Chuyện Nhân Quả Hay: 3 Chuyện Về Kẻ Bạc Nghĩa – Đến Cuối Cùng Phải Trả Giá Đắt

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AICâu chuyện kể về bi kịch và sự hối hận của Trầm Thế Uyên, một kẻ bội bạc đã ruồng bỏ người vợ tào khang Tố Như để cầu vinh hoa. Sau khi sa cơ lỡ vận, bị tước hết quyền lực và lưu đày, Thế Uyên mới nhận ra giá trị của lòng thủy chung. Cuối cùng, sự bao dung của Tố Như và hành trình chuộc tội muộn màng của Thế Uyên để lại bài học sâu sắc về lòng biết ơn và sự tử tế.
Ở đời, có những món nợ không được viết trên giấy mực, không tính bằng bạc vàng.
Nhưng đi hết một kiếp người ta vẫn chẳng thể trả xong.
Người ta thường nhớ ơn một kẻ hào sản, ném cho mình nén bạc lúc đã đủ đầy.
Nhưng lại vội vã, ngoảnh mặt với người từng nhịn từng hớp cháo loãng để nhường mình sống qua ngày giáp hạt.
Lòng dạ con người vốn không đổi trắng thay đen chỉ sau một đêm.
Nó bắt đầu từ một ý nghĩ thoảng qua, một lần tự thấy mình xứng đáng với những thứ lộng lẫy hơn.
Rồi một cái quay lưng rất khẽ trước người từng chia ngọt xẻ bùi.
Để rồi nhiều năm sau, giữa muôn trùng gió rét của cuộc đời, khi mọi vinh hoa chút bỏ như lớp vấn vụn,
người ta mới bàng hoàng nhận ra, thứ cứu mạng mình nơi bước đường cùng không phải áo gâm nghìn lượng nơi lầu son gác tía,
mà lại là chiếc bát mẻ đựng ngụm cháo cũ năm nào.
Mùa đông năm ấy ở thôn Bình Lăng vuốt giá hơn mọi năm.
Gió từ bến sông giít qua từng khe nứa của căn nhà, chanh giột nát.
Ngọn đen dâu chỉ còn một vệt bất cạn khô, lay lắt trực tắt trước từng cơn gió thốc.
Trên chiếc chõng tre ọp ẹp, chẩm thế uyên ngồi co do,
hai bàn tay tím tái vì dép vẫn cố bấu chặt lấy mép, cuốn sách rách bìa.
Hắn là một thư sinh nghèo, cha mẹ mất sớm.
Trong nhà chẳng có tài sản gì đáng giá ngoài mấy hàng kinh sử mối mọt
và sự tự tôn đặc quánh của một kẻ muốn đổi đời bằng con đường khoa cử.
Bên bến đá lạnh ngắt cuối thôn, người ta vẫn nghe tiếng đập áo đều đặn giữa đêm khuya.
Đó là Vương Tố Như.
Nàng cưới thế uyên từ năm 17 tuổi.
Mang theo của hồi môn chỉ là hai bàn tay chịu thương chịu khó.
Bàn tay nàng quanh năm ngâm trong nước lạnh của bến sông để ra thuê từng manh áo thô cho người ta.
Những ngón tay nứt nẻ dì máu thành từng vẹt đỏ rồi khô lại dưới gió bắc.
Tố Như ít nói.
Nàng không biết những lời văn hoa của Thánh Hiền.
Chỉ biết mỗi đồng tiền công chắt bóp được đều để dành mua dầu thắp sáng, bàn học.
Mua từng sắp giấy lệnh cho chồng luyện chữ.
Nửa đêm, tiếng gió ngoài hiên đập liên hồi vào phên nứa.
Tố Như bưng vào một chiếc bát gốm tráng men xanh đã sứt một màu ở miệng.
Khói bốc lên nghi ngút mang theo mùi thơm nhạt nhạt của kê đầu mùa.
Còn đúng một nắm kê cuối cùng, nàng nấu thành một bát cháo loáng.
Tố Như nghiêng chiếc mùi gỗ, khéo leo gạt hết phần cái đặc nhất vào chiếc bát sứt ấy, đưa đến trước mặt Thế Uyên.
Chàng ăn đi cho ấm bụng rồi đọc tiếp.
Trời lạnh thế này, đừng để bụng đói.
Thế Uyên nhìn chiếc bát sứt, rồi nhìn đôi tay nứt nẻ của vợ trong mắt thoáng qua một tia sót xa thực sự.
Hắn hỏi khẽ.
Còn náng, cả ngày nay nàng đã có hạt nào vào bụng đâu?
Tố Như mỉm cười, nụ cười hiền hậu giấu sau vạt áo nâu bạc màu.
Lúc nãy bên nhà mụ trương trả công giật, người ta cho thiếp hai củ khoai nướng rồi, giờ thiếp vẫn còn no lắm.
Thế Uyên không hỏi thêm.
Hắn bưng chiếc bát lên, hút từng ngụm cháo nóng hổi.
Cái ấm áp lan tỏa từ cổ họng xuống lồng ngực xua đi cơn rét cam cam.
Hắn không nhìn thấy ở góc bếp tối tâm, Tố Như đang lặng lẽ cuối đầu hút từng ngụm nước trong veo, còn sót lại nơi đáy nổi, bàn tay khẽ xoa lên bụng để ngăn một cơn quản đói.
Ăn xong, Thế Uyên nắm lấy bàn tay thô giáp của vợ, rọng nghẹn lại đầy xúc động.
Tố Như, đời này ta nợ nàng.
Chờ ngày ta đỗ đạt vinh quy, ta nhất định sẽ may cho nàng áo gấm đẹp nhất kinh thành.
Đón nàng ngồi kiệu hoa, không để nàng phải chạm tay vào nước lạnh một ngày nào nữa.
Tố Như chỉ nhìn chồng, ánh mắt trong veo như là nước mùa thu.
Nàng không mơ áo gấm, cũng chẳng mang kiệu hoa.
Với nàng, chỉ cần người đàn ông trước mặt còn nhớ đến hơi ấm của bát cháo kê này, thì bao nhiêu cay đắng nàng gánh chịu cũng đều đáng giá.
Nhưng nàng đâu ngờ rằng, lời hứa hẹn dưới mái nhà tranh khi còn hàn vi, đôi khi ấm như đốm lửa, nhưng lại là thứ tàn lụi nhanh nhất khi gió đổi chiều.
