Ở hiền gặp lành / Giữ Lòng Ngay Thẳng Giữa Gian Khó Và Đón Nhận Phúc Báu / Chuyện Nhân Quả

Sống thuận tự nhiên
442 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIChuỗi câu chuyện xoay quanh các nhân vật họ Lục và những bài học sâu sắc về sự chính trực, lòng trắc ẩn và triết lý kinh doanh bền vững. Qua những thăng trầm trong nghề vận chuyển, đóng thuyền và làm gốm, các nhân vật đã chứng minh rằng năng lực đi kèm với đạo đức và sự tử tế đối với cộng đồng chính là nền móng vững chắc nhất để đạt được thành công và sự bình an.
Người đời vẫn bảo ở hiền gặp lành, nhưng vì sao có những người hiền lành, chăm chỉ lại luôn là người phải chịu thiệt thòi và bất công?
Mời các bạn xem hết câu chuyện sau đây để hiểu rõ vì sao điều lành nành đích thực chưa bao giờ đến từ sự nhẫn nhịn vô điều kiện,
mà là bản lĩnh và nhân cách vững vàng giữa sóng gió cuộc đời.
Cuối thời Bắc Tống, tại thôn Trúc Khê thuộc Phủ Tuyên Châu, có đôi vợ chồng trẻ, Lục Cảnh Nghi và Phương Tú Vân.
Sáng nào trời chưa sáng rõ, hai vợ chồng đã tách những bó gai phơi từ hôm trước rồi gánh xuống bờ sông ngâm để chuẩn bị xe sợi.
Đó là phần việc nặng nhất trong nghề làm vải gai của cả nhà.
Người Anh cả Cảnh Thành thường mang hàng ra chợ huyện, còn cô em út Ngọc Chi chủ yếu xe chỉ.
Cha mẹ không ghét Cảnh Nghi.
Trong mắt họ, con Trường phải lo hương hỏa nên cần giữ phần ruộng tốt, con gái út sau này về nhà chồng nên phải dành cho ít vốn riêng.
Còn Cảnh Nghi và Tú Vân khỏe mạnh, chịu khó, ít than vãn, thành ra việc khó thường rơi vào hai người.
Mùa xuân năm ấy, nhà có ba xào đất bãi mới thuê.
Hai xào gần mương nước được giao cho Cảnh Thành chồng dâu, còn xào xa nhất, đất lẫn sỏi, cha giao cho Cảnh Nghi chồng đầu.
Tú Vân nghe xong không nói gì.
Tối đến, nàng mới thú nhận với chồng rằng có lúc mình thấy chạnh lòng.
Cảnh Nghi cũng buồn, điều làm chàng tuổi không phải ít hơn một mảnh ruộng mà là cảm giác cha mẹ luôn tin anh cả sẽ làm nên chuyện, còn mình chỉ hợp gánh phần nặng.
Tú Vân không khuyên chồng cứ nhịn mái.
Nàng nhìn thẳng vào thực tế.
Ruộng ít, nghề gai lời mỏng, hai người có cố thêm cũng khó đổi đời.
Sau vài đêm bàn bạc, họ quyết định tìm đường lên thành, nhưng trước hết vẫn làm xong phần việc trong nhà để cha mẹ hiểu họ đi vì muốn tự lập, không phải vì giận dỗi.
Cũng thời gian ấy, thương gia hứa Kính Dương thường đưa đoàn xe đến Trúc Khe thu mua vải gai, sợi thô và dầu trậu.
Ông đi buôn nhiều năm nên quen nhìn cách người khác làm việc trước khi tin lời họ nói.
Lần đầu ông để ý Cảnh Nghi là khi người phụ việc ghi nhầm thêm hai bó sợi cho nhà họ.
Nếu im lặng, Cảnh Nghi sẽ được thêm gần nửa quan tiện.
Chàng xem lại rồi chủ động báo sai, mang hai bó sang cân lại.
Hứa Kính Dương không khen, chỉ hỏi tên chàng.
Một lần khác, mưa lớn làm xe trở vại của vài nhà trong thôn lật giữa đường.
Cảnh Nghi và Tú Vân dừng lại giúp dựng xe phủ bạt nên đến điểm giao muộn.
Cảnh Nghi không xin ưu tiên.
Tú Vân kiểm từng cuộn vải bị ẩm, tự tách số chưa đạt khỏi hàng tốt.
Sự kỹ lưỡng ấy khiến hứa Kính Dương bắt đầu nhớ mặt hai người.
Đầu hạ, ông trở lại thì gặp chuyện một người trong thôn giao thiếu vải, nhưng nhất quyết cho rằng đã đủ.
Cảnh Nghi từng phụ đo nên biết rõ, xong chàng không làm người kia mất mặt trước đám đông.
Chàng kéo ông ta sang một bên, cùng đo lại rồi thống nhất bù vào chuyến sau.
Hứa Kính Dương từ đó hiểu, Cảnh Nghi không chỉ thật thà, mà còn biết giữ tình nghĩa.
Vài tháng sau, khi biết hai vợ chồng đang tính rời quê, hứa Kính Dương mới ngỏ lời.
Ông đang thiếu người cho kho chung chuyển ở Thành Tuyên Châu.
Ông không hứa cất nhắc, chỉ nói nếu muốn thử sức, họ có thể theo đoàn hàng đầu tháng sau.
Cảnh Nghi phụ kiểm nhận và vận chuyển, còn Tú Vân làm ở kho vải, bắt đầu từ việc thấp nhất.
Cha mẹ nghe chuyện vừa bất ngờ vừa lo.
Cha cho rằng thành thị khó sống, mẹ chỉ dặn nếu không trụ được thì trở về.
Cảnh Thành không phản đối, nhưng nghĩ em mình chưa chắc quen việc buôn bán.
Riêng Ngọc Tri lặng lẽ gói vài chiếc bánh khô cho chị dâu mang đường.
Trước ngày đi, Cảnh Nghi vẫn thu nốt mẻ đậu, sửa mái kho và để lại chút tiền mua gạo cho cha mẹ.
Hai người rời trúc khê với vài bộ quần áo, một chiếc chăn mỏng và số tiền vừa đủ đi đường.
Thành Tuyên Châu đón họ bằng những dãy phố đông xe kéo và tiếng giao hàng.
Những ngày đầu, Cảnh Nghi vác bao, đối số hàng, theo xe ra bến, Tú Vân kiểm vải, ghi ký hiệu và sắp kho.
Họ làm đều đặn, sai thì sửa, không dành việc dễ, cũng không tìm cách lấy lòng chủ.
Sau hơn một tháng, hứa Kính Dương bắt đầu giao cho Cảnh Nghi đối chiếu hàng trước khi xe rời bến, còn Tú Vân được kiểm riêng những lô vải dễ nhầm.
Chính từ đó, Đỗ Quảng Sinh, quản sự đã làm ở cửa hiệu hơn 10 năm, bắt đầu để mắt đến đôi vợ chồng mới.
Ông ta chưa làm gì, chỉ nhận ra sự tin cậy của chủ đang dần dành thêm cho hai người vốn chẳng ai biết tên.
Cuộc sống của Cảnh Nghi và Tú Vân vừa hé ra một lối sáng.
Nhưng cùng lúc, sự tin tưởng họ có được cũng bắt đầu chạm tới phần quyền lợi mà một người khác đã quen nắm giữ.
Mùa đông đầu tiên ở Tuyên Châu, Cảnh Nghi vẫn theo xe hàng ra bến, từ lúc trời còn mờ sương, còn Tú Vân thường là người khóa kho sau cùng.
Sang mùa xuân năm kế tiếp, Cảnh Nghi đã không còn chỉ khuân hàng mà được giao đối chiếu số kiện trước mỗi chuyến đi.
Tú Vân cũng từ việc xếp vải chuyển sang phụ trách một dãy kho nhỏ, nơi chứa những loại vải có giá khác nhau, nhưng hình thức rất dễ nhầm.
Hai người tiến lên không nhanh, nhưng chắc.
Cảnh Nghi có trí nhớ tốt về đường xá và giá hàng.
Sau vài chuyến theo đoàn, chàng nhớ được bến nào thường chậm nước, đoạn đường nào dễ tắt khi mưa và nhà thuyền nào dữ dở.
Mỗi chuyến hàng, chàng đều ghi ngày xuất kho, số kiện và giờ giao vào một cuốn sổ nhỏ để tiện đối chiếu nếu xảy ra sai lệch.
Tú Vân lại cẩn thận theo cách khác.
Nàng Quy ước với người trong kho rằng hàng đã kiểm đủ sẽ được chấm một nét mực nhỏ phía dưới ký hiệu lô hàng, còn kiện phải mở kiểm lần nữa thì để trống.
Cách làm đơn giản ấy giúp giảm nhiều lần giao nhầm.
Hứa Kính Dương thấy hiệu quả nên giữ lại cả hai thói quen, nhưng Cảnh Nghi và Tú Vân chưa từng nhận đó là công riêng của mình.
Khi chủ cử hiệu khen kho ít sai hơn trước, Tú Vân chỉ nói rằng những người bốc xếp đã chịu khó làm theo quy củ.
Chính cách ấy khiến những người làm thuê dễ gần họ hơn.
Có lần một thanh niên mới vào nghề làm rách dây buộc khiến hai cuộn vải rơi xuống nền bận.
Đỗ Quảng Sinh định trừ cả tháng tiền công. Tú Vân không xin xóa lỗi, chỉ đề nghị tính đúng phần hàng bị hỏng rồi cho người kia bồi dần trong vài tháng.
Nàng còn chỉ lại cách buộc kiện để việc ấy không lặp lại.
Đến cuối năm thứ hai, hứa Kính Dương tăng tiền công cho hai vợ chồng và cho họ thuê một căn nhà nhỏ trong con ngõ phía sau phố vải.
