khó khăn trong việc xây dựng một hệ thống
đào tạo nghề hiệu quả. Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế Giới,
chỉ khoảng 10% lực lượng lao động Ấn Độ được đào tạo nghề chính thức
so với hơn 50% ở Trung Quốc. Thiếu bụt này khiến Ấn Độ
phải phụ thuộc nhiều vào các công việc lao động phổ thông, trong khi các ngành công nghệ cao
và sản xuất đòi hỏi tay nghề cao vẫn chưa phát triển mạnh mẽ.
Năng suất lao động là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả kinh tế.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, năng suất lao động bình quân
của Trung Quốc cao hơn 2,5 lần so với Ấn Độ vào năm 2023.
Sự trách lực này phần lớn đến từ việc Trung Quốc có lực lượng lao động
được đào tạo tốt hơn và làm việc trong môi trường công nghệ cao,
tự động hóa nhiều hơn. Ngược lại, một phần lớn lao động Ấn Độ
vẫn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm khoảng 45% lực lượng lao động
nhưng chỉ đóng góp khoảng 15% GDP. Điều này cho thấy mức độ hiệu quả
thấp và sự chậm chẽ trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Ấn Độ.
Ấn Độ cũng đối mặt với tình trạng thất nghiệp và việc làm không bền vững.
Nhiều người lao động ở Ấn Độ tham gia vào khu vực phi chính thức,
nơi họ không được bảo vệ về phạm lý hoặc nhận các quyền lợi như bảo hiểm xã hội.
Theo một báo cáo của ILO, khu vực phi chính thức chiếm tới 81%
tổng số việc làm ở Ấn Độ, cao hơn đáng kể so với Trung Quốc.
Môi trường làm việc không ổn định này ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lao động
và khả năng cải thiện thu nhập của người lao động.
Trung Quốc đã tận dụng tốt công nghệ và kỹ thuật số để nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế.
Các chương trình đào tạo kinh năng số được triển khai rộng rãi,
từ các trung tâm công nghệ ở thầm quyến đến các khu vực nông thôn.
Trong khi đó, tại Ấn Độ, mặc dù có những sáng kiến như Digital India
nhằm cải thiện khả năng tiếp cận công nghệ, nhưng mức độ phổ biến và ứng dụng
vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các vùng nông thôn.
Điều này dẫn đến sự bất cập trong việc tạo ra lực lượng lao động kỹ thuật số
sẵn sàng cho nền kinh tế 4.0.
Sự khác biệt trong chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và năng suất lao động
là một trong những yếu tố chính khiến Ấn Độ tụt hậu so với Trung Quốc.
Mặc dù Ấn Độ có lợi thế nhân khẩu học rõ rệt, nhưng lợi thế này
không được chuyển hóa thành năng lực kinh tế do thiếu đầu tư vào giáo dục,
đào tạo kỹ năng và công nghệ.
Để giúp ngắn khoảng cách với Trung Quốc, Ấn Độ cần thực hiện những cải cách toàn diện
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường đào tạo nghề
và tạo môi trường làm việc hiện đại cho lực lượng lao động trẻ.
Chỉ khi tạo dụng tối đa nguồn lực con người,
Ấn Độ mới có thể khai phá tiềm năng to lớn của mình.
3. Môi trường chính trị và hành chính
Trung Quốc và Ấn Độ đều là những quốc gia đông dân,
với hệ thống chính trị và cơ cấu hành chính ảnh hưởng lớn đến cách thức triển khai
các chính sách kinh tế, xã hội và quản lý nguồn lực.
Tuy nhiên, hiệu quả và tốc độ thực hiện ở hai nước lại rất khác biệt.
Trung Quốc hoạt động theo mô hình chính trị tập trung
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Với một hệ thống chính trị không đối lập
và sự kiểm soát chặt chẽ từ Trung Bương,
các quy định quan trọng về kinh tế, xã hội và phát triển hạ tầng
có thể được thực thi nhanh chóng mà không gặp nhiều giao cạn.
Chính phủ Trung Quốc không chỉ có quyền lực mạnh mẽ
mà còn tận dụng được sự ổn định chính trị
để hoạch định và triển khai các kế hoạch dài hạn.
Ví dụ điển hình là chiến lược, vanh đai và con đường.
Một dự án hạ tầng toàn cầu đầy tham vọng
được thực hiện với quy mô lớn và tốc độ nhanh,
kết nối Trung Quốc với các quốc gia khác
thông qua mạng lưới giao thông và thương mại.
Với quyền kiểm soát chặt chẽ,
chính phủ Trung Quốc có thể huy động nguồn lực tài chính
và nhân lực khổng lồ để xây dựng đường sát kháo tốc,
càng biển và khu kinh tế trong thời gian ngắn.