Mùa xuân năm sau, Trầm Thế Uyên khoác lên mình chiếc áo bông cũ trần trì đỏ do chính tay tối như thức thâu ba đêm vá lại, bước lên chiếc thuyền nan rời bến sông Cô Giang vào Kinh Ứng Thí.
Trong túi nải của hắn, chỉ có dăm chiếc bánh ngô khô khốc và mấy đồng bạc vụn gói trong mảnh khăn vuông đã ố màu.
Đứng bên rạng liễu già đầu thôn, bóng tối như nhỏ bé nhạt nhòa trong làn mưa phùn răng kín mặt sông.
Hắn ngoái lại nhìn nàng, tự nhủ lòng dạ này quyết không phụ người tri kỷ.
Kinh đô Thăng An đón chào gã thư sinh nghèo bằng vẻ tráng lệ, ngợp ngợp đến hoa mắt.
Những cỗ xe song mã khảm xà cừ lanh bánh trên đường đá hoa cương, mùi trầm hương bảng lảng từ những lầu gác cao vút, tiếng đàn tranh béo von hòa cùng tiếng cười giòn tan của các tiểu thư khuê cát trong dèm lụa mỏng.
Tất cả những thứ đó rội vào tâm can Thế Uyên như một đợt sóng giữ.
Hắn bỗng thấy chiếc áo bông trần chỉ đỏ trên vai mình sao mà thô kịch, nặng trịch và bốc lên mùi ẩm mốc của sóng nghèo.
Hắn nếp mình bên vệ đường, giấu đôi bàn tay khô giáp vào sâu trong tay áo mỗi khi một cỗ kiệu quý lướt qua.
Kỳ thi năm đó, nhờ dùi mài kinh xử trong gian khó, bài luận trị quốc của Thế Uyên được quan chủ khảo hết lời ca ngợi.
Tên hắn chém chệ trên bảng vàng khoa giáp. Chỉ sau một đêm, người ta mang ngựa hoa, áo đỏ và cháp tiền đến tận lữ quán tồi tàn nơi hắn trọ.
Trong số những kẻ dập diều tới lui, có cỗ xe tứ mã của nghiêm thừa tướng, vị đại thần nắm giữ binh quyền lẫn nguồn tài chính của lục bộ.
Tại phủ nghiêm gia Nguy Nga như cung điện, Thế Uyên lần đầu được ngồi trên đệm gấm, nhấp chén trà tuyết liên thơm ngát mà cả đời chưa từng hay biết.
Bên kia bức dèm trâu là nghiêm cẩm tú, ái nữ duy nhất của thừa tướng.
Nàng ta kiêu sa, khoác lụa mềm mỏng tanh, móng tay son đỏ khẽ mân mê trái ngọc.
Ánh mắt cẩm tú nhìn qua dèm không giấu vẻ thích thú trước vẻ khôi ngô nhưng thoáng chút e rè của vị tân khoa tiến sĩ.
Đêm đó, trong gian phòng khách xa hoa của tạ phủ, Thế Uyên mở nải tích sự ra.
Chiếc áo bông trần trì đỏ sờn vai nằm lạc lõng giữa hai tấm gấm vóc thượng hào hạng mà thừa tướng vừa ban tặng.
Mùi vải mới thơm lừng lấn át hẳn mùi cho bếp quen thuộc.
Hắn chạm tay vào mũi chỉ vụn về của vợ.
Trong lòng trợt dâng lên một cảm giác ngột ngạt khó tả.
Nếu đón nàng lên đây, nàng sẽ đứng ở đâu giữa những mệnh phụ phu nhân đài các kia?
Nàng sẽ nói gì trước những câu đối đáp tao nhá nơi tiệc tùng?
Một ý nghĩ vừa nhen nhóm đã khiến Thế Uyên dùng mình.
Hắn vội vá xếp chiếc áo cũ lại, nhét sâu xuống đáy dương gỗ.
Hắn tự nhủ, ta không phụ nàng, chỉ là tạm thời chưa thể đón nàng.
Trống kinh kỳ gió tanh mưa máu, một người phụ nữ quê mùa như nàng chịu sao nổi.
Sự tự biện hộ đầu tiên trơn tru trôi qua cổ họng hắn, nhẹ bẫng như một làn khói mỏng tan vào đêm.
Tin Thế Uyên, đỗ đạt truyền về thôn Bình Lăng như một cơn mưa rào tưới xuống vùng đất cằn cỗi.
Cả làng kéo đến căn nhà tranh ruột nát, người mang nải chuối, kẻ xách con gà chúc mừng.
Tố Như đứng giữa sân, vạt áo nâu vẫn còn vấy bùn sau buổi gánh nước thuê.
Nàng bối rối chắp tay cảm tạ từng người, đôi mắt ẩn ẩn nước nhìn lên bàn thờ cha mẹ chồng đã nghi ngút khói hương.
Nàng không mang đến lời tung hồ, phu nhân trạng quyên, nàng chỉ mau mau chóng nhận được một phong thư báo bình an.
Mỗi chiều bung xuống, Tố Như lại mang chiếc bát gốm nước miệng ra mép bến đá rửa thật sạch, rồi đặt cẩn thận trên bậu cửa sổ cạnh bàn học cũ.
Nàng nhớ từng nét mặt của Thế Uyên mỗi khi hắn bưng chiếc bát này, nhớ ánh mắt tha thiết của hắn dưới ánh đèn dầu leo lét.
Với nàng, chiếc bát ấy còn nguyên vẹn hơn bất cứ thứ gì trên đời, bởi nó lưu giữ trọn vẹn lời thề thốt, thủa hàn vị, thư đầu tiên gửi về kinh thành kèm theo hai lượng bạc vụn.
Lời lẽ thư Thế Uyên viết rất ngắn, nói việc quan trường bận rộn, kinh đô chi phí đắt đỏ, dặn nàng cứ an tâm, giữ gìn sức khỏe ở quê nhà.
Tố như cẩn thận vuốt thẳng từng nếp giấy, gói lá thư lại cùng với mảnh khăn tay cũ, lòng tràn ngập niềm tin tưởng.
Nàng đem số bạc ấy chia bớt cho mấy người già tàn tật trong làng, phần còn lại cất kỹ dưới đáy hũ gạo, chẳng dám tiêu riêng cho mình một đồng một cắt.