Lần đầu tiên kể từ khi rời quê, Tú Vân có thể mua một chiếc tủ gỗ mới mà không phải đắn đo từng đồng.
Nhưng phần tiền dư đầu tiên, nàng và chồng vẫn gửi về trúc khề.
Cha Cảnh Nghi đau khớp chân vào mùa Z, hai người gửi tiền mua thuốc.
Cảnh Thành về sau làm ăn thất bát một vụ dâu, viết thư hỏi vầy.
Cảnh Nghi muốn gửi ngay một khoản lớn nhưng Tú Vân không tán thành.
Nàng nhắc chồng rằng giúp một lần qua khó khắc với để người thân quen dựa mãi.
Cuối cùng họ gửi một phần tiền đủ trả món nợ cấp bách.
Đồng thời nhờ một người quen thu mua dầu trẩu tại quê nhận Cảnh Thành phụ trách gom hàng trong mấy thôn quanh trúc khề.
Việc không sang trọng nhưng nếu chịu làm sẽ có thu nhập đều.
Ngọc Chi khi chuẩn bị xuất giá cũng được anh chị gửi cho một ít vải tốt làm áo cưới.
Tú Vân không quên những năm mình từng tuổi thân nhưng nàng cũng không vì thế mà cố chứng minh mình rộng lượng.
Việc nào nên giúp thì giúp, việc nào người nhà có thể tự làm thì để họ tự làm.
Đến năm thứ ba, hứa Kính Dương giao Cảnh Nghi quản một tuyến hàng từ Tuyên Châu xuống bến Thạch Môn.
Tú Vân phụ trách đối chiếu kho trước khi hàng xuất bến và chia công cho hơn 10 người làm.
Cùng thời điểm ấy, hứa Thiệu Văn, con trai duy nhất của hứa Kính Dương trở về sau 2 năm học việc tại cửa hiệu của một người họ hàng ở Hàng Châu.
Thiệu Văn gần 30 tuổi, lanh lợi nhưng nóng tính.
Anh muốn cha giao ngay cho mình một phần việc lớn để chứng minh bản lĩnh.
Thế nhưng hứa Kính Dương thường bắt con học lại từ những việc căn bản và đôi khi còn lấy cách làm của Cảnh Nghi ra làm ví dụ.
Thiệu Văn ban đầu không ghét hai vợ chồng.
Anh thậm chí từng đi cùng Cảnh Nghi xuống bến Thạch Môn và phải thừa nhận chàng xử lý người vận chuyển khá tốt.
Nhưng mỗi lần nghe cha nói, việc này cứ hỏi Cảnh Nghi hay sổ kho nên để Tú Vân xem lại, sự khó chịu trong anh lại tăng thêm một chút.
Đỗ Quảng Sinh nhận ra điều ấy sớm hơn bất kỳ ai.
Ông ta đã làm cho hứa ra hơn 10 năm, từng quản gần như toàn bộ kho và việc điều xe.
Từ ngày Cảnh Nghi được quản tuyến Thạch Môn, một phần quyền ấy rời khỏi tay ông.
Khi Tú Vân được phép kiểm lại những phiếu kho do quản sự lập, ông càng thấy vị trí của mình không còn chắc chắn.
Đỗ Quảng Sinh không vội đối đầu, ông ta chỉ thỉnh thoảng nói với Thiệu Văn rằng người ngoài làm thuê mà được tin quá mức thì sau này khó giữ.
Khi hàng về chậm, ông ta nhắc rằng Cảnh Nghi phụ trách tuyến ấy.
Khi hứa Kinh Dương khen kho tháng đó ít sai, ông lại cười bảo Tú Vân quả thật, rất biết cách khiến chủ nhân yên tâm.
Những lời ấy thoạt nghe chẳng có gì nghiêm trọng, nhưng lâu ngày khiến Thiệu Văn bắt đầu nhìn mọi việc bằng một con mắt khác.
Đầu năm thứ tư, hứa Kinh Dương nhận được một thương vụ lớn, chuyển một lô tơ sống và vải tốt xuống Thạch Môn, từ đó theo thuyền sang phía đông.
Giá trị chuyến hàng cao hơn hẳn những lần trước nên ông giao Cảnh Nghi điều phối vận chuyển, Tú Vân kiểm kho trước khi xuất còn Đỗ Quảng Sinh phụ trách tiền ứng và sổ tổng.
Theo lệ mới, mỗi lô hàng được đóng dấu son của hứa gia ở mép phải.
Riêng những kiện Tú Vân đã mở kiểm sẽ có thêm nét mực nhỏ ngay dưới ký hiệu kho.
Cảnh Nghi vẫn ghi giờ hàng rời kho và giờ chủ thuyền nhận vào cuốn sổ của mình.
Chủ thuyền họ tào ở bến Thạch Môn vốn làm với hứa gia đã lâu nên cũng giữ một bản kê riêng theo số kiện nhận được.
Mọi thứ diễn ra như hàng chục chuyến trước, chỉ có một việc nhỏ khiến Tú Vân chú ý.
Chiều trước ngày xuất hàng, nàng phát hiện ba kiện tơ đã được đóng dấu son nhưng dấu nằm lệch sang mép trái.
Đỗ Quảng Sinh giải thích rằng người đóng dấu mới làm nhầm, hàng bên trong vẫn đủ.
Tú Vân mở kiểm lại, thấy số lượng không sai nên ghi chú vào sổ kho rồi cho xuất cùng lô.
Nàng không biết rằng chính chi tiết tưởng như vụn vật ấy về sau sẽ trở thành một mắt xích quan trọng.
Chuyến hàng rời Tuyên Châu đúng giờ.
Nhưng ba ngày sau, một người từ Thạch Môn hớt hải trở về báo rằng số tiền thu trước của thương vụ không khớp với sổ,
trong khi một phần hàng đáng lẽ còn nằm tại bến lại đã được chuyển đi từ đêm trước.
Trên bàn của hứa Kinh Dương lúc ấy có một tờ lệnh mang đúng ký hiệu của tuyến do cảnh nghi phụ trách.
Và bên dưới là dấu kiểm kho giống hệt cách Tú Vân vẫn dùng suốt mấy năm qua.
Ba ngày sau khi tin dữ từ Thạch Môn truyền về, trên bàn hứa Kinh Dương đã có sổ tổng.
Tờ lệnh chuyển 12 kiện hàng giữa đêm và khoảng 40 lượng bạc, được ghi là tiền ứng dưới tên Cảnh Nghi.
Tờ lệnh còn mang đúng ký hiệu tuyến của chàng cùng dấu kiểm giống cách Tú Vân vẫn dùng.
Hứa Kinh Dương thu quyền quản tuyến vào kho của hai người để chờ đối chiếu.
Vài khách quen hoãn đơn, người làm cũng bắt đầu dè giặt.
Cảnh Nghi tức giận, muốn chỉ thẳng vào đỗ Quảng Sinh vì sổ tiền vốn do ông ta quản.
Tú Vân ngăn lại.
Nàng cho rằng nghi ngờ không thể thay cho chứng cứ.
Vì tự cứu mình mà vu ngược người khác thì họ cũng tự làm hỏng điều đã giữ suốt mấy năm.
Hai vợ chồng bắt đầu từ những thứ vẫn làm hàng ngày.
Cuốn sổ nhỏ của Cảnh Nghi ghi lô hàng rời tuyên trâu đầu giờ thìn.
Tới Thạch Môn cuối giờ rậu, đủ 80 kiện.
Chủ thuyền họ tạo mang bản kê riêng tới đối chiếu.
Số kiện và thời điểm nhận trùng khớp.
Những người từng phụ giao chuyên ấy cũng xác nhận khi rời bến, hàng vẫn đủ.
Như vậy, 12 kiện chỉ bị chuyển đi sau khi đã tới Thạch Môn.
Tờ lệnh lại ghi việc chuyển hàng được quyết định tại bến vào cành 2.
Tú Vân nhận ra trong danh sách có 3 kiện hôm trước nàng đã ghi chú vì dấu son đóng lệch sang mép trái.
Thế nhưng, tờ lệnh mô tả cả 3 đều mang dấu đúng mép, phải như thường lệ.
Nếu người lập lệnh thật sự nhìn thấy hàng tại bến, khó có thể bỏ qua sự khác biệt ấy.
Tờ lệnh nhiều khả năng đã được viết từ bản kê cũ, trước khi Tú Vân kiểm kho lần cuối.
Hứa Kính Dương tiếp tục đối chiếu số tiền.
Khoảng 40 lượng được ghi là ứng cho cành nghi vào chiều trước ngày xuất hàng.
Nhưng bản nhận chỉ có ký hiệu tuyến, không có tên người nhận như những lần trước.
Ghép các chi tiết lại, hướng nghi ngờ dân đổi khác.
Hàng tới bến Nguyên Vẹn, lệnh chuyển dựa trên bản kê chưa cập nhật.
Còn tiền được rút bằng ký hiệu tuyến, thay vì chữ nhận quen thuộc của cành nghi.
Đỗ Quảng Sinh phụ trách sổ tổng, nên có bản kê cũ.
Nhưng ký hiệu dùng để lập lệnh được cất trong tủ phòng chủ, nơi hứa Kính Dương và Thiệu Vân thường ra vào.
Trước những đối chiếu ấy, Thiệu Vân thừa nhận từng lấy ký hiệu giao cho Đỗ Quảng Sinh.
Ban đầu, anh tin lời quản sự rằng nên bí mật chuyển một phần hàng sang mối khác để kiếm thêm lợi nhuận.
Vừa chứng minh với cha rằng mình có năng lực.
Đỗ Quảng Sinh còn nói nếu có trục trặc, sổ sách sẽ khiến cành nghi chịu trách nhiệm trước rồi, họ có thể bù hàng trở lại.
