“Sinh Vật Sống” Trong Quan Tài 600 Năm Và Bí Ẩn Vị Hoàng Đế Không Có Lăng Mộ | Thế Giới Cổ Đại
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại, tôi là MC Quang Thiên! Rất vui khi được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay! Chúng ta đã nghe không ít câu chuyện, xem không ít phim viễn tưởng về việc xuyên qua thời không. Nhưng bạn có dám tin rằng, trong một ngôi mộ cổ có niên đại hàng trăm năm, người ta thực sự có thể đào được một món đồ dường như đã “xuyên không” hay không? Tháng 10 năm 2008, tại huyện Thượng Tư, Quảng Tây, người ta khai quật được một cặp quan tài vợ chồng có hình thức cực kỳ kỳ lạ. Trong lớp quan quách được bịt kín xuất hiện những thứ mà người bình thường khó lòng lý giải, đó là một chiếc đồng hồ Thụy Sĩ, hoàn toàn không phù hợp với niên đại của ngôi mộ. Thế nhưng, điều khiến ngôi mộ này được chú ý nhất lại không phải những món đồ tùy táng kỳ quái ấy, mà là thân phận của chủ nhân ngôi mộ. Người ta nói rằng người đàn ông nằm trong quan tài có liên quan đến vụ án bí ẩn lớn nhất trong lịch sử nhà Minh. Và vụ án ấy, cùng với sự thất truyền của ngọc Hòa Thị Bích, tấm bia không chữ của Võ Tắc Thiên và bí ẩn về cái chết của Tống Thái Tổ, thường được dân gian gọi chung là “bốn đại bí án của lịch sử Trung Quốc cổ đại”. Trong những năm gần đây, cùng với việc các chuyên gia khảo cổ lần lượt bóc tách từng manh mối, sự thật về vụ án lịch sử đã bị phủ bụi hơn 600 năm này dường như đang dần được giải mã. Chủ nhân ngôi mộ này có phải là vị đế vương “xuyên không” đầu tiên trong truyền thuyết hay không? Chúng ta sẽ cùng làm rõ trong video ngày hôm nay!
Cảm ơn mọi người! Chúc mọi người có những giây phút vui vẻ. Mời các bạn theo dõi video trên kênh Thế Giới Cổ Đại. ✔️ Thế Giới Cổ Đại sẽ đồng hành cùng các bạn trong hành trình giải mã những sự kiện kỳ bí xuyên suốt dòng lịch sử của loài người... ✔️ Chúc các bạn có những phút giây thư giãn và bổ ích! #thếgiớicổđại#bíẩn#bíẩncổmộ#lăngtầnthủyhoàng#TầnThủyHoàng#bíẩnlăngmộ
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Video kể về cuộc khai quật một cặp quan tài kỳ lạ năm 2008 tại Quảng Tây với nhiều chi tiết bất thường về kỹ thuật xây mộ và hiện vật. Những đặc điểm này dẫn đến giả thuyết chấn động rằng chủ nhân ngôi mộ có thể là Kiến Văn Đế Chu Doãn Văn, vị hoàng đế nhà Minh đã mất tích bí ẩn sau cuộc chính biến Tĩnh Nan, người được cho là đã từ bỏ quyền lực để sống ẩn dật.
Chào mừng các bạn đã đến với kênh Thế Giới Cổ Đại.
Tôi là MC Quang Thiền, rất vui khi được đồng hành cùng các bạn trong video ngày hôm nay.
Chúng ta đã nghe không ít câu chuyện, xem không ít phim viễn tưởng về việc xuyên qua thời không.
Nhưng bạn có dám tin rằng, trong một ngôi mộ cổ có niên đại hàng trăm năm,
người ta thực sự có thể đào được một món đồ dường như đã xuyên không hay không.
Tháng 10 năm 2008, tại huyện Thường Tư, Quảng Tây,
người ta khai quật được một cặp quan tài vợ chồng có hình thức cực kỳ kỳ lạ.
Trong lớp quan quách được bịt kín xuất hiện những thứ mà người bình thường khó lòng lý giải.
Đó là một chiếc đồng hồ thị sĩ, hoàn toàn không phù hợp với niên đại của ngôi mộ.
Thế nhưng, điều khiến ngôi mộ này được chú ý nhất lại không phải những món đồ tùy tán kỳ quài ấy,
mà là thân phận của chủ nhân ngôi mộ.
Người ta nói rằng, người đàn ông nằm trong quan tài có liên quan đến vụ án bí ẩn lớn nhất trong lịch sử nhà mình.
Và vụ án ấy, cùng với sự thất truyền của Ngọc Hòa Thị Bích,
tấm bia không chữ của Võ Tắc Thiên và bí ẩn về cái chết của Tống Thái Tổ,
thường được dân gian gọi chung là bốn đại bí án của lịch sử Trung Hoa cổ đại.
Trong những năm gần đây, cùng với việc các chuyên gia khảo cổ lần lượt bóc cách từng mạnh mối,
sự thật về vụ án lịch sử đã bị phủ bụi hơn 600 năm nay, dường như đang dần được giải mã.
Chủ nhân của ngôi mộ này có phải vị đế vương xuyên không đầu tiên trong truyền thuyết hay không?