Thế nhưng bức thư thứ hai gửi về sau đó nửa năm lại lạnh lùng hơn trước.
Không còn lời hỏi thăm đôi bàn tay nàng mùa đông có có nứt nẻ hay không, chỉ toàn những câu chữ rào đón.
Trốn thăng an lễ nghi nghiêm ngặt, bồng lộc triều đình chưa ổn định, đường xá xa xôi cách trở.
Nàng thân nữ nhi dậm trường, chở vội nghĩ đến việc lai kinh mà xin chắc trở cho đường tiến thủ của ta.
Tố như đọc đi đọc lại bức thư dưới ánh đèn dầu váng vất.
Tiếng gió mùa đông năm ấy lại bắt đầu giít qua vách nứa, lạnh buốt như ngàn mũi kim trâm.
Nàng ngồi im lìm bên chiếc bàn học cũ, tay mân mê vành sứt của chiếc bát gốm.
Trong đáy mắt người đàn bà tạo tần ấy, một thoáng âu lo bắt đầu gợn lên, mỏng manh nhưng dây rứt khồn ngùi.
Hạ tuần tháng 10, một cỗ xe ngựa gác lỏng xanh dừng trước lối ngõ hẹp dẫn vào thôn Bình Lăng.
Tiếng lục lạc đồng kêu khô khốc giữa buổi chiều ông giá rét, làm lũ trẻ chăn trâu giật mình, giạt sang hai bên bờ cỏ.
Một gã quản sự bận áo chẽ lụa xanh, chân sỏ ủm da đen bóng bước xuống xe.
Đưa mắt nhìn quanh căn nhà tranh siêu vẻo với vẻ khinh khi lộ gió nơi khỏe miệng.
Lúc ấy, tối như vừa gánh hai thùng nước từ bến cô giang lên.
Đôi quang gánh kiểu kịt trên đôi vai gầy, vạt áo nâu bạc phết ướt xuống một bên hồng.
Nhìn thấy người lạ đứng trước sân, nàng vội đặt gánh nước xuống, đưa bàn tay nứt nẻ, chùi vội vào vạt áo trước khi bước tới.
Dám hỏi nhị vị tìm ai?
Gã quản sự không đáp ngay.
Hắn đưa khăn tay lên che mũi, như sợ mùi bùn đất và mùi cho chấu bốc lên từ góc vườn làm bận áo, cất giọng theo thế.
Đây có phải chỗ ở của Vương Thị, nguyên phối của Chẩm Thế Uyên?
Chẩm biên tu viện Hàn Lâm không?
Nghe thấy tên chồng, mắt tối như sáng lên, sự mệt mỏi trên gương mặt hốc hác dường như tan biến trong chốc lát.
Phải, chính là tiện thiếp. Có phải, chàng sai quan bác mang thư về.
Gã quản sự cười nhạt một tiếng, quay đầu ra hiệu cho tên gia đồng đi sau khiêng vào một chiếc cháp gỗ bọc đồng đặt hình xuống chiếc bàn tre ọc ẹp giữa sân.
Nắp cháp bật mở, bên trong xếp đầy những thỏi bạc trắng lạnh bút, phế hễm lấp lánh thư ánh sáng xa lạ với mảnh đất nghèo này.
Nhưng thứ đập vào mắt tối như không phải là bạc, mà là một phong thư bằng giấy hoa tiên đỏ thắm đặt ngay ngắn bên trên.
Chẩm đại nhân nay đã là rể hiền của nghiêm thừa tướng, tiền đồ vạn rặm.
Đại nhân nói, người xuất thân hàn vi, không am tường lễ nghi trốn kinh kỷ.
Nếu ép ở cạnh nhau, chỉ thêm làm trò cười cho thiên hạ, trói buộc bước chân của ngài.
Cháp bạc 50 lượng này xem như chút nghĩa bồi thường thanh xuân của cô.
Còn phong thư này, chính tay đại nhân hạ bút, tố như đứng chết lặng giữa sân.
Đôi quang gánh bên cạnh vẫn còn dị từng giọt nước xuống nền đất khổ khốc, phát ra những tiếng tách, tách đều đặn đến ghê người.
Nàng dun dậy bước tới, không nhìn cháp bạc lấy một lần, chỉ vươn những ngón tay thô giáp, chai sần nhặt lấy bức thư.
Từng nét chữ quen thuộc hiện ra, sắc xảo, rứt khoát, không một nét dun dậy.
Đó đúng là nét chữ của người đàn ông từng đêm đêm ngồi bên chiếc bát mẻ, nắm tay nàng hứa một đời áo gấm.
Hắn viết, duyên mỏng khó giữ, ơn sâu hóa gánh nặng, nay gửi hư thư, đôi ngả tự do, từ đây không còn vướng bận.
Cô ký tên hay điểm chỉ vào giấy biên nhận số bạc này đi, chúng tôi còn phải về kinh bẩm báo, gã quản sự sốt ruột rục giá.
Gió bắc giít qua rạng tre đầu ngó.
Mấy người hàng xóm quanh vùng bắt đầu tụ tập ngoài bờ rào, những tiếng xì xào, thương hại lẫn tò mò bùa vây lấy nàng.
Tố như không khóc, nàng không gào thét, không quỳ xuống đất van xin như gã quản sự mương tượng.
Đôi mắt nàng tĩnh lặng đến rợn người, chỉ có vạt áo nâu, khẽ run lên theo từng cơn gió bút.
Nàng chậm dãi gấp tờ thư lại, nhét vào trong ngực áo, nơi gần trái tim nhất, rồi đậy nắp cháp gỗ lại, đẩy nhẹ về phía người hậu.
Bạc này, mang về cho chàng.
Nói với chàng, năm xưa ta chắt bóp từng hạt kê nuôi chàng ăn học, không phải để bán lấy 50 lượng bạc hôm nay.
Hư thư ta nhận, duyên rứt nghĩa tản, nhưng bạc của nghiêm phủ, ta không nuốt trôi.
Nói xong, nàng xoay người bước vào nhà, khép chặt cánh cửa liếp.
Bên ngoài, tiếng gã quản sự lầm bầm mắng nàng ngu dốt, tiếng bánh xe ngựa lục cụp lanh bánh xa dần.
Trong căn nhà tranh tối tâm, tố như ngồi thụp xuống góc đất lạnh, xe ôm lấy chiếc bát gốm nứt miệng vào lòng.