Một dự án tương tự tại Ấn Độ sẽ mất nhiều năm,
tập trí gặp nguy cơ đình trệ do các vấn đề pháp lý,
xã hội hoặc chính trị.
Ngoài ra, sự tập trung quyền lực còn giúp Trung Quốc
dễ dàng thực hiện các chính sách cải cách sâu rộng
trong lĩnh vực kinh tế như mở cửa thị trường,
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
và phát triển các khu vực kinh tế đặc biệt.
Các khu vực như Thâm Quyến đã trở thành những biểu tượng
cho sự thành công của chiến lược này,
tạo nên những trung tâm công nghệ và công nghiệp
hàng đầu trên thế giới.
Ngược lại, Ấn Độ hoạt động trong khuôn khổ
một nền dân chủ lớn nhất thế giới,
với hệ thống chính trị đa đảng
và quyền lực phan tán giữa chính quyền trung ương và các bảng.
Điều này mang lại nhiều lợi thế về mặt tự do,
minh bạch và khả năng kiểm soát quyền lực,
nhưng cũng tạo ra những giao cản lớn
trong việc triển khai các chính sách kinh tế.
Hệ thống chính trị đa đảng của Ấn Độ
thường dẫn đến các xung đột lợi ích và bất đồng ý kiến,
không chỉ giữa các đảng phái
mà còn giữa chính quyền trung ương và chính quyền bảng.
Các chính sách lớn như cải cách đất đài, thuế
hoặc phát triển hạ tầng thường bị kéo dài
hoặc thậm chí thất bại do thiếu sự đồng thuận.
Ví dụ, dự án xây dựng các hành lang công nghiệp ở Ấn Độ
thường bị trì hoãn bởi tranh chấp giữa chính phủ và người dân
đề quan đến vấn đề giải phóng hoạt bằng.
Thêm vào đó, hệ thống hành chính phức tạp
với nhiều thủ tục quan liệu
cũng làm chậm tiến trình phát triển kinh tế.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới,
Ấn Độ mất nhiều thời gian hơn
để cấp phép kinh doanh, hoàn tất thủ tục thuế
và giải quyết tranh chấp pháp lý so với Trung Quốc.
Chỉ số dễ dàng kinh doanh năm 2023
xếp Trung Quốc hạng 31,
trong khi Ấn Độ ở vị trí 63.
Điều này cho thấy một môi trường kinh doanh
ở Ấn Độ vẫn còn nhiều giao cạn
so với sự đơn giản hóa và hiệu quả của Trung Quốc.
Một điểm khác biệt lớn giữa hai quốc gia
là khả năng triển khai và thực thi các dự án.
Trung Quốc nhờ mô hình tập trung quyền lực
có thể thực hiện các dự án hạ tầng
hoặc cải cách quy mô lớn với tốc độ vượt trội.
Các dự án như hệ thống đường sát cáo tốc
và thành phố thông minh
được xây dựng trong thời gian ngắn
nhờ sự hỗ trợ từ chính quyền trung ương
và các doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, với Ấn Độ,
tiến độ các dự án lớn thường bị ảnh hưởng
bởi các cuộc tranh chấp pháp lý,
xung đột lợi ích địa phương
và sự thiếu hiệu quả trong quản lý.
Một ví dụ điển hình là dự án
xây dựng hành lang vận tải quốc gia
kết nối 4 thành phố lớn nhất Ấn Độ.
Mặc dù đây là một dự án quan trọng,
nhưng tiến độ xây dựng bị kéo dài
bởi các vấn đề như giải phóng mặt bằng,
thủ tộc quan điều
và sự bất đồng ý kiến giữa các bên liên quan.
Trung Quốc sử dụng các biện pháp
kiểm soát xã hội để đảm bảo ổn định chính trị,
từ đó tạo môi trường thuận lợi
cho phát triển kinh tế.
Các cuộc biểu tình hoặc bất ổn xã hội
thiếm khi diễn ra trên quy mô lớn
và chính phủ có thể áp dụng
các biện pháp nghiêm ngặt để duy trì trật tự.
Ngược lại,
Ấn Độ thường xuyên đối mặt với bất ổn xã hội
do các yếu tố như tôn giáo,
sắp tộc và sự bất bình đẳng.
Các cuộc biểu tình lớn liên quan
đến cảnh cách luật pháp, thuế
hoặc chính sách xã hội thường làm gián đoạn
hoạt động kinh tế và khiến chính phủ
phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ chính sách.
Một yếu tố cuối cùng là tầm nhìn chiến lược.