Chúng ta hãy cùng làm rõ trong video ngày hôm nay nhé!
Ngày 15 tháng 10 năm 2008, tại một công trường ở thôn Quảng Nguyên, huyện Thượng Tư, Quảng Tây,
một đội thị công trong lúc đảo núi lấy đất
đã vô tình phát hiện một cặp quan quách vợ chồng có trọng lượng đáng kinh ngạc.
Hai cỗ quan quách, một lớn một nhỏ, nằm cách nhau chưa đầy nửa mét.
Cổ lớn là của người chồng, nặng tới khoảng 6 tấn.
Cổ nhỏ là của người vợ, tổng trọng lượng cũng vào khoảng 4 tấn.
Điều khác thường là lớp ngoài của cả hai cỗ quan quách đều được ba bọc và bịt kín bằng tam hợp thổ.
Tam hợp thổ là một loại vật liệu chủ yếu gồm vôi, cát thô và đất xét.
Đôi khi còn được trộn thêm hồ, gạo nếp, rồi nện thật chặt.
Rất nhiều người dân địa phương ở huyện Thượng Tư chưa từng thấy kiểu mộ táng như vậy.
Nguyên nhân là phần lớn cư dân nơi đây là người Choang.
Mà một trong những đặc trưng quan trọng trong phong tục mái táng truyền thống của người Choang
chính là nhị thứ táng, tức trôn cất hai lần, còn gọi là cải táng nhặt xương hoặc kim đàn táng.
Cụ thể sau khi người thân qua đời, thi thể trước tiên sẽ được trôn gần nơi cư chú.
Khoảng 3-5 năm sau, khi phần thịt đã phân hủy hoàn toàn, gia đình mới đào mộ,
mở quan tài, nhặt sơ cốt của người đã khuất, cho vào một chiếc vò gốm gọi là kim đàn.
Sau đó lựa chọn một vùng đất phong thủy khác để an táng lần nữa.
Bởi vậy, loại quan quách được bao bọc bằng tam hợp thổ rất hiếm khi xuất hiện tại Quảng Tây.
Trong thời nhà Minh, kiểu mộ dùng tam hợp thổ từng khá thịnh hành ở Giang Tô và một số tỉnh ven biển khác.
Do đất tại khu vực ven biển tương đối ẩm ướt, trong khi tam hợp thổ có khả năng chống thấm và chống ẩm rất tốt,
nên có thể bảo vệ di hại người chết hiệu quả hơn.
Nhưng vì loại quan quách này có chi phí rất cao, cần tiêu tốn một lượng lớn nhân lực, vật lực và tài lực,
nên thông thường những gia đình đủ khả năng sử dụng phương thức mai táng như vậy chắc chắn không phải người bình thường.
Từ đó có thể đưa ra một nhật định ban đầu.
Chủ nhân ngôi mộ sống vào thời nhà Minh, không phải người bản địa huyện thượng tư,
đồng thời rất có thể thuộc tầng lớp giàu có hoặc quyền quý.
Nhưng điều khiến người ta khó hiểu là một nhân vật có địa vị như vậy,
lại hoàn toàn không có hậu nhân tại địa phương dựng mộ, lập bia hay duy trì việc tế tự qua các đời.
Điều này khiến người ta nghi ngờ rằng cặp vợ chồng ấy rất có thể từng chạy trốn kẻ thù,
sau đó mai danh ẩn tích tại nơi này.
Đúng lúc các chuyên gia khảo cổ chuẩn bị di chuyển quan quách sang nơi khác để tiếp tục nghiên cứu
thì một chuyện bất ngờ xảy ra.
Từ phần đáy của quan tai người vợ đột nhiên dị ra một lượng lớn chất lỏng bào nâu giống nước trà,
tổng khối lượng chất lỏng vào khoảng 10 kg.
Chi tiết này dường như càng gợi ý rằng người nằm trong quan tai có thân phận không hề bình thường.
Cần biết rằng năm 1972 tại bộ số 1 thuộc khu mộ Mã Vương Đôi ở Trường Sa,
người ta cũng khai quật được một thi thể nữ.
Khi mở quan tai, các nhà khảo cổ phát hiện bên trong có một lượng lớn chất lỏng bào nâu giống nước trà.
Sau đó thân phận người phụ nữ này được xác định chính là Tân Tri,
phụ nhân của Lơi Thương, vị thưa tướng vào đầu thời Tây Hán.
Vậy liệu người phụ nữ được trồn trong ngôi mộ ở Thượng Tư cũng là một nhân vật quyền quý sống dưới triều minh hay không?
Mang theo nghi vấn ấy, các nhà khảo cổ quyết định mở quan tai của người vợ để tìm hiểu.
Quan tai của bà có tổng cộng 3 lớp bảo vệ.
Lớp ngoài cùng là kết cấu tam hợp thổ.
Lớp thứ hai là quách làm bằng gỗ lòng não.
Còn lớp trong cùng là một chiếc quan tai được chế tác từ loại gỗ rất cứng.
Sau khi mở nắp quan tai trong cùng,
người ta có thể nhìn thấy khá rõ kiểu tóc của người phụ nữ.
Đó không phải kiểu tóc búi truyền thống của phụ nữ troang địa phương,
mà là một kiểu tóc búi mang đặc trưng của người Hán thời cổ.