Nàng không rơi một giọt nước mắt nào, nhưng lồng ngực như bị một bàn tay vô hình bóp nghẹt, đau đớn đến mức không thở nổi.
Chiếc bát vẫn còn nằm đó, lạnh tanh như một lời nhắc nhở cay nghiệt rằng,
mọi ân tình trên cõi đời này, đôi khi cũng mỏng manh như một lớp men gốm rạn.
Sáng hôm sau, người làng Bình Lăng không còn thấy khói bếp bốc lên từ nóc nhà tranh.
Cánh cửa liếp cài then, bên trong trống trơn.
Tố như chỉ mang theo một bọc quần áo cũ, tờ hư thư đã gấp gọn và chiếc bát xứt miệng,
lặng lẽ bước xuống bến sông Cô Giang, đi về phía thượng nguồn mù mịt xương mù.
Năm năm trôi qua ở kinh thành Thăng An, tựa như một giấc mộng dệt bằng gấm hòa.
Chẩm thế uyên nhờ bóng cây đại thụ của nghiêm gia, mà thăng tiến như diều gặp gió,
từ một biên tu nhỏ nhoi leo lên chức thị lang bộ hộ.
Trong phủ trạch nguy nga mới dựng, hắn ra vào có lính hầu gươm tuốt trần dạ bảo,
yến tiệc tiếp đái tân khách ngày đêm không dứt.
Hắn đã quen với việc khoác áo lụa lạ, quen uống rượu quỳnh tương trong chén ngọc,
và cũng học được cách khẽ nhét mép cười kinh miệt khi nhìn thấy những kẻ hành khất phong trần bên lề đường.
Thế nhưng, nghiêm Cẩm Tú chưa từng coi hắn là một người chồng đúng nghĩa.
Trong mắt nàng ta, thế uyên chỉ là một kẻ hàn sĩ đổi đời nhờ ơ ân mưa móc của nhà họ nghiêm,
một con rối biết nghe lời được cha nàng nhắc lên từ vũng bùn.
Những lần cãi vã trong phòng kín, Cẩm Tú chưa bao giờ tiếc lời sỉ nhục góc gác bần tiện của hắn.
Mỗi lần như thế, thế uyên lại giam mình trong thư phòng, uống rượu một mình đến tàn cành.
Đôi khi giữa cơn say chánh choáng, bóng hình chiếc bát gốm nứt miệng và mùi cháo kê loãng lại chập trờn hiện về,
nhưng hắn lập tức lắc đầu thật mạnh, tự rót thêm một chén rượu đầy để dập tắt chút lương chi vừa nhe nhóm.
Hắn tự nhủ, ta đã có tất cả, thứ tình cảm quê mùa kia đáng giá mấy đồng.
Nhưng phú quý say trên mưu mô và quyền lực bất chính chẳng khác nào tòa lâu đài cát dựng trước sóng giữ.
Mùa thu năm ấy, ngự sự đài đồng loạt dân sớ hạch tội nghiêm thừa, tướng tham ô cứu tế miền Duyên Hải.
Lũng đoạn quân lương, lập bè kết đảng mưu hại trung thần.
Hoàng đế nổi trận Lôi Đình, lập tức hạ lệnh niêm phong toàn bộ gia sản họ nghiêm.
Tống giam toàn bộ những kẻ liên đới vào thiên lao chờ ngày nhị tội.
Tin xét đánh truyền đến Vĩnh phủ Thị Lan giữa lúc thế uyên còn đang phê duyệt công văn.
Hắn hốt hoàng chạy vào hậu viện tìm Cẩm Tú bàn kế sách.
Nhưng đập vào mắt hắn chỉ là những chiếc dương mở toang hoác, xiêm y vương vãi khắp sàng nhà.
Cẩm Tú đã cùng đám ra nhân thân tín, gom sạch vàng bạc châu Báo, trốn về quê ngoại ở Lĩnh Nam từ nửa đêm trước.
Không để lại cho hắn, dù chỉ một mảnh thư tử.
Khi thế uyên chạy ra đến Đại Môn, tiếng vó ngựa dồn dập đã bao vây kín ngó.
Chẩm thế uyên tiếp trị.
Một tiếng quát vang lên cắt đứt hy vọng cuối cùng.
Thế uyên bị lột bỏ mũ canh chuồn, chiếc áo quan đỏ rực bị xé rách tả tơi.
Hắn bị khép vào tội đồng mưu với thừa tướng giả mạo sổ sách kho lương.
Nhờ trước đây, từng có công dân biểu trị thủy, hắn thoát tội chém đầu, nhưng bị tước hết chức vị.
Tịch thu toàn bộ gia sản, chịu hình phạt, thích chữ lên mặt và đầy đi lưu đầy chung thân nơi ải.
Phong làng, miền biên viễn quanh năm tuyết phủ gió gạo.
Nơi người đi mười kẻ, thì chín kẻ gửi xương tàn, nơi đất khách.
Ngày hắn bị dạy ra khỏi thiên lao, trời đổ một cơn mưa xối xả.
Những kẻ hôm qua còn chen trúc trước cửa phủ vang xin hắn nâng đỡ,
nay đứng hai bên đường nhổ nước bọt, ném đá vào chiếc xe tù bọc lưới sắt.
Không một ai quay đầu lại nhìn hắn bằng ánh mắt xót thương.
Chiếc công gỗ nặng nề đè nghiến lên đôi vai từng quen mặc áo lụa.
Từng bước chân xình xích kéo lê trên nền đá hoa cương của kinh thành Thăng An,
lạnh bút, thấu vào xương tủy.
Giờ phút này, hắn mới thẫu hiểu thế nào là sự tàn nhẫn của quyền thế,
thế nào là thói đời ấm lạnh khi chiếc áo khoác danh vọng bị lột trần.
Đoàn tù lưu đài lê bước trên con đường thiên lý dẫn lên phương Bắc
khi trời bắt đầu chuyển sang những ngày rét bút nhất của mùa đông.
Gió từ mặt sông lớn thổi thốc vào bờ, cuốn theo từng đợt cát lạnh rát mặt.
Mỗi bước đi, tiếng xích sắt va vào đá hộp lại vang lên khô khốc,
lách cách giữa khoảng không hoang vắng.