Thiệu Vân vì tự ái đã đồng ý.
Đến khi biết Đỗ Quảng Sinh biến khoản tiền ứng thành khoản đứng tên tuyến của cành nghi và cố ý để chứng cứ hướng về hai vợ chồng, anh sợ cha biết nên im lặng.
Đỗ Quảng Sinh không còn đường chối.
Ông ta vừa muốn kiếm lợi riêng, vừa muốn loại người đang thu hẹp quyền của mình.
Hứa Kính Dương buộc ông bồi hoàn phần thất thoát rồi cho rời khỏi hứa gia.
Với con trai, ông thu hết quyền điều hành, bắt Thiệu Vân trở lại làm từ những việc cơ bản.
Với cành nghi và Tú Vân, hứa Kính Dương đặt lại chìa khóa kho và sổ tuyến trước mặt họ, thừa nhận mình đã có lúc giao động.
Cành nghi không trách móc.
Tràng hiểu danh dự của hai người được giữ lại không bởi một người đứng ra cứu,
mà bởi những sổ sách, những người từng cùng họ làm việc và sự tin cậy đã được tích góp qua nhiều năm.
Ít tháng sau, hứa Kính Dương giao cho họ vượt lại một cửa hiệu nhỏ ở phía Đông Thành.
Ông cấp hàng theo giá đối tác và chia lợi nhuận còn lời lỗ do hai người tự chịu.
Đó là một cơ hội, không phải một gia tải.
Cành nghi mở những tuyến hàng mình hiểu rõ.
Chọn nhà thuyền dữ dở và không nhận đơn vượt khả năng giao.
Tú vân quản kho chặt chẽ, trả công đúng kỳ, không ép giá những hộ diệt nhỏ đang cần tiền.
Hai năm sau, cửa hiệu có lãi ổn định.
Thêm ba năm nữa, họ góp đủ vốn mua lại phần của hứa ra, mở thêm một hiệu vải và kho hàng gần bến.
Từ người làm thuê, họ thành người quản việc, rồi đối tác, cuối cùng gây dựng lục phương hiệu.
Nhà cửa khang trang, xe hàng ra vào mỗi ngày, nhưng cách họ đối đái với người khác không đổi.
Khi cha mẹ ở trúc khê tuổi cao, hai vợ chồng sửa lại căn nhà cũ và thuê người trăm năm.
Cành thành được giao thu mua dầu trậu cho một tuyến nhỏ, làm được bao nhiêu hưởng bấy nhiêu.
Ngọc Chi gặp khó trong việc buôn vải cùng chồng.
Tú vân giúp tìm nguồn hàng và chỉ cách giữ sổ thay vì đưa bạc vô điều kiện.
Một lần mẹ Cành nghi nhìn căn nhà đã sửa, khẽ nói
Ngày trước mẹ cứ nghĩ con tự lo được, nên phần tốt thường để cho anh và em trước.
Cành nghi không nhắc lại chuyện cũ.
Trang chỉ đặt chén thuốc cạnh tay mẹ, rồi hỏi chân bà, hôm nay còn đau không?
Về sau, lục phương hiệu dành một gian nhà phía sau kho cho người từ quê lên thành học việc, có chỗ ở những tháng đầu.
Khi một đôi vợ chồng nghèo tìm đến xin làm, mang theo chẳng nhiều hơn những gì Cành nghi và Tú vân từng có khi rời trúc khê, hai người nhìn thấy bóng dáng mình năm xưa.
Họ không cho bạc rồi thôi, mà cho đôi vợ chồng ấy việc làm, dạy nghề và trả công công bằng.
Ngày trước, hứa Kính Dương từng nhìn thấy phẩm chất của hai người, rồi mở cho họ một con đường.
Nhiều năm sau, khi đã đứng vững, Cành nghi và Tú vân lại dùng chính cơ nghiệp của mình để mở con đường ấy cho những người đang khó khăn như họ thừa trước.
Ở hiền không phải là chịu thiệt cả đời, mà là dù nghèo khó hay giàu sang, vẫn không vì phần lợi của mình mà đối xử bạc với người khác.
Nhiều lành đôi khi không đến sau một việc thiện lớn, mà lớn dần từ chữ tín, tình nghĩa và cách sống được giữ qua năm tháng.
Và người đã gặp lành mà vẫn biết mở đường cho người khác, thì cái lành ấy không dừng lại ở riêng một đời mình.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe. Hãy like và chia sẻ câu chuyện này nếu bạn tin rằng lòng thiện vẫn còn trong cuộc đời.
Mời bạn đăng ký kênh Chuyện Nhân Quả để cùng gieo thêm hạt thiện lành qua những câu chuyện nhân quả mỗi ngày.
Kênh Chuyện Nhân Quả chúc bạn và gia đình thân tâm luôn an lạc, vạn sự cát tường, một đời bình an.
Vì sao có người hôm qua còn ngồi ghế trên, hôm nay đã phải đứng ngoài cửa chờ một câu trả lời?
Có người từng bị xem thường, qua năm tháng lại thành chỗ dựa của người khác?
Khi giàu nghèo, đắc thế và thất thế, liệu con người có còn nhớ cách đối xử tử tế với người khác hay không?
Mời các bạn xem hết câu chuyện sau đây để hiểu vì sao một đoạn đời thuận hay nghịch chưa bao giờ nói hết giá trị của một con người.
Vào những năm cuối chiều Bắc Tống, bên bến Tầm Châu có một phường đóng và sửa thuyền lâu đời.
Ở đó có hai người bạn thân là Lục Trường Ninh và Hứa Cảnh Sơn.
Họ cùng học nghề từ lão thợ Đồng Mậu, từng ăn chung một mâm cơm và treo thuyền hàng chục dặm chỉ để giao một chiếc bánh lái đúng hẹn.
Mười năm sau, cảnh ngộ hai người đã khác xa.
Buổi sáng ấy, Trường Ninh ngồi trước mái lều sửa thuyền ở nhánh bến phía nam.
Ba năm trước, nơi này còn có bốn người thợ làm quanh năm không hết việc.
Nhưng từ khi quan phủ nạo sâu lùng nước phía đông và dựng cầu tàu mới gần đường Vận Múi, thuyền buôn lớn dần chuyển sang đó.
Khách thưa đi, thợ lần lượt nghỉ, còn Trường Ninh phải nhận cả những việc nhỏ trước kia vẫn giao cho học việc.
Một chủ thuyền từng gọi anh là Lục Trường Quầy nay đặt chiếc mái treo xuống rồi hỏi,
Lục thợ, vá chỗ này bao nhiêu?
Bàn tay Trường Ninh khựng lại, anh không giận nhưng vẫn thấy nhói trong lòng.
Tối hôm trước, vợ anh vừa tính số gạo trong chung chỉ còn đủ hơn mười ngày.
Cũng sáng ấy, ở cầu tàu phía đông, Cảnh Sơn đang cùng mấy chủ hàng xem bản vẽ kho mới.
Sưởng của anh đã có hơn hai mươi thợ.
Nhờ chuyển bến sớm, việc làm ngày một lớn, Cảnh Sơn không quên quãng nghèo.
Chính vì từng vá áo qua mùa đông, anh càng sợ quay lại cảnh ấy.
Dần dần, mỗi quyết định đều phải chắc phần lợi, còn tình nghĩa cũng bị đem ra cân.
Chưa hôm đó, Trường Ninh sang hỏi mua chịu hai bó dây gai tầm dầu trậu để kịp sửa thuyền.
Cảnh Sơn đang tiếp thương khách từ Biện Châu.
Thấy bạn cũ đứng ngoài sân, anh vẫn bước ra nhưng không mời vào bàn như trước.
Anh nói kho đang thiếu vật liệu, rồi bảo quản sự chỉ có thể bán đúng giá, không cho chịu.
Trường Ninh im lặng một lúc rồi đáp rằng mình hiểu.
Thực ra trong kho không thiếu, nhưng Cảnh Sơn không muốn thương khách,
thấy mình dây dưa chuyện cho bạn cũ mua chịu vài quan tiền.
Anh tự nhủ làm ăn phải có phép tắc.
Lý lẽ ấy không hoàn toàn sai, chỉ là khi quay vào, anh tránh nhìn chiếc ghế trống bên cạnh,
nơi Trường Ninh từng ngồi mỗi lần hai người gặp nhau.
Chiều xuống, Trường Ninh đành dùng số tiền dành mua gạo để lấy vật liệu.
Trên đường về, anh gặp Từ Láo Tam, một người lái đò nghèo, đang xem chiếc thuyền cũ được giao bán.
Từ Láo nhờ anh kiểm tra giúp.
Trường Ninh phát hiện sống thuyền bên trong đã mục một đoạn.
Người bán kéo anh sang một bên, kín đáo đề nghị trả nửa quan nếu anh nói chiếc thuyền vẫn đáng mua.
Nửa quan đủ để anh mua lại phần gạo vừa đem đổi lấy dây gai.
Trường Ninh đứng lặng.
Nếu nhận, người chịu hậu quả là Từ Láo Tam, người đã dành gần hết tiền tích cóp để mua thuyền kiếm sống.
Cuối cùng, anh chỉ thẳng chỗ gỗ mục cho cả hai người xem.
Cuộc mua bán không thành.
Người bán tức tối, không trả đồng công nào, còn buông một câu rằng người quá thật thà thì nghèo cũng phải.
Trường Ninh không đáp.
Trên đường về, anh mua ít gạo hơn dự tính.
Sáng hôm sau, Từ Láo Tam mang một giỏ khoai khô đến cảm ơn.
Trường Ninh chỉ nhận một nửa, rồi giúp ông sửa chiếc mái trèo đã nứt.
Việc ấy chẳng làm cuộc sống anh khá lên.
Trong khi đó, Cảnh Sơn vừa ký hợp đồng sửa sáu chiếc thuyền vận muối.