Điều này càng củng cố nhận định rằng hai vợ chồng không phải người bản địa.
Ngoài ra, trên người phụ nữ còn phủ một tấm lụa dường như tượng trưng cho phẩm cấp và địa vị.
Trên tấm lụa có theo hoa văn liên quan đến hoa sen.
Điều đáng chú ý là hoa sen từng xuất hiện khá phổ biến trong hoa văn trang phục của Hoàng hậu thời mình.
Nhưng ngay sau đó, một phát hiện còn kỳ lạ hơn xuất hiện.
Ở phần đáy của các quan tai trong,
các chuyên gia phát hiện một bố cục giống pháp trận Bắc Đẩu Thất Tinh.
Trên tấm ván đáy quan tai có tổng cộng 7 lỗ nhỏ,
mỗi lỗ có đường kính khoảng 2cm.
7 lỗ được bố trí thành hình chiếc gáo đặc trưng của tròn Bắc Đẩu Thất Tinh.
Giữa các lỗ còn có những đường nối với nhau.
Ngoài ra, các chuyên gia còn tìm thấy 7 đồng tiền đồng nằm rải rác trong quan tai.
Trên đó có 4 chữ khai nguyên thông báo,
loại tiền từng được lưu hành rộng rãi từ thời nhà đường.
Theo suy đoán, 7 đồng tiền này ban đầu rất có thể được đặt tương ứng vào 7 lỗ nhỏ bên dưới đáy quan tai.
Trong văn hóa đạo giáo, Bắc Đẩu Thất Tinh được cho là có quyền chi phối sinh tử,
hỏa phúc của con người và con đường trở về của linh hồn.
Vì vậy, việc bố trí hình Bắc Đẩu Thất Tinh trong quan quách của người chết có thể mang 2 tầng ý nghĩa.
Thứ nhất là dẫn đường cho linh hồn người đã khuất thuật lợi bước sang thế giới bên kia.
Thứ hai là bảo vệ thi hai trong quan tai khỏi sự xâm phạm của ta ma quỷ quái.
Theo một số phong tục dân gian, để thiết lập bố cục như vậy trong quan tai,
người ta sẽ đặt 7 đồng tiền theo hình Bắc Đẩu Thất Tinh ở đáy quan tai hoặc dưới lớp đệm thi hai.
Loại tiền dùng với mục đích này thường được gọi là áp thắng tiền hoặc điếm bối tiền,
tức những đồng tiền mang ý nghĩa chấn áp tả khí, câu phúc và bảo vệ người chết.
Như chúng ta đều biết, từ đời ông nội của Chu Nguyên Trương,
gia tộc họ Chu đã có mối quan hệ rất sâu với tín ngưỡng đạo giáo.
Không chỉ ông nội Chu Nguyên Trương có liên hệ với đạo giáo,
mà phía gia đình mẹ ông cũng chịu ảnh hưởng mạnh của tín ngưỡng này.
Ông ngoại Chu Nguyên Trương tương truyền còn là một đạo sĩ khá nổi tiếng tại địa phương.
Bản thân Chu Nguyên Trương suốt đời cũng đặc biệt coi trọng Bắc Đẩu Thất Tinh
và tin rằng sau khi Hoàng đế ở nhân gian qua đời, linh hồn sẽ trở về Bắc Đẩu.
Bởi vậy, khi xây dựng Minh Hiếu Lăng, Lăng mộ của Chu Nguyên Trương,
tổng thể bố cục Lăng được cho là có sự liên hệ với hình tượng Bắc Đẩu Thất Tinh trên bầu trời.
Cho đến hiện nay, trong số các Lăng mộ Hoàng đế nhà mình,
chỉ có định Lăng của Minh Thần Tông Vạn Lịch Hoàng đế Chu Dực Quân
từng được khai quận khảo cổ chính thức.
Nhật ký khảo cổ cho thấy, tư tế đặt thi hai của Vạn Lịch Hoàng đế trong quan tài
cũng mang hình thái được liên tưởng tới Bắc Đẩu Thất Tinh.
Thân người nằm nghiêng, hai chân co lại,
toàn bộ hình dáng khá giống với bố cục của tròm sao Bắc Đẩu.
Rõ ràng, tư thế ấy rất có thể đã được cố ý sắp đặt khi Mai Táng.
Từ đó, một số người suy đoán rằng,
yêu cầu mô phỏng Bắc Đẩu có lẽ không chỉ giới hạn trong bố cục của Lăng mộ.
Có khả năng từ thời Chu Nguyên Trương trở đi,
các Hoàng đế nhà mình đều đưa nhiều yếu tố liên quan tới Bắc Đẩu Thất Tinh
và nghi thức Tăng Táng và Lăng mộ của mình.
Nếu suy luận theo hướng này,
cặp nam nữ trong ngôi bộ cổ ở huyện Thượng Tư
dường như cũng rất có thể là hậu ruệ của thành viên
của một nhánh họ Chu chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đạo giáo.
Đáng nói hơn, ngọn đồi nơi cặp quan quách vợ chồng được phát hiện tại thôn Quảng Nguyên
trong dân gian địa phương còn có một tên gọi đặc biệt là Quan Hoàng Đôn.