Chiếc gông gỗ sồi đè trĩu trên hai bả vai Thế Uyên,
lớp da thịt nơi cổ và cổ tay bị ma sát lâu ngày đã tuét ra,
máu dì hòa cùng mồ hôi và bụi đất, đóng thành từng vẹt vảy nâu đen nhức nhối.
Một người từng quen ngâm mình trong nước hoa thơm, quen lụa là ấm áp như.
Thế Uyên làm sao chịu nổi cảnh ngày đi mười dặm đường đất,
đêm nằm co ro dưới gầm cầu đá hay hiên nhà hoang.
Khẩu phần mỗi ngày chỉ là một mẫu bánh bột ngô mốc meo và nửa gáo nước lã đục ngẩu.
Nuốt miếng bánh mà cổ họng khô khốc như có dầm cào, dạ dày hắn quạn thắt từng cơn.
Bàn chân sỏ trong đôi dày cỏ rách bươm đã bật móng,
mỗi lần chạm xuống đá nhọn là một lần buốt tận ốc.
Đến chiều ngày thứ 9, đoàn áp giải dừng chân tại dịch chạm bên bờ sông Cô Giang,
nơi ngã ba đường nước trước khi ngược lên ải phong lăng mù sương.
Cơn sốt ủ từ những vết thương mù bốc lên hừng hực, thiêu đốt thân xác tàn tạ của Thế Uyên.
Mắt hắn mở đặc, môi khô nẻ dớm máu, đầu óc quay cuồng không còn phân biệt được ngày hay đêm.
Hai viên sai dịch thấy hắn lảo đảo ngã gục xuống vũng bùn trước cổng trạm thì chửi thề ôm xóm.
Một tên đá mạnh vào sườn hắn.
Thế Uyên nằm úp mặt trên nền đất ẩm, chỉ thở ra từng hơi yếu ớt, ngắt quáng.
Lão Trương, người lính già coi giữ dịch chạm, từ trong gian nhà củi bước ra,
tay cầm cây gậy tre gõ cọc cọc xuống đất.
Lão nhìn người tù đang thoi thóp, lại nhìn vệt máu kéo dài từ bắp chân, thở dài khuyên can.
Cắt quan bác để nó nằm tạm vào góc kho củi đi.
Thân nhiệt thế này, kéo đi ngay đêm nay thì chưa tới chân đèo đã thành cái xác không hồn,
chỉ thêm phiền hà việc công văn bàn dao.
Hai tên sai dịch tạc lưỡi, tháo xích chân rồi quẳng.
Thế Uyên vào đống dơ mốc nơi góc kho củi tối tăm,
như vứt một đống rẻ rách rồi kéo nhau lên nhà trên uống rượu ấm.
Đêm đen như mực trút xuống bến sông.
Cơn sốt mê sảng nhấn chìm Thế Uyên vào những mảng ký ức hỗn độn.
Trong bóng tối chập trởn, hắn thấy mình lại ngồi bên chiếc bàn gỗ cũ,
ở thôn Bình Lăng.
Tiếng mưa rơi lộp độp trên mái tranh giột nát,
ngọn đèn dầu lay lắt hắt bóng hai người lên vách nứa.
Trước mặt hắn, một bóng người gầy gò đang nghiêng chiếc muối gỗ,
cẩn thận gạt từng hạt kê đặc vào chiếc bát gốm nứt miệng.
Mùi khói bếp nồng nàn, mùi kê mới ngọt ngọt ấm áp như phả ngay bên cánh mũi.
Hắn run dậy vươn bàn tay xưng húp, đầy vết thương tích ra giữa hư không,
miệng mấp mái thèo thảo qua đôi môi nứt nẻ.
Tố như, ta đói, ta lạnh quá.
Nhưng bàn tay hắn chỉ cừa quạng vào đống dơm lạnh ngắt,
và khoảng không gian ẩm mốc, nồng nặc mùi chuột bỏ.
Cổ họng cháy rát, không bật ra được tiếng khóc,
chỉ có hai dòng nước mắt nóng hổi ứa ra từ khóe mắt thâm quần,
chảy qua gò má hốc hác, rơi xuống nền đất lạnh căm.
Nửa đêm, tiếng gió hú qua khe cửa gỗ mục nát của kho củi,
nghe như tiếng than khóc của loài dã thú.
Cơn co giật bắt đầu rút kiệt chút tàn lực cuối cùng trong lồng ngực thế huyên.
Tiếng xiềng xích trên tay hắn run lên bần bật,
va vào cọc gỗ thành từng nhịp ngắt quáng.
Lão Trương xách ngọn đèn báo leo lét bước vào,
cúi xuống sờ trán phạm nhân.
Trán nóng như hòn than, hơi thở khe khe trong lồng ngực lép kẹp.
Lão chép miệng.
Tội nghiệp, e là chẳng qua nổi canh nằm.
Chân trừ một thoáng, lão nhớ đến căn am nhỏ Thanh Thảo Viện cách bến sông Trừng Nửa Dặm,
nơi có một phụ nữ quanh nằm nấu nước lá và cháo ấm cứu tế cho những người phu trèo đỏ và kẻ lỡ bước.
Lão vội sai thằng bé, phụ dịch chạy men theo bờ đê,
sang am xin chút cháo nóng và thang thuốc hạ nhiệt.
Một canh giờ sau, tiếng than cài lách cách vang lên.
Cánh cửa kho củi kéo kẹt mở ra,
mang theo một luồng gió lạnh bút và ánh sáng mơ ảo của ngọn đèn lồng giấy.
Một bóng người bước vào.
Chiếc áo vải thô màu nâu sông giản dị,
mái tóc búi gọn sau gái cài chiếc châm gỗ mọc mạc.
Vạt áo còn vương lại, chút hơi ấm của khói bếp.
Người đó ngồi xuống đống dơ bên cạnh, đặt chiếc giỏ mây xuống đất.
Từ trong giỏ, một chiếc bát được cẩn thận bưng ra.
Làn khói trắng bóc lên cuộn cuộn,
mang theo hương thơm rượu ngọt của cháo kê nóng hổi.
Nó đến nhói bút tâm can mà suốt năm năm sống giữa tiệc tùng sơn hào hải vị.
Thế uyên chưa từng được người thấy thêm một lần nào nữa.
Hắn khó nhọc hé mở mi mắt nặng chiếu.
Dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn bão,
đập vào mắt hắn đầu tiên không phải gương mặt người mang cháo,
mà là chiếc bát gốm tráng men xanh,
nơi bành miệng có một vết xứt hình trăng khuyết đá ngả màu xám cũ.