Để giảm chi phí, anh quyết định thay một nửa nhóm thợ mộng lâu năm bằng thợ mới rẻ hơn,
dù quản sự đã nhắc phần đáy thuyền cần người có kinh nghiệm.
Cảnh Sơn tin quy trình của sưởng đã đủ chặt.
Cuối tháng, quan quản bến ban quy định mới.
Từ đầu mùa nước lên, mọi thuyền chở hàng nặng qua tầm trâu phải được kiểm tra lại đáy,
mộng nối và lớp chống thấm trước khi cấp thẻ qua bến.
Những sưởng có thợ lành nghề và giữ hồ sơ sửa chữa rõ ràng sẽ được ưu tiên nhận kiểm định.
Tin ấy khiến cả hai người cùng ngằng đầu.
Với Trường Ninh, đó có thể là cơ hội để tay nghề cũ có chỗ dùng lại.
Nhưng sưởng anh chỉ còn một mình.
Với Cảnh Sơn, đó tưởng như là món lợi lớn.
Nhưng đúng lúc ấy, quản sự bước vào báo hai người thợ mộng lâu năm vừa xin nghỉ vì bất mãn chuyện bị cắt việc,
trong khi sáu chiếc thuyền vận mối đã hẹn ngày giao.
Cảnh Sơn nhìn bản hợp đồng trên bàn.
Còn bên kia nhánh bến, Trường Ninh đang lau lại chiếc thức mọc cũ của sư phụ đồng mộ,
chuẩn bị mang đi đăng tên kiểm định.
Dòng nước tầm trâu vẫn chảy như mọi ngày.
Nhưng cuộc đời của hai người đã bắt đầu lặng lẽ đổi hướng.
Quy định mới của bến tầm trâu khiến những người thạo nghề đóng thuyền bỗng trở nên có giá hơn trước.
Nhưng đối với lục Trường Ninh, đó vẫn chưa phải con đường rộng mở.
Sưởng của anh chỉ còn một giang nhà gỗ nhỏ lập tranh bên nhánh bến phía nam,
không đủ người để nhận những việc lớn.
Vì thế, phường thợ chỉ giao cho anh việc đo thân thuyền, xem loại gỗ,
tính số vật liệu cần dùng rồi ghi lại để các sưởng lớn nhận việc.
Tiền công ít, lại phải đi khắp bến từ sáng đến chiều.
Có người nhận ra Trường Ninh từng là chủ một sưởng có tiếng,
nay thấy anh cầm thước đi làm việc phụ thì lấy làm tiếc.
Cũng có người hỏi thẳng vì sao anh không bỏ nghề.
Mỗi lần như vậy, Trường Ninh chỉ cười cho qua.
Điều khó chịu nhất không phải vất vả,
mà là phải chấp nhận mình đang làm những công việc ngày trước vẫn giao cho học việc.
Nhưng anh hiểu muốn đứng dậy thì trước hết phải chịu đứng ở nơi mình đang đứng.
Cùng lúc ấy, sưởng của hứa Cảnh Sơn nhận được một mối làm ăn lớn.
Một đoàn thuyền chở đồ gốm từ phương Nam chuẩn bị đi lên Biện Châu
cần thay đồng loạt mái chẻo, cột bùm và một số ván chắn hàng.
Nếu nhận chọn mối này,
sưởng của Cảnh Sơn có thể bù lại khoản tiền vừa bỏ ra xây kho mới.
Chỉ có một trở ngại.
Sau mùa mưa, gỗ sam tốt từ thượng nguồn xuống chậm,
giá tăng gần ba phần.
Người quản sự khuyên Cảnh Sơn chỉ nhận một nửa số việc,
chở gỗ xuống thêm rồi tính tiếp.
Cảnh Sơn không muốn bỏ.
Anh nhớ rất rõ những năm còn nghèo,
chỉ vì thiếu một mối hàng mà cả tháng phải vay tiền mua gạo.
Bây giờ, cơ nghiệp đã lớn,
anh càng không thể chịu cảnh nhìn một món lợi rơi vào tay sưởng khác.
Vì vậy, Cảnh Sơn vét gần hết số gỗ tốt trong kho,
còn phần thiếu thì mua loại gỗ thường hơn để dùng vào những chỗ ít chịu lực.
Không ai có thể nói quyết định ấy là gian dối.
Nhưng từ khi bắt đầu,
coi việc giữ quy mô sưởng quan trọng hơn mọi thứ khác,
Cảnh Sơn dần quen với việc chọn phương án có lợi trước mắt.
Trong khi đó, Trường Ninh được Phường Thợ giao đo lại
ba chiếc thuyền của một chủ hàng họ La.
Sau khi xem xong,
anh tính lượng vật liệu vừa đủ rồi giao bản kê cho Phường.
Chủ hàng La nhìn bản tính hồi lâu,
sau đó tìm riêng Trường Ninh.
Ông biết sưởng phía nam của anh đáng ít việc,
nên đề nghị bỏ qua Phường Thợ,
trực tiếp giao toàn bộ việc sửa ba chiếc thuyền cho anh.
Chỉ cần Trường Ninh sửa lại bản kê,
ghi rằng ba chiếc thuyền không thích hợp chia cho nhiều sưởng,
mối làm ăn sẽ lập tức thuộc về anh.
Đó là cơ hội rất lớn.
Nếu nhận, Trường Ninh có thể gọi lại hai thợ cũ,
mua thêm dụng cụ và không phải sống dè sẻn từng ngày nữa.
Anh mang chuyện về nói với vợ.
Người vợ nghe xong im lặng rất lâu.
Nàng không khuyên anh từ chối,
cũng không thúc anh nhận.
Chỉ đến khi nhìn trung gạo gần cạn,
nàng mới khẽ nói rằng,
nếu việc ấy không hại ai, anh hãy tự quyết định.
Chính câu nói ấy khiến Trường Ninh suy nghĩ cả đêm.
Sáng hôm sau, anh đến gặp chủ hàng là,
nhận sửa một chiếc theo phần việc Phường Thợ đã chia cho mình,
còn hai chiếc kia vẫn để các sưởng đã được định phần nhận lấy.
Anh không muốn lấy một mối hàng
bằng cách khiến những người khác mất phần
chỉ vì họ không có mặt để biết chuyện.
Cơ hội lớn, vì thế nhỏ đi hơn nữa.
Nhưng chính chiếc thuyền ấy lại khiến một việc khác xảy ra.
Trường Ninh gọi về một người thợ cũ tên Lưu Bách,
trước kia từng rơi xưởng khi việc ngày càng ít.
Lưu Bách đang túng thiếu, vừa tới đã xin ứng trước tiền công.
Nếu là mấy năm trước, Trường Ninh có lẽ chẳng cần nghĩ.
Nhưng lúc này tiền trong nhà anh cũng chẳng dư.
Cuối cùng, anh vẫn đưa trước một phần,
nhưng nói rõ chỉ đủ giúp qua mấy ngày.
Phần còn lại phải chờ giao việc.
Lưu Bách không nói nhiều, chỉ cuối đầu nhận tiền.
Hai người cùng làm từ sáng đến tối.
Có thêm một đôi tay quen nghề,
gian nhà tranh vốn vắng tiếng búa
bắt đầu có âm thanh đều đặn trở lại.
Ở phía đông bến, xưởng cảnh sơn cũng ngày một đông việc,
nhưng lòng người lại bắt đầu rời rạc.
Để bù khoản gỗ tăng giá,
cảnh sơn giảm phần thường cuối mùa của thợ
và giữ lại tiền công của những người nghỉ ngang
lấy lý do họ làm ảnh hưởng tiến độ.
Về lý, ông không hoàn toàn vô căn cứ,
nhưng nhiều người từng theo ông từ thủa xưởng còn nhỏ
bắt đầu cảm thấy mình chỉ còn được xem như một đôi tay thuê mướn.
Một người thợ lâu năm tên Chu Thạch xin nghỉ
để về quê chăm cha giả.
Cảnh sơn không giữ, còn khấu mất nửa tháng công
vì cho rằng Chu Thạch bỏ đi đúng lúc bận nhất.
Người quản sự nhắc rằng Chu Thạch đã theo xưởng 8 năm.
Cảnh sơn chỉ đáp,
xưởng lớn rồi, không thể vì một người mà bỏ phép tắc.
Câu nói ấy chính là điều anh từng tự nhủ
khi không cho Trường Ninh mua chịu 2 bó dây gai.
Chẳng bao lâu sau, 3 người thợ khác cũng rời đi.
Không ai gây chuyện, họ chỉ tìm sang những xưởng nhỏ hơn,
tiền công ít hơn đôi chút,
nhưng chủ xưởng biết hoàn cảnh của họ.
Cảnh sơn lúc ấy mới bắt đầu thấy thiếu người,
không phải chuyện cứ bỏ thêm tiền là giải quyết được.
Bên phía Trường Ninh,
chiếc thuyền của chủ hàng La hoàn thành đúng hẹn.
Lưu Bách lại giới thiệu thêm một người thợ cũ tới làm.
Chủ hàng La giữ lời,
lần sau có thuyền cần sửa vẫn tìm Trường Ninh trước.
Danh tiếng của anh vì thế trở lại từng chút một.
Điều khiến Trường Ninh suy nghĩ nhiều nhất
lại xảy ra vào một buổi trưa.
Một người từng lạnh nhạt với anh
mấy tháng trước mang rượu đến tận nhà,
cười nói thân thiết rồi nhờ dành chỗ sửa thuyền trước.
Trường Ninh vẫn tiếp đãi tử tế,
nhưng không nhận rượu và cũng không cho chen hàng.
Khi người ấy đi rồi,
anh nhìn theo rất lâu.
Anh chợt hiểu,
có khi người đời thay đổi cách nhìn
không phải vì con người mình đã khác,
mà chỉ vì họ nghe thấy tiếng búa trong nhà mình vang lên trở lại.