Tên gọi ấy bắt nguồn từ một truyền thuyết được lưu truyền trong vùng.
Người dân kể rằng, từ rất lâu trước đây,
từng có một vị hoàng đế xa cơ vì chạy trốn tai họa nên lưu lạc tới nơi này.
Ông ẩn cư tại đây trong nhiều năm,
cuối cùng sau khi qua đời cũng để lại quan tài của mình ở chính vùng đất này.
Đúng lúc các nhà khảo cổ đang lần theo manh bối đó để tiếp tục phân tích
thì một cảnh tượng khiến tất cả phải sửng sốt xuất hiện.
Trong lúc dọn những tam hợp thổ vỡ,
một nhân viên bất ngờ nghe thấy tiếng kim loại và chạm rất giòn.
Anh cúi xuống nhìn và phát hiện dưới chân mình lại có một vật giống nghiệt một chiếc đồng hồ thụy sĩ.
Nói chính xác hơn, thay vì gọi là đồng hồ đeo tay,
nó giống một chiếc nhẫn được chế tắc thành hình đồng hồ hơn.
Xét từ chất liệu, hình dáng bên ngoài và nhiều đặc điểm khác,
vật thể mang hình chiếc đồng hồ thụy sĩ này,
dù nhìn thế nào cũng rất giống một sản phẩm của thời cận hiện đại.
Vậy tại sao một thứ như thế lại có thể xuất hiện trong một ngôi mộ có điên đại hàng trăm năm?
Chẳng lẽ chủ nhân ngôi mộ thực sự đã từ thời hiện đại, xuyên không trở về quá khứ?
Câu trả lời sẽ có ở cuối video nha các bạn.
Thế nhưng sau với chiếc đồng hồ tí hòn kia,
còn có một chi tiết khác dường như càng khó giải thích bằng khoa học hơn.
Trong khai hở giữa quan tài trong và quách ngoài của người vợ,
nhân viên khảo cổ lại phát hiện một con rán còn sống, kích thước gần bằng một ngón tay người.
Thông thường tuổi thọ của rán tối đa cũng chỉ vài năm.
Vậy con rán này đã chui vào một cỗ quan quách bằng tam hợp thổ được bịt kín gần như hoàn hảo bằng cách náo.
Và nó đã sống sót tới tận thời điểm ngôi mộ được khai quật ra sau.
Cho đến nay, đây vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải.
Tháng 6 năm 2019, quan tài của người chồng cũng được mở.
Quả nhiên, trên đầu người đàn ông cũng có kiểu búi tóc thời minh giống người vợ.
Dưới thân ông cũng được đặt một tấm ván bố trí theo hình bắt đầu thật tình.
Ngoài ra, người ta còn bất ngờ phát hiện trên nắp quan tài của người chồng xuất hiện một mảng lớn những sợi trắng đan thành dạng lưới.
Người dân địa phương gọi loại sợi trắng này là râu rồng.
Hàm ý rằng, chủ nhân ngôi mộ cùng hậu ruệ của ông đã nhận được sự che trở của chân lòng.
Sự xuất hiện của râu rồng dường như lại khiến thân phận đế vương của chủ nhân ngôi mộ càng trở nên đáng ngờ hơn.
Mà nếu nhắc tới các vị hoàng đế nhà Minh,
người có số phận sau cùng bí ẩn nhất không ai khác ngoài vị hoàng đế thứ hai của chiều Minh, Chu Doãn Văn.
Thời nhà Minh tổng cộng có 16 hoàng đế, họ đều được ăn táng tại Minh thập Tam Lang ở Bắc Kinh.
Chỉ riêng kiến văn đế Chu Doãn Văn là sống không thấy người, chết không thấy sát.
Ngay cả nơi trốn cất cũng không rõ tùng tích.
Thậm chí có một truyền thuyết cho rằng,
Chu Doãn Văn đã dùng cách xuyên không để tránh khỏi lưỡi dao của cuộc chính biến và trận đại hỏa trong Hoàng cung.
Sau đó lại mang theo công nghệ hiện đại trở về thời của mình.
Vậy các vợ chồng trong ngôi mộ Thượng Tư rốt cuộc có phải Chu Doãn Văn và hoàng hậu của ông hay không?
Muốn giải đáp bịa này, chúng ta phải quay trở lại ngày xảy ra biển cố Tích Nan.
Ngày 13 tháng 6 năm 1402, quân đội của Yên Vương Chu Đề đã áp sát thành Đàm Kinh.
Quân phòng thủ Kinh Thành biết không thể chống cử đã quyết định mở cửa thành.
Vị hoàng đế thứ hai của nhà Minh kiến văn đế Chu Doãn Văn khi ấy gần 25 tuổi,
nhìn thấy đại thế đã mất nên ông quyết định phóng hỏa đốt cung điện.
Và chính vì trận hỏa hoạn ấy mà số phận sau đó của kiến văn đế gần như bị đốt thành một khoảng tráng trong lịch sử.
Cuối ngày hôm đó, người chú thứ tư của Chu Doãn Văn là Chu Đề dẫn quân xông vào Hoàng Cung.
Giữa khói lửa cuồn cuộn, ông tìm thấy thi thể của rất nhiều người.
Nhưng duy nhất không thấy tung tích người cháu của mình.