Tim Thế uyên như ngừng đập trong lồng ngực.
Hắn giật thót, cả thân hình co dúng lại như vừa chạm vào thanh sắt nung đỏ.
Hắn ngước nhìn lên, gương mặt ấy.
Dù năm tháng đã hằn lên đôi mắt những vẹt nhăn nhà nhạt,
dù nét thanh xuân đã phai tàn theo những nhọc nhằn.
Nhưng đôi mắt tĩnh lặng, bao dung mà cương nghị kia,
thì cả đời này hắn không bao giờ có thể quên được.
Tố, tố như, như.
Giọng hắn khàn đặc, vỡ vụn trong cổ họng,
ngẹn lại như một tiếng rên rỉ của kẻ sắp chết đuối.
Tố như không đáp, nàng không lùi lại, không tỏ vẻ kinh ngạc,
cũng không để lộ lấy một tia oán hận hay xót thương trên nét mặt.
Nàng chỉ lặng lẽ ngồi đó, dùng chiếc thịa tre múc từng mũm cháo kề
đưa lên miệng khẽ thổi cho bớt hơi nóng,
rồi đưa đến sát đôi môi nứt nẻ giớm máu của hắn.
Hơi ấm của mũm cháo chạm vào môi.
Thế uyên nuốt được một ngụm.
Thứ nước cháo ngọt lành, ấm áp trôi qua cuống họng rách toạc,
lan tỏa khắp lòng ngực lạnh ngắt,
như níu giữ linh hồn hắn vừa trớm bước sang bờ cõi bên kia.
Nuốt thêm một ngụm nữa, nước mắt hắn tuôn trào ràn rụa,
lăn dài xuống khóe miệng.
Mặn chát hòa vào vị cháo,
hắn dun dậy muốn đưa hai bàn tay đang bị khóa chặt bởi chiếc cùm sắt
lên níu lấy vạt áo nâu của nàng,
nhưng chiếc gông nặng nề ghi chặt hắn xuống đất.
Hắn dập đầu xuống dơm, khóc nấc lên từng hồi thảm thiết.
Nàng, nàng vẫn giữ chiếc bát này ư?
Nàng đến cứu ta sao?
Tối như, ta có tội.
Ta là kẻ bạc tình, ta bị quỷ ám tâm can rồi.
Năm xưa bị gấm vóc che mắt, ta đã phụ nàng,
phụ cả những ngày nàng giặc thuê nhịn đói nuôi ta.
Trời phạt ta thế này là đúng lắm.
Nhưng xin nàng,
xin nàng niệm tình xưa mà tha thứ cho ta một lần.
Đợi ta mãn hạn lưu đầy,
ta sẽ về làm trâu làm ngựa đền đáp cho nàng.
Những lời văn xin nghẹn ngào vang vọng giữa gian phòng củi ẩm thấp,
nghe đau đớn đến xé lỏng.
Lão Trương đứng tựa cửa ngoài hiên,
lặng lẽ quay mặt đi không nỡ nhìn.
Tối như vẫn bình thản múc từng muỗng cháo đút cho hắn,
cho đến khi chiếc bát cạn đáy.
Nàng lấy một mảnh vải sạch lau đi vệt cháo
và nước mắt vương trên khóe môi hắn.
Động tác nhẹ nhàng, thuần thuộc,
như cách nàng vẫn làm cho những kẻ khốn cùng ghé qua am nước.
Xong xuôi, nàng đặt chiếc bát sứt xuống mặt sàn gỗ bên cạnh hắn.
Ánh mắt nàng nhìn thẳng vào đôi mắt đỏ ngầu,
ngập tràn sự hổ thẹn của thế uyên.
Giọng nàng cất lên, rất khẽ, rất êm,
nhưng danh giọt từng chữ giữa đêm vắng.
Ta giữ chiếc bát này, không phải vì mong có ngày hội ngộ,
càng không phải vì còn chờ chàng quay đầu.
Nàng dừng lại một nhịp thở,
ánh mắt hướng về khoảng tối ngoài song sắt.
Ta giữ nó, để nhắc mình rằng
những năm tháng hàn vi đó là thật,
tấm lòng ta từng trao đi thuở ấy cũng là thật.
Chỉ có người nhận lấy nó,
là đã đổi thay.
Thế uyên run dẩy ngước nhìn,
lồng ngực như bị một nhát dao cùn cưa nát.
Hôm nay ta đến đây đưa bát cháo này.
Tố như tiếp tục.
Giọng nàng bình lặng như mặt nước,
cô giang phẳng lặng không một gợn sóng.
Vì ta từng là người cùng chàng ăn bữa cháo kê năm ấy,
ta không nỡ nhìn một con người chết đói chết dét ngay trước mắt mình.
Ta cứu một mạng người sắp tàn,
chứ không phải cứu vị phu quân năm xưa.
Bát cháo này,
là để trả trọn cái nghĩa làm người giữa ta và chàng.
Tố như nàng không thể,
cho ta một cơ hội xáo.
Thế uyên nghẹn ngào,
giọng gần như van lơn trong tuyệt vọng.
Tố như khẽ lắc đầu.
Duyên giữa chúng ta,
ngày chiếc xe hoa tiên đưa hư thư về bến Bình Lăng,
đã rứt sạch rồi.
Bát cháo nguội năm xưa chàng có thể quên,
nhưng vết thương chàng ràng rạch vào lòng người khác,
thì trời đất đều nhớ.
Ta không hận chàng,
hận một người đã bỏ mình,
cũng như tự mình uống thuốc độc mỗi ngày.
Ta buông tay chàng,
để lòng mình được thanh thản.
Nàng đứng dậy, thu dọn giỏ tre,
lấy ra thêm hai gói thuốc chỉ phong hàn,
đặt lại bên đống dơm.
Uống thuốc này, chàng sẽ qua được cơn sốt đêm nay.
Đường lên ải phong lăng còn xa và lạnh lắm.
Tự chàng hãy bảo trọng lấy thân mình.
Nói dứt lời, nàng xoay người bước ra cửa.
Không một cái ngoái đậu,
không một giọt nước mắt rơi.
Chiếc bóng áo nâu phẳng lặng bước vào màn sương tuyết mịt mù,
tan biến dần vào bóng đêm dày đặc của bờ sông,
để lại sau lưng tiếng khóc giống nghẹn ngào.