Ý nghĩ ấy khiến anh buồn hơn là đắc ý.
Cuối tháng, đoàn thuyền đồ gốm bất ngờ đổi lịch,
yêu cầu những chiếc đang sửa phải hoàn thành sớm hơn 6 ngày
để kịp nhập đoàn đi Biện Châu trước khi nước lớn.
Cảnh Sơn đứng trước một lựa chọn khó.
Nếu cố giữ toàn bộ số việc,
ông sẽ cần thêm ít nhất 4 người thợ có kinh nghiệm.
Nhưng quanh bến, số thợ lành nghề chưa có việc lúc này,
chỉ còn rất ít.
Người quản sự đưa cho ông một danh sách.
Đứng đầu là Lục Trường Ninh
cùng 2 người thợ vừa trở lại làm ở xưởng phía nam.
Cảnh Sơn cầm tờ giấy rất lâu.
Muốn giữ mỗi hàng lớn,
lần này ông không thể chỉ bỏ tiền là đủ.
Ông cần 9 người bạn
mà mấy tháng trước mình đã để đứng ngoài cửa.
Còn Trường Ninh,
khi nghe tin xưởng phía đông muốn thuê người hỗ trợ,
cũng hiểu rằng cuộc gặp sắp tới
sẽ không đơn giản là chuyện tiền công.
Hai người từng cùng cầm búa
dưới một mái nhà của sư phụ Đồng Mậu.
Nay một người vừa bắt đầu đứng vững trở lại,
còn một người lần đầu cảm thấy cơ nghiệp của mình
không còn chắc chắn như vẫn tưởng.
Và lần này, quyền nói giúp hay không giúp
đã đổi sang tay Trường Ninh.
Sáng hôm sau, hứa Cảnh Sơn tự mình
sang nhánh bến phía nam.
Khi ông đến nơi, Trường Ninh đang cùng Lưu Bách
chỉnh lại một thanh xà trên chiếc thuyền
vừa kéo lên bờ.
Gián nhà tranh không còn quảnh quẽ như trước.
Ngoài sân chất mấy bó dây gai mới,
bên mái hiên có thêm hai bộ dụng cụ
của thợ vừa quay lại làm.
Cảnh Sơn đứng ngoài một lát rồi mới gọi.
Trường Ninh ngẩn lên.
Trong khoảnh khắc ấy,
anh nhớ rất rõ buổi trưa mấy tháng trước,
chính mình cũng từng đứng ngoài sân sưởng phía đông
để hỏi mua chịu hai bó dây gai.
Khi ấy Cảnh Sơn đang tiếp khách,
chỉ bước ra nói vài câu rồi để anh quay về.
Ký ức ấy không đến cùng sự hạ hê.
Nó chỉ khiến Trường Ninh hiểu rằng
con người đôi lúc phải đứng vào chỗ của người khác
rồi mới biết một câu lạnh nhạt
có thể nặng đến đâu.
Anh đặt chiếc bào xuống.
Mời Cảnh Sơn vào trong.
Cảnh Sơn không vòng vò.
Đoàn thuyền đồ gốm đòi giao sớm,
sưởng lại thiếu thợ.
Nếu chậm quá kỳ hẹn,
ông phải chịu mất một phần tiền công.
Còn mối làm ăn với thương đội phương Nam
có thể cũng chẳng giữ được.
Ông muốn thuê Trường Ninh cùng hai thợ
sang giúp sáu ngày.
Nói đến đây, Cảnh Sơn dừng lại rồi mới nói tiếp.
Tiền công do anh định.
Nếu Trường Ninh muốn,
đây chính là lúc anh có thể đưa ra
một cái giá thật cao.
Cảnh Sơn không còn nhiều đường lựa chọn.
Lưu Bách đứng gần đó cũng hiểu điều ấy.
Nhưng Trường Ninh chỉ hỏi rõ
còn bao nhiêu việc,
số gỗ đã chuẩn bị tới đâu
và những thợ cũ của sưởng vì sao lại nghỉ.
Đến khi nghe chuyện Chu Thạch
bị giữ mất nửa tháng tiền công,
nét mặt anh thay đổi.
Trường Ninh đồng ý sang giúp,
nhưng chỉ nhận mức công bằng
những người thợ lành nghề khác.
Anh nói rõ ràng, mình có thể giúp Cảnh Sơn
giữ phần việc còn kịp giữ,
chứ không thể giúp bằng cách ép người làm
ngày đêm hay dùng vật liệu không thích hợp
chỉ để chạy theo ngày giao.
Cảnh Sơn nghe xong sắc mặt hơi cứng lại.
Ngày trước,
nếu có người nói với ông như vậy
ngay trong chuyện sưởng mình,
có lẽ ông đã cho rằng người ấy lên mặt.
Nhưng lần này, ông chỉ im lặng.
Một lúc sau,
ông gật đầu.
Chiều hôm ấy, Trường Ninh cùng Lưu Bách
sang sưởng phía đông.
Việc đầu tiên họ làm không phải lao vào đóng nốt
những phần còn giang rở,
mà xem lại từng chiếc thuyền để chia ra
chiếc nào có thể hoàn thành đúng hạn,
chiếc nào nên xin lùi ngày.
Kết quả khiến Cảnh Sơn phải chấp nhận
một điều khó chịu.
Với số người hiện có,
ông không thể giao đủ như lời đã hứa.
Cuối cùng, ông Đích Thân đến gặp chủ đoàn thuyền
xin giao trước phần đã làm chắc chắn,
còn hai chiếc xin chậm thêm ba ngày.
Theo giao ước,
Cảnh Sơn phải bớt một phần tiền công vì trễ hẹn.
Ông chấp nhận.
Khoản ấy không nhỏ,
nhưng vẫn còn hơn việc cố giữ thể diện
rồi khiến cả mối làm ăn đổ vỡ.
Những ngày sau,
Cảnh Sơn lần đầu làm việc Cảnh Trường Ninh
như thừa cả hai còn học nghề.
Không còn ai ngồi ghế trên,
ai đứng chờ ngoài cửa.
Buổi trưa, thợ nghỉ ngay trong xưởng.
Cảnh Sơn vốn thường ăn riêng cùng quản sự.
Hôm ấy lại mang bát cơm xuống ngồi chung với mọi người.
Ông ít nói hơn trước.
Đến ngày thứ tư,
chú Thạch trở lại lấy bộ đục bỏ quên.
Vừa thấy Cảnh Sơn,
ông ta có ý tránh mặt.
Cảnh Sơn gọi lại.
Trước mặt mấy người thợ,
ông lấy từ trong áo ra số tiền công còn thiếu,
đặt vào tay chú Thạch.
Ông không nói dài dòng,
chỉ thừa nhận mình đã giữ khoản ấy quá tay.
Chú Thạch xin nghỉ về quê là việc có lý,
không nên vì lúc xưởng thiếu người
mà bắt ông ta chịu hết phần khó.
Chú Thạch nhận tiền,
không lập tức quay lại làm.
Cảnh Sơn cũng không giữ.
Việc đáng trả thì trả,
còn tình nghĩa đã sứt mẻ,
không thể chỉ bằng vài đồng tiền
là nguyên vẹn như cũ.
Đó cũng là cái giá ông phải chịu.
Đến ngày giao thuyền,
4 chiếc hoàn thành đúng hạn,
2 chiếc còn lại chậm 3 ngày như đã báo trước.
Cảnh Sơn mất một phần tiền công,
lại phải để một mối sửa chữa khác
sang cho xưởng bên cạnh,
vì không đủ người.
Cơ nghiệp của ông không sụp đổ.
Nhưng kho mới không còn khiến người ta trầm trồ như trước.
Còn Cảnh Sơn cũng không dám nhận mọi việc,
chỉ vì sợ người khác giành mất.
Ngược lại, Trường Ninh sau lần ấy
được nhiều chủ thuyền biết đến hơn.
Người ta tìm anh không phải
vì anh từng giúp Cảnh Sơn,
mà vì thấy anh làm việc chắc tay,
biết lượng sức mình
và không nhân lúc người khác gặp khó để nâng giá.
Qua mùa nước lớn,
gian nhà tranh phía nam
được sửa lại thành một xưởng nhỏ.
Trường Ninh có 4 người thợ thường xuyên,
cuộc sống trong nhà cũng bớt chật vật.
Anh không trở thành đại phú.
Nhưng lần đầu sau nhiều năm,
mỗi sáng mở cửa xưởng,
anh không còn tự hỏi liệu tháng tới
mình có phải bỏ nghề hay không.
Một chiều cuối thu, Cảnh Sơn
đang ở kho thì có một người thợ trẻ
từ bến trên tới xin việc.
Người ấy vừa mất chỗ làm, áo quần cũ,
trong tay chỉ mang một bộ đục, đá mòn.
Quản sự nhìn qua rồi định
bảo quay lại khi xưởng có việc.
Cảnh Sơn gọi người thợ trẻ vào.
Ông hỏi tay nghề, xem bộ dụng cụ
rồi bảo trước mắt có thể làm thử vài ngày.
Khi người ấy rụt ra hỏi,
có thể ứng trước một ít tiền ăn hay không?
Cảnh Sơn im lặng dây lát.
Có lẽ ông đã nhớ đến một người
từng đứng ngoài sân, mình hỏi
mua chịu hai bó dây gai.
Ông bảo quản sự đưa một khoản vừa đủ
rồi dặn ghi rõ để sau này trừ dần
vào tiền công, không cần ép người ta trả ngay.
Trường Ninh biết chuyện ấy
qua Lưu Bách, nhưng anh không nói gì.
Ít lâu sau,
hai người tình cờ gặp nhau ở Bến Cú,
nơi năm xưa, từng theo
sư phụ đồng mậu học nghệ.