Muốn hiểu mối ân oán giữa hai chú cháu này,
chúng ta phải quay ngược lại từ chuyện Chu Nguyên Trương lựa chọn người kế vị.
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Trương có tổng cộng 26 người con trai,
ngoại trừ người con trai trưởng Chu Tiêu được lập làm thái tử và một số hoàng tử qua đời khi còn nhỏ.
Phần lớn những người con trai còn lại đều được phong vương đi chấn giữ các phiên địa.
Trong số đó, Yên Vương Chu Đệ chấn giữ Bắc Bình,
đứng hàng thứ tư và từng được xem là một trong những phiên vương có thực lực mạnh nhất.
Nhưng trong rất nhiều người con, người mà Chu Nguyên Trương yêu quý và kỳ vọng nhất
rõ ràng vẫn là đích trưởng tử Chu Tiêu do Mã Hoàng Hậu sinh ra.
Để bồi dưỡng Chu Tiêu, Chu Nguyên Trương gần như dốc hết tâm sức.
Ông không chỉ sớm trao cho con trai quyền giám quốc thực tế của thái tử
mà còn cho phép Chu Tiêu công khai xây dựng đội ngũ chính trị của riêng mình.
Nhiều công thần, danh tướng khai quốc, trong đó có Lam Ngọc
đều được xem là lực lượng có thể hỗ trợ Chu Tiêu trong tương lai.
Nhờ sự ưu ái gần như không che giấu của Chu Nguyên Trương,
Chu Tiêu từng trở thành một trong những thái tử có quyền lực lớn nhất lịch sử Trung Hoa.
Nhưng trời không chiều lòng người, thái tử Chu Tiêu qua đời khi còn rất trẻ.
Theo lẽ thông thường, sau khi trưởng tử mất,
người con trai thứ hai là tần vương Chu Sảng,
đáng lẽ có cơ hội trở thành người kế vị.
Nhưng Chu Sảng tính tình tàn bạo, hành vi nhiều lần quá đáng,
khiến ngay cả Chu Nguyên Trương cũng cực kỳ bất mãn.
Chu Nguyên Trương từng bích thân liệt kê hàng loạt tội trạng của người con này,
thậm chí có lúc còn định phế bỏ tước phiên vương của cậu ta.
Một người như vậy đương nhiên rất khó được lựa chọn làm thái tử.
Người con thứ hai không đáng tin, vậy người thứ ba thì sao?
Tấn vương Chu Cường cũng có tính khi nóng này,
từng nhiều lần bị Chu Nguyên Trương của trách vì những hành vi tàn bạo đối với người dưới.
Nói đi nói lại, trong số các hoàng tử trưởng thành,
người có vẻ thích hợp nhất lại chính là người con thứ tư, Chu Đệ.
Yên vương Chu Đệ là một trong những người con nổi bật nhất của Chu Nguyên Trương.
Từ khi còn trẻ, ông đã được đưa ra chấn giữ vùng Bắc Bình,
nơi thường xuyên phải đối mặt với sức ép từ các thế lực Mông Cổ ở phương Bắc.
Không giống những hoàng tử lớn lên chủ yếu trong cung cấm,
Chu Đệ trưởng thành giữa quân doanh, chiến mã và những cuộc hành quân thực sự.
Chính môi trường ấy đã tạo ra một Chu Đệ rất khác.
Ông có kinh nghiệm cầm quân, hiểu chiến trường, biết cách dùng tướng
và đặc biệt có khả năng đưa ra quyết định rất nhanh trong những thời điểm nguy hiểm.
Qua nhiều năm trinh chiến ở phía Bắc,
Chu Đệ từng bước xây dựng được uy tín lớn trong quân đội
và trở thành một trong những phiên vương có thực lực mạnh nhất nhà mình.
Điều đáng nói là tính cách của Chu Đệ cũng có nhiều điểm rất giống Chu Nguyên Trương.
Cả hai đều cứng rắn, quyết đoán, thực tế
và không dễ bị tình cảm chi phối khi xử lý những vấn đề liên quan đến quyền lực.
Nếu Chu Nguyên Trương là người đã dùng chiến tranh để dựng nên nhà mình,
thì Chu Đệ dường như cũng sở hữu những phẩm chất cần thiết để tiếp tục bảo vệ đế quốc ấy.
Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào năng lực quân sự, bản lĩnh chính trị và khả năng kiểm soát triều cục,
Chu Đệ rõ ràng là một ứng viên kế vị rất đáng chú ý.
Nhưng vấn đề của ông lại không nằm ở năng lực, nó nằm ở thân phận.
Trong chế độ phong kiến, việc kế vị không đơn giản chỉ là chọn người giỏi nhất.
Nhà mình đặc biệt coi trọng nguyên tắc đích trường,
tức ưu tiên dòng con chính của hoàng hậu và hậu duệ của trường tư.
Chu Đệ tuy là hoàng tử có thực lực mạnh nhất,
nhưng xét về thứ tự và tính chính thống, ông vẫn đứng sau dòng của Thái tử Chu Tiêu.