Trung Quốc đã xây dựng
và thực hiện các kế hoạch dài hạn
như Made in China 2025
và Kế hoạch 5 năm
với mục tiêu cụ thể để nâng cao
năng lực công nghệ và sản xuất.
Ấn Độ, mặc dù có kế hoạch phát triển kinh tế
nhưng việc thực thi thiếu đồng bộ
và thường bị thay đổi bởi các chính quyền mới.
Điều này dẫn đến sự thiếu nhất
quán trong chính sách
và chiến lược phát triển quốc gia.
4. Bất ổn xã hội
Mặc dù Ấn Độ sở hữu dân số trẻ
đông đảo cùng tiếp năng phát triển
xã hội và kinh tế lớn
nhưng các vấn đề xã hội kéo dài
đang là những rào cản đáng kể
khiến quốc gia này không thể bạt kịp Trung Quốc.
Những cách thức về bất bình đẳng xã hội
nghèo đói, dân số tăng nhanh
và chất lượng cuộc sống không đồng đều
đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
lao động, khả năng thu hút đầu tư
và sự ổn định kinh tế của Ấn Độ.
Một trong những vấn đề nổi cộng nhất
của Ấn Độ là sự bất bình đẳng
xã hội sâu sắc.
Theo báo cáo Bất bình đẳng toàn cầu năm 2022
Ấn Độ là một trong những quốc gia
có mức độ bất bình đẳng thu nhập
cao nhất trên thế giới.
Tầng lớp giàu có chìm chưa đến 10% dân số
nhưng kiểm soát hơn 57%
tổng tài sản quốc gia.
Trong khi hơn 60% dân số
thuộc tầng lớp thu nhập thấp
chỉ sở hữu khoảng 13% tài sản.
Bên kia đó hệ thống đẳng cấp
vẫn là một vấn đề nhợt nhối
đặc biệt tại các vùng nông thôn.
Mặc dù hệ thống này đã bị cấm
về mặt pháp luật nhưng sự phân biệt
đối xử giữa các đẳng cấp
vẫn hiện hữu, ảnh hưởng đến cơ hội
Việt Nam tiếp cận giáo dục
và dịch vụ xã hội.
Điều này không chỉ kìm hạm năng suất lao động
mà còn tạo ra sự phân hóa trong xã hội
dẫn đến xung đột và hạn chế
khả năng phát triển đồng đều.
Khác với Ấn Độ, Trung Quốc đã thực hiện
các chính sách nhằm giảm bất bình đẳng
và cải thiện cơ hội tiếp cận giáo dục
và y tế cho toàn dân.
Điều này giúp xã hội Trung Quốc trở nên
ổn định hơn, tạo nền tảng vững chắc
cho sự phát triển kinh tế.
Nghèo đói vẫn là một vấn đề dai dẳng
ở Ấn Độ, dù tỷ lệ này đã
giảm trong những thập kỷ qua.
Theo Ngân hàng Thế giới, khoảng 10%
dân số Ấn Độ vẫn sống dưới mức
nghèo cổ, dưới 2,15 đô la
Mỹ một ngày vào năm 2023.
Đặc biệt tại các vùng nông thôn
nơi sinh sống của hơn 65%
dân số, cơ hội việc làm và
tiếp cận các dịch vụ cơ bản như
y tế, giáo dục và nước sạch
còn rất hạn chế. Chất lượng
sống tại Ấn Độ cũng là một điểm yếu lớn.
Chỉ số phát triển con người
HDI của Ấn Độ vào năm
2023 là 0,633
xếp thứ 132
trong tổng số 191 quốc gia
thấp hơn nhiều so với Trung Quốc
nơi HDI đạt
0,768 và xếp thứ 79.
Các vấn đề như tỷ lệ
tử vong trẻ em cao, suy sinh sữa
và thiếu nước sạch đã khiến
hàng triệu người dân Ấn Độ không thể
phát huy hết tiềm năng lao động của mình.
Trái lại, Trung Quốc đã
giảm nghèo thành công và chiến lược
xoa đói giảm nghèo toàn diện.
Vào năm 2020, Trung Quốc chính thức
tuyên bố xoa đói giảm nghèo hoàn toàn
ở các vùng nông thôn, năng cao
chất lượng sống của hàng trăm triệu người
giúp họ tham gia mạnh mẽ hơn
vào nền kinh tế. Với hơn 1,4
tỷ người, Ấn Độ đã vượt qua Trung Quốc
để trở thành quốc gia đông dân
nhất thế giới vào năm 2023.
Trong số này, hơn 50% dân số
dưới 30 tuổi tạo nên
một lợi thế nhân khẩu học khổng lồ.
Tuy nhiên, thay vì trở thành
động lực phát triển, dân số trẻ
lại đang tạo ra áp lực lớn
lên hệ thống xã hội và kinh tế của quốc gia.