Một chiếc thuyền hàng vừa qua
đoạn nước quanh trước mặt rồi
chậm dãi tiến vào khúc sông phẳng hơn.
Cảnh Sơn nhìn theo, khẽ nói
có những chỗ chỉ khi
tự mình đi qua mới biết người trước đó
đã khó thế nào.
Trường Ninh chỉ gật đầu.
Hai người không trở lại thân thiết như
thời còn trẻ, nhưng từ ấy gặp nhau
có thể ngồi chung một bàn.
Nói với nhau bằng sự tôn trọng mà
không cần biết sưởng của ai lớn hơn.
Sông có khúc, người có lúc.
Ở lúc thuận,
đừng vì người khác đang thấp hơn mình
mà quên mất tình nghĩa.
Ở lúc khó, cũng đừng vì một đoạn đời
chật vật mà đánh mất phẩm giá.
Bởi hoàn cảnh rồi sẽ đổi thay,
còn cách mình từng đối xử với người khác
mới là điều ở lại lâu nhất.
Cảm ơn bạn đã lắng nghe.
Hãy like và chia sẻ câu chuyện này
nếu bạn tin rằng lòng thiện vẫn luôn hiện hữu
trong cuộc đời.
Mời bạn đăng ký kênh Chuyện Nhân Quả
để cùng gieo thêm những hạt mầm thiện lành
qua những câu chuyện nhân quả mỗi ngày.
Người đời vẫn bảo
muốn phát tài thì phải biết nhìn ra cơ hội
trước người khác và không để
món lợi lớn rơi khỏi tay mình.
Nhưng nếu một mảnh đất có thể
làm nên cơ nghiệp lại đang là chỗ dựa
cuối cùng của mấy chục gia đình
thì lấy được nó là nắm thời cơ
hay chỉ là đổi sinh kế của người khác
thành bạc trong túi.
Mời các bạn xem hết câu chuyện tiếp theo,
bạn sẽ hiểu vì sao có những lúc
tích đức không phải đem tiền cho người khác
mà là giữ lại cho họ một con đường
để rồi chính con đường ấy
về sau lại có thể sinh ra tài lộc.
Cuối mùa hạ năm ấy
nước sông Tầm Giang đã rút khỏi
những bãi thấp phía nam huyện Vân Khê.
Trận lũ qua hơn một tháng
để lại bùn trên chân tường
và vài đoạn bờ sông bị khoét sâu.
Lục Văn Kim, 38 tuổi
đã có hai kho hàng, ba chiếc thuyền
và một đội phu chạy tuyến Vân Khê
Tô Châu.
Ông làm việc quyết đoán, sáng nào cũng có mặt
ở bến xem hàng xuống thuyền
và kiểm tra chỗ chứa.
Hôm ấy kho phía tây gần kín.
Trình Hụ, người cộng sự lâu năm
báo rằng khu đất sóng gốm bạch thủy
sau lũ đang được chuyển nhượng rất rẻ.
Đất sát sông, phía sau thông đường xe ngựa.
Nếu gom được toàn bộ
họ có thể dựng kho lớn, mở bến riêng
và rút ngắn nhiều năm mở rộng cơ nghiệp.
Văn Kim nghe xong liền chú ý.
Tuổi nhỏ cha ông
sống bằng nghề kéo bẻ thuê.
Một năm nước đổi dòng, bến cũ bị bỏ
việc làm cũng mất.
Cả nhà phải bán dần đồ đạc đổi gạo.
Từ đó Văn Kim tin rằng
nghèo khổ đáng sợ nhất
không phải thiếu một bữa cơm
mà là không còn thứ gì giúp mình bước qua ngày mai.
Vì thế, ông luôn cố nắm chắc
đất đai, kho hàng
và những cơ hội đem lại sự ổn định lâu dài.
Ba ngày sau,
Văn Kim cùng Trình Hụ đến bạch thủy.
Xóm có hơn 30 nóc nhà
dọc con đường đất nhỏ.
Vài lò nung bị nước ngấm nước thân,
củi ướt phơi kín mái hiên.
Người trong xóm vẫn súc bùn,
chống vách, nhặt dụng cụ còn dùng được.
Nhưng nhiều hộ đã
vay tiền mua đất xét và củi từ đầu năm.
Nay hàng hỏng, lò hư
gần như không còn sức gánh thêm.
Vài nhà đã tính bán đất sang huyện
khác làm thuê.
Văn Kim đi dọc xóm, đo khoảng cách
ra bờ sông rồi tính. Phá mấy lò
phía ngoài, san nền, mở lối thẳng
xuống bến, kho mới sẽ nối liền
đường bộ với đường sông.
Ông không thấy mình đang
làm điều ác. Theo ông, một nghề
không còn đủ sức nuôi người thì
sớm muộn cũng phải nhường chỗ cho việc khác.
Người trong xóm bán đất
còn có tiền rời đi, giữ lại
những lò cũ vì tiếc nghề xưa chưa
chắc đã cứu được họ.
Trên đường quay ra, Văn Kim
nghe tiếng trẻ con phía sau một căn lò thấp.
Dưới mái tre,
một ông lão tóc bạc đang sửa
chiếc bàn xoay cũ. Quanh ông là
mấy đứa trẻ. Trước mặt có vài
nắm đất và một chiếc bát méo sạch.
Ông không cho chúng nặn ngay mà bắt bóp
đất. Nhìn thớ rồi ngâm phần đất
thô lâu hơn bình thường trước khi luyện lại.
Một đứa nhỏ than cách ấy quá
mất công. Ông lão chỉ cười
bảo rằng cách cũ tuy chậm
nhưng gặp thứ đất khó dùng mới biết
nó có ít. Sau đó, ông lấy
què than ghi mấy dòng lên tấm gỗ cạnh lò
dặn lũ trẻ nhớ cho ký.
Văn Kim dừng chân.
Ông không hiểu vì sao xóm nghề
có thể sắp tan mà người già ấy
vẫn nhẫn nải truyền một cách luyện đất
ít người còn dùng. Nhưng Trình Hữu
đã gọi. Ông cũng không hỏi thêm.
Chiều hôm đó,
họ gặp người phụ trách việc truyền nhượng.
Vì đất thuộc nhiều hộ
khác nhau muốn gom đủ mặt bằng dựng kho,
Văn Kim phải đặt trước
một khoản lớn và chốt quyết định
trong 10 ngày. Nếu quá hạn,
người bán có quyền nhận đề nghị khác.
Hai ngày sau,
một thương nhân họ phan từ huyện bên
cũng cho người tới hỏi giá.
Trình Hữu lập tức nhắc
Văn Kim rằng, loại đất vừa sát sông
vừa thông đường xe rất khó tìm.
Chậm một bước,
cơ hội này có thể mất.
Văn Kim trở lại Bạch Thủy để xem
đoạn bờ phía ngoài. Sau
một trận mưa thượng nguồn, nước dâng nhẹ
và tiếp tục khuét vào phần đất cạnh lò trung.
Mấy người thợ đang dùng cọc tre
chèn tạm nhưng đất ướt cứ sụt xuống.
Người quản việc nói, nếu
bờ vỡ thêm, lò trung khó
giữ được tới mùa nung sau.
Văn Kim nhìn một lúc
rồi bảo người của mình mang số cọc
và bao đất còn dư ở kho sang
thuê thêm phu da cố chỗ yếu nhất.
Ông nói rõ, đây chỉ là sửa tạm
để bờ khỏi sạt thêm
trong những ngày ông còn cân nhắc,
không phải lời hứa rằng xóm gốm sẽ được giữ lại.
Khoản tiền ấy không lớn
nhưng là lần đầu ông bỏ tiền
vào một nơi mà theo kế hoạch ban đầu
chính ông có thể sẽ phá đi.
Khi rời xóm, Văn Kim
lại nhìn thấy chiếc bàn xoay dưới mái tre.
Chiếc bát méo hôm trước
đã được đặt lên tấm ván phơi.
Mấy đứa trẻ vẫn đang luyện đất
theo cách ông lão dạy.
Tối hôm ấy, một lá thư từ người góp
vốn lớn nhất được đưa tới.
Người này đồng ý bỏ thêm tiền
nếu Văn Kim mua trọn khu đất
và dựng kho ngay trong năm,
nhưng chỉ giữ đề nghị đến hết hạn 10 ngày.
Nếu ông trần trừ,
vốn sẽ được chuyển sang việc khác.
Trên bàn là bản vẽ kho mới
cùng những con số lợi nhuận rất khó từ chối.
Ngoài kia là một xóm gốm yếu
đến mức thêm một mùa xấu nữa
có thể tan đi.
Văn Kim biết nếu ký,
ông có thể rút ngắn nhiều năm gây dựng cơ nghiệp.
Nhưng lần đầu tiên ông nhận ra
những nét mực trên bản vẽ ấy
không chỉ phủ lên vài căn nhà cũ.
Nếu xóm nghề tan,
những người biết nghề sẽ tản đi.
Còn lũ trẻ quanh chiếc bàn xoay kia
có lẽ cũng chẳng còn ai dạy chúng nhận đất.
Giữ lửa và nhớ
những cách làm của người trước.
Và lần đầu tiên trong nhiều năm,
Lục Văn Kim nhìn thấy
một cơ hội rất lớn trước mắt
mà lại không thể chỉ dùng bản tính để quyết định.
Sáng ngày thứ sáu,
kể từ khi nhận thời hạn,
Lục Văn Kim trở lại Bạch Thủy
cùng người quản tiên của mình.
Ông vốn định xem lần cuối những phần đất
cần mua rồi đưa ra quyết định.
Nhưng vừa tới đầu xóm,
Văn Kim đã thấy hai chiếc xe bò
chất đầy hòm gỗ và chăn chiếu.
Một gia đình đang chuẩn bị rời đi.