Sau khi Chu Tiêu qua đời, Chu Nguyên Trương đứng trước một lựa chọn cực kỳ khó khăn,
hoặc phá vỡ trật tự kế vị để trao Ngai Vàng cho người con trở thành nhiều kinh nghiệm như Chu Đệ,
hoặc tiếp tục bảo vệ dòng chính thống mà mình đã xây dựng từ đầu.
Cuối cùng, ông chọn phương án thứ hai.
Ngai Vàng được trao cho Chu Giãn Văn, con trai của Chu Tiêu.
Đối với Chu Nguyên Trương, đây có lẽ là cách đảm bảo tính chính danh cho triều đại.
Nhưng với Chu Đệ, quyết định ấy đồng nghĩa với việc một người có quân đội,
kinh nghiệm chiến trường và tham vọng chính trị lớn phải đứng nhìn một người cháu trẻ tuổi bước lên Ngai Vàng.
Và chính từ khoảnh khắc ấy, giữa hai người đã tồn tại một mâu thuẫn rất khó tránh khỏi.
Chu Nguyên Trương hiểu rõ rằng, Chu Giãn Văn tính tình nhân hậu,
thiếu thuật nhưng thiếu sự quyết đoán và kinh nghiệm quyệt biến,
rất có thể sẽ khó giữ vững giang sơn.
Để dọn đường cho cháu nội, trong những năm cuối đời,
vì Hoàng đế già đã tiến hành hàng loạt cuộc thanh trừng.
Những đại thần vốn được chuẩn bị để phỏ tá Chu Tiêu,
cùng nhiều võ tướng khai quốc quyền lực như Phó Hiễu Đức, Phùng Thắng, Lam Ngọc, lần lượt bị loại bỏ.
Lý do sâu xa chỉ có một.
Chu Nguyên Trương lo rằng, sau khi mình chết,
người cháu còn trẻ sẽ không thể khống chế được những công thần có uy danh và bình quyền quá lớn.
Chu Nguyên Trương dù đã giết rất nhiều công thần,
nhưng ông lại rất ít khi trực tiếp xử tử những người con trái của mình.
Trước khi qua đời, ông còn để lại một di chiếu quan trọng.
Các phiên vương không được tự ý vào kinh triệu tang.
Mục đích chính là bảo đảm Chu Giạn Văn có thể thuần lợi kế vị,
mà không bị các thúc phụ mang quân vào kinh gây chiến.
Năm Hồng Vũ thứ 31, Chu Nguyên Trương qua đời.
Chu Giạn Văn khi ấy mới ngoài 20 tuổi, kế thừa Hoàng Vị.
Đổi những hiệu thành Kiến Văn, sự gọi là Kiến Văn Đế.
Sau khi lên ngôi, Chu Giạn Văn nhanh chóng muốn củng cố quyền lực của riêng mình.
Nghe theo Tề Thái và Hoàng Tử Trừng,
ông bắt đầu cuộc thực hiện chính sách tước phiên
nhằm thu lại binh quyền và đặc quyền của các phiên vương.
Chỉ trong chưa đầy một năm, phiên vương liên tiếp bị xử lý,
người bị thế làm thứ dân, người bị bắt giữ,
thậm chí tương vương Chú Bách vì không chịu nổi nhục nhã
đã phóng hỏa vương phủ cùng cả gia đình chết trong biển lửa.
Việc một Hoàng đế trẻ tuổi muốn tập trung quyền lực vốn không khó hiểu.
Nhưng sai lầm của Chu Giạn Văn là làm quá nhanh và quá mạnh.
Thay vì từng bước làm suy yếu các phiên vương,
ông gần như muốn tức sạch quyền lực của những người chú trong thời gian ngắn.
Chính sự nóng vội ấy đã đẩy hoàng tộc nhà Minh vào thế đối đầu.
Và người nguy hiểm nhất cuối cùng cũng bị ép phải ra tay, Yên Vương Chú Đệ.
Dựa vào quy định Trung Yên Trương từng để lại rằng
phiên vương có thể đem quân vào Kinh nếu triều đình xuất hiện gian thân.
Chú Đệ lấy danh nghĩa thành quân chắc trừ gian thân,
tuyên bố khởi binh chống Tề Thái và Hoàng tự trưng.
Cuộc chiến tĩnh nan từ đó bùng nổ.
Chỉ sau 4 năm, Chú Đệ đã từ phiên vương có lực lượng hạn chế
đã liên tiếp đánh bại quân triều đình và tiến vào Nam Kinh.
Khi kinh thành thất thủ, Chú Giãn Văn lại đột ngột biến mất.
Theo Minh Sử và Minh Thái Tông thực lục,
Chú Giãn Văn đã phóng hỏa Hoàng Cung để tự thiêu.
Chú Đệ lập tức sai người lao vào cứu.
Nhưng khi đưa được thi thể ra ngoài,
người đó đã cháy đến mức gần như không thể nhận dạng.
Chú Đệ được chép là đã ôm thi thể khóc lớn,
trách người cháu vì sao lại dại rột đến vậy.
Rồi ra lệnh an táng theo nghì lễ thiền tử.
Nhưng cũng chính từ đây,
một nghi vấn kéo dài hơn 600 năm bắt đầu xuất hiện.
Người chết trong đám cháy đó có thực sự là Chú Giãn Văn hay không?
Thời đó lại không có kỹ thuật xét nghiệm ADN.