Tuyệt vọng của một kẻ tội đồ
đang ôm lấy chiếc bát sứt mẻ,
trong góc tối tầm.
Đêm hôm đó, khó củi của dịch chạm chìm
Ngọn đèn báo cạn dầu,
tim đèn lụi dần thành một đóm đỏ nhỏ xíu,
rồi tắt hẳn,
trả lại gian phòng cho bóng tối mênh mông.
Ngoài kia,
gió rét từ mặt sông Cô Giang
vẫn không ngừng quất vào vách gỗ,
nhưng thế uyên không còn cảm thấy
cái lạnh thấu xương của chân da nữa.
Cơn sốt trong người hắn,
nhờ chén thuốc của Tố Như mà dịu đi,
hơi nóng rút dần khỏi vòng họng.
Thân xác bớt đau đớn,
nhưng đó cũng là lúc sự tỉnh táo
quay về bóp nghẹt tâm can hắn.
Thế uyên nằm bất động trên đống dơ mục,
hai bàn tay dứa máu
vẫn ôm chặt lấy chiếc bát gốm,
nứt miệng trước ngực.
Mặt men trơn lạnh áp vào lớp áo
tù ẩm ướt, bút giá,
nhưng không lạnh bằng nỗi hổ thẹn
đang cuộn trào trong lồng ngực.
Hắn nhớ lại từng lời nàng vừa nói.
Tố Như không một lời nhiếc móc.
Nàng không nhắc lại bức hư thư đỏ thắm năm nào,
giặt thuê nuôi hắn ăn học,
cũng chẳng hề nhắc đến 50 lượng bạc
hắn gửi về như một sự sỉ nhục
vào nhân phẩm của nàng.
Sự bao dung phẳng lặng như tờ của nàng
không phải là thứ tha thứ mềm yếu,
mà là một sự đoạn tuyệt
dứt khoát đến tận cùng.
Nàng cứu mạng hắn chỉ vì lòng
chắc ẩn của một con người dành cho
một kẻ sắp chết, chứ tuyệt nhiên
không còn một chút vấn vương nào
của tình nghĩa phu thề.
Chính sự tử tế không vụ lời ấy
mới là bản án tàn khốc nhất.
Nó như một tấm gương
trong suốt dựng lên giữa đêm đen,
phản chiếu trần trụi từng góc khuất
đê tiện, hẹn hạ và phản chắc
trong tâm hồn hắn.
Hắn từng tưởng mình vứt bỏ người vợ quê mùa
để leo lên chiếu trên của quyền quý
là khôn ngoan, tưởng rằng bạc vàng
phủ nghiêm gia có thể mua đứt
mọi ân tình cũ.
Nhưng giờ đây, những kẻ cùng hắn
nâng chén tiêu dao, kẻ cùng hắn
thề non hẹn biển nơi lầu son gác tía
đều đã ngoảnh mặt quay lưng khi cơn rông ập đến.
Người duy nhất
mang đến cho hắn hơi ấm để giữ lại
tàn mạng giữa đêm đông giá rét này
lại là người hắn từng nhẫn tâm
rạch vào lòng một vết thương sâu hấm.
Hai hàng nước mắt
đục ngầu, mặn chát của một kẻ
tội đồ dì qua kẻ mi.
Tí tách rơi vào lòng chiếc bát mẹ.
Tiếng giọt nước rơi khẽ khảng.
Cô độc vang lên giữa đêm khuya
vắng lặng. Hắn không còn
cất tiếng van xin nữa, bởi hắn hiểu ra
rằng trên cõi đời này có những
cánh cửa một khi đã tự tay khép lại
thì dẫu có quỳ gãy gối, khóc
cạn máu mắt, cũng vĩnh viễn
không bao giờ có thể mở ra thêm một lần nào nữa.
Sáng hôm sau
khi tiếng coi lệnh của đám sai dịch
xé toạc màn xương mù dày đặc bên bến sông
đoàn tù lại lục tục lên đường.
Lão Trương lặng lặng đem
chiếc bát gốm gói cẩn thận trong một
mảnh bao tải gai, nhét sâu
vào đáy, đáy của Thế Uyên.
Thế Uyên không nói một lời,
chỉ quỳ dạp xuống lên đất ẩm,
dập đầu tạ ơn người coi trạm rồi
gượng đứng dậy, tự mình tra
hai tay vào xích sắt.
Vượt qua ngàn dặm tuyết xương,
đoàn tù đặt chân đến ải phong lăng.
Nơi chót vót lưng trừng trời,
đất đá cẳn cỗi và gió bắc
gầm rú quanh năm.
Thế Uyên bị sung vào đội phu đốn gỗ
và quét dọn doanh trại của trạm dịch
Biên Cương. Bỏ lại
sau lưng vóc dáng của một vị
thị lang đại các. Hắn khoác lên
mình manh áo vá thô ráp,
đôi bàn tay từng chỉ quen cầm bút lông
nai chai sần, nứt toác vì khuôn vác
những xúc gỗ nặng triễu tuyết.
Thế Uyên không than vãn nửa lời,
cũng không còn tìm cách van xin sự
thương hại của quan giám sát.
Ngày ngày, hắn lầm lũi làm việc
nhiều hơn phần việc của mình, nhận lấy
những công việc nặng nhọc và nhơ bẩn
nhất trong doanh trại. Khẩu phần ăn
ít ỏi mỗi bữa chỉ là một bát
bánh mì khô, nhưng hắn luôn dùng
chiếc bát gốm nứt miệng năm xưa
để đựng. Hãy gặp
người lính thú nào bị sốt rét hay
đứa trẻ lang thang cơ nhỡ con của đám
tù binh qua đời. Hắn lại
lặng lẽ nghiêng môi, nhường phần cháo
đặt cho họ. Tự mình
húp phần nước trong veo nơi đáy bát
như cách mà Tố Như từng làm cho hắn
thủa hàn vi bên bếp lửa thôn Bình Lăng.
Đêm về, dưới ánh lửa
bập bùng của lò sưởi trung trong
lán củi, Thế Uyên nhặt
từng màu than củi sốt lại
mài nhẵn những thanh gỗ thông thừa để
dạy chữ cho con em đám lính thú nghèo hèn.
Những người lính thú
không biết chữ, muốn gửi một bức thư
về quê cho mẹ già hay người vợ
đầu hôm sớm mai, đều tìm đến hắn.