Người đàn ông trong nhà
từng làm thợ sửa lò,
nhưng sau trận lũ không còn tiền mua củi.
Món nợ cũ lại tới hạn.
Ông ta định đưa vợ con
sang huyện bên làm thuê.
Ở cuối xóm,
ba người trẻ khác cũng đang bàn chuyện
theo thuyền buôn xuống phía nam kiếm việc.
Văn Kim lúc ấy mới hiểu rằng
dù mình không mua khu đất,
Bạch Thủy vẫn chưa chắc giữ được.
Lò trung hỏng, bờ sông yếu,
đất xét và củi đều thiếu.
Những người có sức lao động
nếu lần lượt bỏ đi,
số còn lại chẳng bao lâu
cũng không thể tiếp tục nung gốm.
Khi ấy, xóm nghề vẫn tan,
chỉ là chậm hơn vài tháng.
Người quản tiền tính sơ qua rồi nói
nếu muốn dựng lại phần bờ,
sửa lò trung và giúp họ khôi phục
một mùa sản xuất,
thì khoản chi sẽ không nhỏ.
Nếu còn dành đất cho các hộ
tiếp tục làm nghề,
kế hoạch kho mới gần như
phải thu hẹp quá nữa.
Văn Khiêm im lặng.
Cho người ta thêm vài ngày là một chuyện.
Bỏ một phần lớn vốn của mình
để giữ cho họ có khả năng
tiếp tục sinh sống lại là chuyện khác hẳn.
Ông đi tới căn lò cũ cuối xóm.
Ông lão tóc bạc lần trước
vẫn ngồi bên chiếc bàn xoay.
Tên ông là Từ Mộc Sinh,
đã làm gốm hơn 50 năm.
Hôm ấy ông đang dạy hai thiếu niên
lọc đất qua lớp vải thô
rồi trộn lại với loại đất
đã ngâm từ hôm trước.
Văn Khiêm nhìn một lúc mới hỏi.
Ta nghe nói mấy nhà đã muốn rời đi.
Xóm này có khi chẳng giữ nổi đến sang năm.
Ông còn bắt bọn trẻ
học những cách mất công như vậy để làm gì?
Từ Mộc Sinh không dừng tay.
Ông nhặt một cục đất còn lẫn sản,
bẻ đôi rồi đưa cho Văn Khiêm xem.
Lục ông chủ buôn hàng nhiều nơi,
hẳn biết có thứ nhìn qua
tưởng giống nhau,
dùng rồi mới biết khác.
Văn Khiêm gần đầu.
Ông lão chỉ vào chậu đất đang ngâm.
Đất cũng vậy.
Có thứ đem về là dùng được.
Có thứ phải ngâm lâu, bỏ cát, pha lại
rồi mới chịu lửa.
Cách này chậm nên lớp trẻ không thích.
Nhưng người làm nghề nếu chỉ biết một cách thuận tay
thì gặp loại đất trái tính sẽ bỏ tay.
Văn Khiêm nhìn những bàn tay trẻ
đang nhào đất rồi nói thẳng.
Nhưng nếu gốm ở đây bán không đủ nuôi người,
biết thêm một cách luyện đất
thì có ích gì.
Ta giữ vài căn lò lại
cũng chưa chắc giữ được cái nghề.
Từ mộc sinh đặt miếng đất xuống.
Ông nói không sai.
Nghề mà làm ra thứ chẳng ai cần
thì cố giữ cũng vô ích.
Nhưng Bạch Thủy chưa chết vì không còn người mua gốm.
Nó bị lũ đánh hỏng lò,
đất đường trở củi,
nợ cũ lại dồn tới một lúc.
Người còn tay nghề mà không có chỗ nung
thì khác với người không biết làm gì.
Ông lão nhìn về những mái nhà phía ngoài xóm.
Lò sập còn dựng lại được.
Nhà hỏng cũng có thể sửa.
Chỉ sợ người biết nghề tản mỗi người một nơi.
Trẻ con bỏ học nghề.
Vài năm sau muốn gom lại
cũng chẳng còn ai để gom.
Văn Khiêm hỏi
Nếu ta bỏ bạc ra sửa lò
rồi sang năm họ vẫn không sống nổi,
thì sao?
Từ mộc sinh khẽ lắc đầu.
Không ai ở đây có quyền bắt ông lấy tiền cứu chúng tôi
nếu nghề này thật sự không nuôi nổi người nữa.
Chính tôi cũng không giữ bọn trẻ lại.
Nhưng trước khi nói một cây đã chết
cũng nên xem nó chết vì hết rễ
hay chỉ vì vừa bị nước lũ quật nghiền.
Câu nói ấy
khiến Văn Khiêm nhớ tới cha mình năm xưa.
Cha ông không mất việc vì không biết kéo bẻ.
Chỉ là dòng sông đổi bến
cả một nhóm phu bè
bỗng không có nơi kiếm sống.
Khi ấy không ai cho họ đủ thời gian để xoay sở.
Mỗi người tản một nơi
nghề cũ cũng theo đó mà mất.
Văn Khiêm rời căn lò
mà vẫn chưa có quyết định.
Buổi chiều Trình Hự mang tới
một tin khác.
Thương nhân họ Phan đã nâng giá
đồng thời đề nghị mua luôn phần đất phía Hạ Lưu.
Nếu Văn Khiêm không ký trong 4 ngày tới
chủ đất sẽ chuyển sang thương lượng
với người kia.
Trình Hự đặt sổ tính trước mặt ông.
Nếu lấy đất
chúng ta có thể dựng kho theo đúng kế hoạch.
Nếu bỏ, ít nhất 3 năm nữa
mới tìm được vị trí tương tự.
Còn nếu vừa mua vừa giữ xóm nghề
vốn sẽ bị chia nhỏ.
Kho mới chỉ còn 1 phần 3.
Văn Khiêm nhìn những con số rất lâu.
Cuối cùng ông nói
ta vẫn mua những phần đất đã định mua.
Trình Hự ngằng lên
tưởng ông đã quyết.
Nhưng Văn Khiêm tiếp
chỉ là không san cả xóm.
Ông lấy bút gạch bỏ 2 dãy kho trong bản vẽ
giữ lại khu đất gần đường lớn
để làm một kho nhỏ và sân tập kết.
Phần đất giáp các lò nung được dành
cho các gia đình tiếp tục sản xuất.
Những hộ quá khó khăn được sử dụng
trong 3 năm mà không trả tiền đất.
Sau thời hạn ấy
nếu nghề vẫn không đứng lên được
2 bên sẽ tính tiếp.
Khoản vốn dành dựng kho lớn được chia 1 phần
để ra cố đoạn bờ sông, sửa lò chung
và mở lại con đường vận chuyển củi
đất xét vào xóm.
Văn Khiêm không phát tiền cho từng nhà.
Ông chỉ đặt điều kiện
xóm phải tự cử người quản lò chung
mỗi nhà góp công sửa đường
những hộ còn sức phải cùng tham gia dựng lại
cơ sở sản xuất.
Người nào đã quyết rời đi thì không ai được giữ.
Từ mộc sinh nghe tin
cũng không nói lời cảm tạ dài dòng.
Ông chỉ cùng những thợ lớn tuổi
lập danh sách dụng cụ còn dùng được
chia nhóm sửa lò và tiếp tục
gọi đám trẻ tới học nghề.
Quyết định ấy lập tức có giá.
Người góp vốn lớn nhất rút
gần một nửa số bạc đã hứa.
Kế hoạch dựng bến riêng bị hoãn.
Một lô hàng gỗ vốn định chuyển qua kho mới
phải thuê bến ngoài với giá cao hơn.
Trong khi đó, thương nhân họ Phan
nhanh chóng mua được
một khu đất phía hạ lưu
và dựng kho trước Văn Khiêm.
Vài tháng đầu, lợi nhuận của ông giảm rõ rệt.
Có đêm Văn Khiêm ngồi một mình
trong kho, nhìn sổ chi rồi tự hỏi
liệu mình đã nhầm hay không.
Bạch Thủy cũng chẳng lập tức hồi sinh.
Mẹ gốm đầu tiên sau khi sửa lò
chỉ đủ bu tiền củi và đất.
Hai gia đình vẫn rời xóm.
Một số người trẻ chọn đi nơi khác
vì không muốn trở.
Nhưng những người ở lại bắt đầu tự đứng được
trên chân mình. Lò trung cháy đều trở lại.
Con đường chợ củi không còn lầy
đến mức xe phải bỏ giữa đường.
Những đứa trẻ quanh chiếc bàn
xoay ngày nào lớn dần,
có đứa đã biết tự chọn đất, pha men,
nhìn màu lửa để đoán nhiệt trong lò.
Từ một sinh,
vẫn bắt chúng học cách ngâm
và luyện loại đất khó, dù nhiều người trẻ
cho rằng cách ấy dươm già hơn cần thiết.
Văn Khiêm đôi khi đi ngang
chỉ nhìn rồi thôi.
Ba năm trôi qua như thế,
cơ nghiệp của ông không suy sụp
nhưng cũng chưa đạt tới quy mô
mà bản vẽ kho lớn năm xưa từng hứa hẹn.
Bạch Thủy thì từ chỗ gần tan giá
đã đủ sức tự sản xuất
tuy vẫn chỉ là một xóm gốm nhỏ.
Cho đến đầu mùa xuân năm thứ ba,
những người đào đất ở thượng nguồn Tầm Giang
mở rộng một bãi lấy đất
sau nhiều mùa nước khoét vào sườn bờ.
Dưới lớp đất vàng quen thuộc,
họ gặp một tầng đất xét mịn,
màu xám xanh, khác hẳn thứ vẫn dùng trong vùng.
Tin truyền xuống Bạch Thủy.
Người trong xóm mang đất về thử.
Mẻ đầu tiên nứt gần quá nửa.