Vậy dựa vào đâu Chú Đệ có thể khẳng định người chết chính là Chú Giãn Văn?
Vì thế có giả thuyết cho rằng,
Chú Đệ đã lấy một thi thể cháy đen trong cung
rồi tuyên bố đó là kiến văn đế.
Lý do rất đơn giản.
Chỉ khi thiên hạ tin Chú Giãn Văn đã chết,
Chú Đệ mới có thể dành chính ngôn thuật lên ngồi,
đổi niên hiệu thành vĩnh lạc.
Nhưng nếu kiến văn đế thực sự chết,
thì lăng mộ của ông ở đâu?
Cho đến nay, câu hỏi ấy vẫn chưa có lời giải rõ ràng.
Thậm chí cuối thời mình,
triều đinh còn thừa nhận kiến văn đế không có lăng để tế.
Một số ghi chép cho rằng,
người chết trong đám cháy thực ra là Hoàng Hậu,
còn Chú Giãn Văn đã trốn thoát.
Dù sự thật thế nào,
trên giấy tờ ông đã được coi là chết.
Nhưng Chú Đệ dường như vẫn không yên tâm.
Sau khi chiếm Nam Kinh,
ông bí mật cho người truy tìm tung tích người cháu.
Một người đi đường bộ,
một người đi đường biển.
Người đi biển chính là Trịnh Hòa.
Ngoài nhiệm vụ ngoại giao và phố trường của Uy,
có giả thiết cho rằng,
các chuyến Tây Dương của Trịnh Hòa
còn nhằm do tìm kiếm Văn Đế.
Tuy nhiên, đây nhiều khả năng chỉ là nhiệm vụ phụ.
Còn người được giao tìm kiếm trên đất liền
mới là nhân vật đặc biệt hơn.
Người đó tên là Hồ Huỳnh,
một đại thân rất được Chú Đệ tin tưởng.
Năm 1407,
ông được phái ra ngoài với giày nghĩa tìm Trường Tam Phong.
Nhưng nhiệm vụ bí mật thực sự là do tung tích Chú Giãn Văn.
Cuộc tìm kiếm kéo dài suốt 16 năm,
thậm chí khi mẹ qua đời,
Hồ Huỳnh xin về triệu tang cũng không được Chú Đệ cho phép.
Đến năm 1423,
Hồ Huỳnh bất ngờ trở về gặp Chú Đệ giữa đêm.
Hai người nói chuyện kín suốt nhiều giờ,
gần sáng mới kết thúc.
Sự sách không ghi họ đã nói gì,
chỉ cho biết từ sau cuộc gặp ấy,
những nghi ngờ trong lòng Chú Đệ dường như đã được giải tỏa.
Ông cũng không còn tiếp tục truy tìm kiếm Văn Đế.
Điều đó khiến nhiều người suy đoán rằng
Hồ Huỳnh đã mang về câu trả lời cuối cùng.
Hoặc Chú Giãn Văn đã chết,
hoặc ông vẫn còn sống nhưng đã hoàn toàn tư bỏ ý định phục vị.
Một năm sau, Chú Đệ qua đời.
Bí mật về số phận kiến Văn Đế cũng theo đó tiếp tục bị trồn vùi.
Nếu Chú Giãn Văn thật sự không chết trong trận hỏa hoạn ấy,
ông đã chạy đi đâu?
Và ông đã thoát khỏi Hoàng Cung bằng cách nào?
Không chỉ Chú Đệ muốn biết tung tích của Chú Giãn Văn,
nhiều đời sau, ngay cả Vạn Lịch Hoàng Đế, Chú Dực Quân cũng rất tò mò về chuyện này.
Năm Vạn Lịch thứ 2, khi mới 11 tuổi,
Vạn Lịch Đế từng hỏi Trương Cư Chính rằng
kiến Văn Đế năm xưa có thật sự trốn khỏi Hoàng Cung hay không?
Trương Cư Chính trả lời rằng chính sự không ghi rõ.
Nhưng nhiều Đại Thần Đương Triều đều tin rằng
khi Nam Kinh thất thủ, Chú Giãn Văn đã cải trang thành Hoà Thượng
rồi bí mật thoát khỏi Cung.
Câu chuyện này về sau được lưu truyền rất rộng.
Theo minh sử kỳ sự bản mạt,
khi biết kinh thành sắp mất, Chú Giãn Văn ban đầu định tự sát.
Nhưng Đại Thần Trinh Tế đã ngăn lại và nhắc tới một chiếc hộp Chú Nguyên Trương từng để lại.
Dặn rằng chỉ được mở khi gặp nại nán.
Bên trong có 3 tấm độ điệp, 3 bộ tăng y, dao cạo đầu và một ít tóc bạc.
Nói đơn giản, đó gần như là một bộ giấy tờ và trang phục cải trang hoàn chỉnh.
Chú Giãn Văn lập tức cạo tóc, thay áo nhà sư, cho phóng hỏa trong Cung để đánh lạc hướng
rồi cùng một số Đại Thần bí mật rời khỏi Nam Kinh.
Điều đáng chú ý là giả thuyết này không hoàn toàn vô căn cứ.
Nhiều tài liệu và phát hiện sau này cho thấy
khu vực Hoàng Cung Nam Kinh từng tồn tại những đường ngầm
và hệ thống thoát nước đủ lớn để con người đi qua.