Trước hết, tỷ lệ thất nghiệp
ở Ấn Độ vẫn cao, đặc biệt là
trong nhóm thanh niên.
Theo dữ liệu của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO,
tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên
Ấn Độ vào năm 2023 đạt mức
23,7%, cao hơn
nhiều so với Trung Quốc, nơi
con số này chỉ khoảng 9%.
Điều này phản ánh sự bất cập
trong việc đào tạo và cung cấp việc
làm phù hợp cho lực lượng lao động trẻ,
dẫn đến lãng phí nguồn lực nhân khẩu học.
Thêm vào đó, sự gia tăng
dân số không kiểm soát tại Ấn Độ
đã tạo ra gánh nặng lớn lên
các nguồn lực công cộng, bao gồm
y tế, giáo dục và nhà ở.
Dân số đông đồng nghĩa với việc
nhu cầu về cơ sở hạ tầng và dịch vụ
xã hội cung tăng, trong khi
chính phủ chưa đáp ứng được sự gia tăng này
một cách hiệu quả.
Trung Quốc, mặc dù có dân số già hóa
nhanh chóng, đã quản lý tốt hơn
thông qua các chính sách như Một Con
năm 1979 đến 2015
giúp kiểm soát tốc độ tăng
dân số và tập trung nguồn lực phát triển
kinh tế. Hơn nữa,
Trung Quốc đã chuyển từ lợi thế nhân khẩu học
sang tập trung và nâng cao
năng suất lao động và phát triển công nghệ.
Một trong những rào cản lớn
đối với sự phát triển xã hội ở Ấn Độ
là hệ thống y tế và phục
lợi xã hội yếu kém.
Chi tiêu cho y tế của chính phủ Ấn Độ
chỉ chiếm khoảng 1,5% GDP
năm 2023, thấp hơn
nhiều so với con số 6%
GDP của Trung Quốc.
Điều này dẫn đến tình trạng thiếu thốn
cơ sở y tế, tỷ lệ tử vong cao
và sức khỏe cộng đồng kém.
Ví dụ vào năm 2023,
tuổi thọ trung bình tại Ấn Độ
chỉ là 70 tuổi, thấp hơn so với
77 tuổi ở Trung Quốc.
Suy dinh dưỡng và các bệnh chuyển nhiễm
vẫn là những vấn đề phổ biến
tại Ấn Độ, đặc biệt là ở các vùng
nông thôn. Trung Quốc, thông qua
các chương trình cải cách y tế toàn diện
đã xây dựng một hệ thống bảo hiểm
y tế quốc gia và nâng cao
chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Nhờ đó, người dân Trung Quốc có
điều kiện tốt hơn để tham gia vào
các hoạt động kinh tế và xã hội.
Sự tham gia của phụ nữ
vào nền kinh tế là một yếu tố
quan trọng nhưng bị xem nhẹ tại Ấn Độ.
Tỷ lệ phụ nữ tham gia
lao động ở Ấn Độ vào năm 2023
chỉ đạt khoảng 23%,
thấp hơn đáng kể so với con số
61% ở Trung Quốc.
Nguyên nhân đến từ giao cản văn hóa,
thiếu cơ hội giáo dục và việc làm,
cùng với trách nhiệm gia đình truyền thống.
Trung Quốc, trong khi đó
đã thúc đẩy bình đẳng giới
và tạo điều kiện để phụ nữ tham gia
vào lực lượng lao động từ thời kỳ
cảnh cách kinh tế. Và điều này
góp phần làm tăng năng suất và đóng góp
tích cực cho nền kinh tế.
Như chúng ta đã thấy, khoảng cách giữa Trung Quốc
và Ấn Độ hiện tại vẫn còn rất lớn
để bắt kịp Trung Quốc trong tương lai.
Ấn Độ cần đối mặt trực tiếp
với những thách thức xã hội đang kìm hãm
tiềm năng phát triển của quốc gia.
Hơn nữa, Ấn Độ cần đầu tư mạnh mẽ
vào cơ sơ hạ tầng, y tế
và các chương trình phục lợi xã hội
để năng cao chất lượng sống cho toàn dân.
Tất nhiên, Trung Quốc sẽ không
đứng yên chờ Ấn Độ.
Việc Ấn Độ có thể sánh vai cùng Trung Quốc hay không
sẽ cần rất nhiều thời gian để kiểm chứng.
Và video của ngày hôm nay
đến đây là kết thúc. Cảm ơn quý vị
và các bạn đã ủng hộ. Đừng quên
ấn theo dõi kênh để không bỏ lỡ
những video thú vị khác. Xin chào
và hẹn gặp lại!