Hắn ngồi
bên bờ tuyết, nắn nót viết từng dòng
chữ thay họ, cẩn thận gói ghém
tâm sự của từng mảnh đời lận đận
mà không lấy một đồng thù lao.
Ai hỏi sao phải tự đày đọa
mình như thế? Thế Uyên chỉ cuối đầu
bàn tay khẽ vuốt ve vết sứt
trên vành chiếc bát gốm.
Đời ta nợ người ta một tấm chân tình
nợ đời này một lần ngay thẳng
nay chút tàn lực còn lại
chỉ mong trả bớt phần nào món nợ
của lương tâm. Cứ thế
10 mùa tuyết phủ trắng xóa ải phong lăng
trôi qua trong thầm lặng.
Tóc Thế Uyên bạc trắng quá nữa
lưng đã còng dạp và đôi mắt mờ dần
sau những đêm dài dạy học bên khói than củi.
Hắn chưa từng một lần nhắc lại
hai chữ quay về, bởi hắn biết
nơi biên tái lạnh giá này
chính là nơi hắn phải ở lại, trả nợ từng ngày
cho đến hơi thở cuối cùng.
Mùa đông năm thứ 12
ở ải phong lăng, một trận báo tuyết
lớn chưa từng thấy chút xuống
xóa nhòa mọi lối mòn dẫn lên trạm gác.
Chẩm Thế Uyên
chút hơi thở cuối cùng trên manh chiếu
rơm một nơi góc lán củi, đúng
vào một đêm gió bắc dít Liên Hội.
Lúc ra đi, nét mặt hắn
thanh thản, không còn vẻ hoàng loạn
của kẻ tử tù năm nào.
Hắn không để lại tài sản gì,
chỉ có hai bàn tay buông thẳng trên ngực
và chiếc bát gốm nứt miệng
được lau chùi sạch bong đặt ngay ngắn
bên đầu nằm.
Sang đầu xuân, khi băng tan trên dòng cô giang
một người lính già xuất ngũ
từ biên ải, ghé qua am nước Thanh Thảo Viện.
Ông ta cởi
chiếc bọc vải thô trên lưng,
cẩn thận đặt lên bậc đá trước cửa am
một chiếc bát gốm tráng men xanh đã sứt
một màu nơi miệng.
Người lính già cuối đầu trầm giọng nói
Trầm tiên sinh trước khi nhắm mắt
có nhờ tôi mang vật này
về trao lại cho nữ chủ nơi đây.
Tiên sinh dặn
chiếc bát này vốn thuộc về người,
nay xin trả về trốn cũ.
Tố như bước ra, nàng đã già đi nhiều
mái tóc điểm xương
cài chích trong gỗ cũ, vạt áo nâu
vẫn phẳng phất mùi khói bếp và mùi lá thuốc.
Nàng cuối người nhắc chiếc bát lên
bên trong lòng bát trũng xuống
có một màu giấy bọc thuốc
đã ố vàng theo năm tháng,
mép giấy sờn rách.
Trên đó chỉ còn một dòng mực mờ nhạt
viết bằng mụi than củi,
nét chữ run dẩy như ngày ngắn.
Nợ nàng một đời tạo khang,
kiếp này trả không nổi.
Mười năm nơi ải tuyết, ta chưa từng dám quên
ngụm cháo cũ.
Tố như lặng im nhìn màu giấy rất lâu.
Đôi mắt nàng phẳng lặng
như là nước sông Cô Giang buổi sớm mai,
không gợn một tiêu án giận,
cũng chẳng rơi một giọt lệ bi sầu.
Nàng không giữ màu giấy lại,
nàng đưa nó vào bếp lỏ,
ngọn lửa đỏ bốc lên thiêu rụi mảnh giấy
thành tàn cho trong chớp mắt,
rồi hỏa tan vào làn khói trắng
bay lơ lửng qua mái chành.
Nàng mang chiếc bát gốm
xứt ra giếng nước sau am,
dùng sơ mướp cọ rửa thật sạch sẽ
từng đường men dạn, rồi đặt nó lên
chiếc giá gỗ bên cạnh nồi cháo kê
đang sôi lục bục trên bếp than hồng.
Sáng hôm ấy,
một ông lão hành khất dắt theo đứa cháu nhỏ
dách dưới run dẩy ghé vào mái am xin ăn.
Tối như không hỏi họ từ đâu đến,
cũng không hỏi họ có tiền hay không.
Nàng chỉ lặng lẽ cầm chiếc bát men xanh
xứt miệng ấy lên,
nhưng chiếc mùi gỗ múc đầy
một bát cháo kê nóng hổi bốc khói nghi ngút,
rồi mìm cười đưa tận tay đứa trẻ.
Ăn đi con,
ăn cho ấm bụng rồi hãy đi tiếp.
Khói cháo trắng bay lên,
quyện vào gió sớm của bến sông lạnh.
Chiếc bát từng chứng kiến
một lời thề son sắt,
từng nếm trải một sự bội bạc xót xa
và từng giữ lại một mạng người
nơi bờ vực tàn tả,
nay lại tiếp tục sứ mệnh trở tre cho một kiếp người
đói rách khác.
Ở đời, danh vọng rồi sẽ tản,
áo gấm nhìn lượng mặc mái cũng rách,
bạc vàng chất đầy dương thắc xuống
cũng chẳng mang theo được.
Chỉ có sự tử tế, trao đi đúng lúc
giữa những ngày bần hàn, hoạn nạn
mới là thứ đi qua được bão dông của năm tháng.
Lặng lẽ quay về,
giữ lại cho con người một chút hơi ấm
để sống trọn vẹn kiếp nhân sinh.
Ở đời,
có những món nợ không viết trên giấy mực
nhưng lại bắt ta phải trả bằng cả một kiếp người.
Và có những ân tình bình dị
tưởng như một bát cháo nguội
nhưng lại soi tỏ trọn vẹn lương tâm
giữa cõi nhân gian.
Nếu câu chuyện hôm nay
để lại trong lòng bạn một khoảng lặng
để nhìn lại những người từng cùng mình
đi qua dông báo,
xin hãy bấm đăng ký kênh Chuyện Xưa
để cùng lắng nghe và chiêm nghiệm
thêm nhiều bài học nhân sinh sâu sắc
trong những câu chuyện tiếp theo.