Hơn nữa, chú đệ không bất ngờ đánh úp Nam Kinh.
Từ lúc quân Yên áp sát đến khi tiến vào Kinh Thành còn khoảng vài ngày,
đô đệ chú Giãn Văn chuẩn bị một đường rút lui.
Vậy ông đã đi đâu?
Có giả thuyết cho rằng điểm dừng đầu tiên là trịnh trạch ở Phổ Giang.
Trong số những người theo ông có trịnh hiệp, vốn là người địa phương,
gia tộc họ Trinh lại từng chịu ân của chú Nguyên Trương,
nên hoàn toàn có lý do để che giấu và bảo vệ chú Giãn Văn.
Nhưng từ đây, dấu vết của ông gần như biến mất.
Một số truyền thuyết cho rằng ông tiếp tục chạy xuống Tây Nam,
tại Trung Khánh và nhiều nơi khác vẫn còn hàng loạt địa danh
được dân gian gắn với kiến văn đế.
Một số giả thuyết khác lại cho rằng ông chạy tới Kim Hoa,
Chiên Giang, đổi tên thành Trần Long Tiêu rồi sống ẩn cư trong nhiều năm.
Từ thời điểm ấy, chú Giãn Văn gần như biến thành một bóng ma trong lịch sử.
Nơi nào cũng có dấu vết, nhưng không nơi nào có đủ bằng chứng
để khẳng định chắc chắn ông từng xuất hiện.
Nhưng sau tất cả những truyền thuyết ấy,
chúng ta vẫn phải quay lại hai câu hỏi quan trọng nhất.
Thứ nhất, ngôi mộ ở Thượng Tư có thực sự là mộ của kiến văn đế chú Giãn Văn hay không?
Câu trả lời hiện nay là chưa thể khẳng định.
Năm 2011, các chuyên gia nghiên cứu lịch sử nhà mình và khảo cổ học
từng trực tiếp thảo luận về giả thuyết này.
Kết luận vẫn rất thận trọng.
Chủ nhân Nam có thể là chú Giãn Văn, nhưng cũng hoàn toàn có thể không phải.
Trong mộ không có biêm mộ, mộ trí hay bất kỳ văn tự nào sắc niệm danh tính.
Những yếu tố như bắt đầu thật tinh, trang phục cao cấp và hình thức mái tán đặc biệt
chỉ cho thấy hai người có địa vị không tầm thường.
Chứ chưa đủ chứng minh họ là hoàng đế và hoàng hậu.
Thậm chí niên đại trang phục của người phụ nữ được xét nghiệm cho thấy
chúng thuộc khoảng những năm 1430 đến 1440.
Đây là một manh mối đáng chú ý, nhưng vẫn không phải bằng chứng xác nhận
ba là hoàng hậu của kiến văn đế.
Vậy con chiếc đồng hồ Thụy Sĩ, nó có chứng minh rằng đã từng xảy ra vụ xuyên không hay không?
Câu trả lời cũng là không.
Điều quan trọng thường bị các câu chuyện trên mạng bỏ qua
là vật thể này không được tìm thấy trên thi thể,
cũng không nằm sâu bên trong quan tài đã bịt kín.
Nó được phát hiện ở khu vực mép Hố Mộ khi một mảng tam hợp thổ bên ngoài bị đào lên.
Sau đó cán bộ quản lý di tích địa phương còn đưa ra một khả năng rất thực tế.
Khu vực này từng được trồng cây ăn quả và canh tắc nhiều năm,
nên trách nhẫn hình đồng hồ rất có thể là động vật hiện đại
bị đánh rơi rồi lẫn vào lớp đất quanh bộ.
Nói cách khác, cho đến nay không có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy
một chiếc đồng hồ hiện đại thực sự được trôn cùng chủ nhân ngôi mộ từ thời mình.
Và càng không có bằng chứng cho thấy tru dẫn văn đã xuyên không.
Thứ còn lại sau cuộc khai cuộc năm 2008
không phải là bằng chứng về du hành thời gian,
mà là một bí ẩn lịch sử khác hấp dẫn hơn rất nhiều.
Một cặp vợ chồng có địa vị cao
được trôn theo nghi thức đặc biệt giữa vùng núi Quảng Tây.
Không bìa mổ, không tiêm tuổi, không hậu nhân rõ ràng.
Và kỳ lạ thay, ngay tại vùng đất ấy lại lưu truyền câu chuyện
về một vị hoàng đế lưu vong.
Liệu người đàn ông trong quan tài có phải tru dẫn văn hay không?
Cho đến hôm nay, khoa học vẫn chưa thể trả lời.
Nhưng có một điều như chắc chắn
nếu kiến văn đế thực sự sống sót sau trận đại hỏa ở Nam Kinh
ông không cần phải xuyên qua thời không để biến mất.
Chỉ cần cởi hoàng bào, khoác lên mình một bộ tăng y
và bước ra khỏi lịch sử.
Như vậy đã đủ để khiến hậu thế tìm kiếm ông suốt hơn 600 năm.
Còn quan điểm của bạn về vị hoàng đế bí ẩn này như thế nào?
Hãy để lại ý kiến trong phần bình luận nhé!
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!