Mẻ thứ hai cong miệng.
Vài chiếc còn đổi sang màu đục khó coi.
Một số thợ kết luận
thứ đất ấy không dùng được.
Nhưng từ Mộc Sinh không bỏ.
Ông gọi những người trẻ từng học
bên chiếc bàn xoay cụ tới
bảo họ nhớ lại cách luyện đất nhiều năm trước.
Ngâm lâu hơn, lọc kỹ hơn,
pha cùng một phần đất cũ,
rồi thay đổi cách giữ nhiệt ở cuối mẻ nung.
Họ thử thêm nhiều lần.
Có mẻ vẫn hỏng.
Có mẻ chỉ giữ được vài món.
Đến lần thứ bảy,
khi cửa lò mở ra, những chiếc bình nhỏ bên trong
không còn nứt.
Men phủ trên thân hiện lên sắc xanh sám dịu,
mặt gốm chắc và mịn hơn loại thường ngày.
Từ Mộc Sinh cầm một chiếc bát lên,
gõ nhẹ vào thành.
Âm thanh trong và gọn.
Những người đứng quanh lò không ai nói gì
trong chóc lát, bởi họ đều hiểu thứ vừa thành công,
không chỉ nhờ tầng đất mới.
Nếu ba năm trước,
người biết nghề đã tản đi,
những cách luyện đất cũ bị bỏ mất,
thì dù bãi đất thượng nguồn có lộ ra từ lâu,
có lẽ cũng chẳng ai biết phải làm gì với nó.
Nhưng khi niềm vui ban đầu qua đi,
một khó khăn khác lập tức hiện ra.
Bạch Thủy có thể làm gốm.
Họ lại không có đủ thuyền, kho chứa,
tiền quay vòng hay mối buôn
để đưa số hàng lớn
vượt khỏi vài chợ quanh huyện.
Lần này,
con đường của xóm gốm một lần nữa
giao với con đường của Lục Văn Kim.
Chỉ khác rằng ba năm trước,
một bên có đất, còn một bên muốn lấy đất.
Còn bây giờ,
một bên có thứ hàng chưa nơi nào có,
trong khi người kia lại nắm đúng
những con đường có thể đưa nó đi xa.
Lục Văn Kim đến Bạch Thủy
vào một buổi sáng đầu hạ.
Trong căn lò chung,
những món gốm làm từ loại đất mới
đã xếp kín hai chiếc giá gỗ.
Có chiếc bình thành mỏng hơn trước,
vài chiếc đĩa mang sắc xanh-xám lạ mắt,
không rực rỡ,
nhưng càng nhìn càng thấy thanh nhá.
Văn Kim cầm một chiếc chén
lên xem rất lâu.
Ông không hỏi từ mộc sinh rằng
người trong xóm có muốn bán
bí quyết cho mình hay không.
Ông cũng không nghĩ tới chuyện
mua đứt các lò nùng.
Điều ông hỏi đầu tiên là
mỗi tháng các ông làm được bao nhiêu?
Câu hỏi ấy lập tức đưa câu chuyện
từ một mẻ gốm đẹp sang chuyện sống còn hơn.
Làm thế nào để biến thứ họ
vừa tạo ra thành một nghề
có thể nuôi được cả xóm?
Những người thợ tính rằng
với số lò hiện có, họ chỉ có thể
làm được vài trăm món mỗi tháng.
Nếu tăng quá nhanh,
chất lượng sẽ không đều.
Loại đất mới lại cần xử lý lâu hơn.
Chỉ cần rút ngắn một công đoạn
là khi nung rất dễ nứt.
Văn Kim nghe xong liền hiểu
đây không phải món hàng có thể chất đầy thuyền rồi đem bán ngay.
Ông đề nghị một cách hợp tác.
Xóm gốm vẫn giữ lò,
giữ người, giữ cách làm
và tự quyết việc sản xuất.
Phía Văn Kim bỏ vốn mua thêm củi,
dựng một kho khô cạnh bến,
ứng trước tiền cho những mẻ hàng đã thống nhất
và chịu việc vận chuyển, tìm nơi tiêu thụ.
Lợi nhuận
sau khi trừ chi phí được chia theo phần đã định.
Không ai phải giao nghề cho ai,
không ai trở thành
người làm thuê hoàn toàn cho bên kia.
Từ Mộc Sinh nghe xong chỉ hỏi một câu.
Nếu hàng bán chậm thì sao?
Văn Kim đáp
thì giảm mẻ, đổi loại hàng,
tìm nơi khác.
Không thể vì một chuyến không thành mà bắt các ông nung gấp
để bù cho ta.
Ông Lão nhìn Văn Kim rồi khẽ gật đầu.
Ba năm trước, thương nhân trước mặt ông
từng nhìn Bạch Thủy
như một mặt bằng để dựng kho.
Bây giờ cũng chính người ấy đang tính cách
dựng kho để phục vụ cho Bạch Thủy
mà vẫn giữ nguyên những lò nung.
Chuyến hàng đầu tiên chỉ có hơn
100 món.
Văn Kim không đưa đi quá xa.
Ông chọn một chợ lớn ở Hạ Lưu,
nơi thương nhân và những gia đình khá giả
thường mua đồ dùng trong nhà.
Một nửa là chén, bát
và bình nước quen thuộc.
Phần còn lại là những món có màu men mới.
Kết quả không như nhiều người trong xóm
mong đợi. Bình lớn bán chậm
vì giá cao.
Một số chén quá mỏng bị sứt khi đi thuyền.
Khách lại thích nhất loại bình trà nhỏ
có màu xanh xám và mấy chiếc đĩa
thành thấp.
Văn Kim mang phản hồi trở về.
Người thợ chỉnh lại dáng,
làm thành dày hơn ở những chỗ dễ va,
thử thêm cách chèn hàng trong thùng.
Thợ mộc trong huyện bắt đầu đóng
những khung tre nhỏ để giữ
từng lớp gốm khỏi sô vào nhau khi thuyền gặp sóng.
Chuyến thứ hai
ít vỡ hơn.
Chuyến thứ ba bán hết nhanh hơn.
Nhưng mãi tới cuối năm đầu tiên,
loại gốm mới mới thật sự đứng vững
ở ba chợ ven sông.
Văn Kim không vội đẩy giá cao.
Ông hiểu nếu người thợ bị buộc làm quá sức,
chất lượng sẽ hỏng trước khi danh tiếng kịp hình thành.
Vì vậy số lò được tăng từng bước.
Những thanh niên trước kia
chỉ phụ việc được đưa vào học chính thức.
Người già chuyên chọn đất,
người có kinh nghiệm giữ lửa,
người trẻ phụ trách nặn và sửa dáng.
Chiếc bàn xoay cũ của từ mộc sinh
vẫn còn dùng.
Một hôm Văn Kim đi qua,
thấy cậu bé từng nặn chiếc bát méo năm xưa nay
đã ngồi dạy một đứa nhỏ khác cách luyện đất.
Cậu bắt nó làm lại
từ đầu vì đất chưa đủ dẻo.
Văn Kim đứng nhìn một lát
rồi bật cửi.
Cái cách mà năm xưa chính ông
từng thấy mất công nay lại trở thành
một trong những điều
giữ cho mẻ gốm mới không nứt.
Sang năm thứ hai,
hàng Bạch Thủy bắt đầu theo thuyền của Văn Kim
đi xa hơn.
Đường buôn vốn có của ông trở thành lợi thế lớn.
Những kho cũ được dùng làm nơi gom hàng
trước khi chuyển đi.
Người phụ trách thuyền học cách xếp
thùng gốm riêng với các loại hàng nặng.
Một bến nhỏ được mở rộng
nhưng vẫn nằm cách khu lò một khoảng
đủ xa để không chiếm đất sản xuất.
Đến lúc ấy, Văn Kim mới hiểu
rõ một điều mà trước kia ông chưa từng
tính trong sổ sách.
Nếu ba năm trước, ông phá toàn bộ xóm gốm
rồi dựng một kho lớn,
có lẽ kho ấy vẫn sinh lợi.
Nhưng nó chỉ là một kho.
Còn thứ đang lớn lên trước mắt ông
là cả một chuỗi sinh kế.
Người đào đất ở Thượng Nguồn
có việc đều hơn.
Người chở củi không còn phải đi xa tìm nơi bán.
Thợ mộc đóng thùng, nhận thêm đơn.
Phu bến có hàng
để bốc dỡ quanh năm.
Thuyền của Văn Kim đi đủ chuyến hơn trước.
Những gia đình từng định bỏ quê
bắt đầu ở lại vì con cái đã có nghề để học.
Bạch Thủy không còn là xóm nghề
sống nhờ khoản tiền Văn Kim từng bỏ ra.
Họ tự làm ra hàng,
tự cải tiến lò, tự đào tạo
thợ mới và có tiếng nói
trong việc quyết định sản lược.
Chính điều đó khiến việc hợp tác càng bền.
Văn Kim cũng kiếm được ngày càng
nhiều tiền nhưng không phải vì
ông sở hữu toàn bộ xóm gốm.
Phần lợi của ông đến từ vốn
lưu động, kho bái, vận chuyển
và những tuyến buôn mà ông đã
gây dựng nhiều năm.
Hai bên lớn lên nhờ phần việc mình làm tốt nhất.
Đến năm thứ năm kể từ
ngày loại đất mới được phát hiện,
gốm Bạch Thủy đã có mặt ở nhiều vùng
dọc Tầm Giang.
Không phải thứ đồ quý hiếm dành riêng cho
nhà giàu nhưng nhờ bền, đẹp
và có màu men riêng, nó dần trở thành
mặt hàng người ta nhớ đến khi nhắc tới
Vân Khề. Kho nhỏ
năm xưa của Văn Kim phải mở rộng thêm
hai lần. Ông mua thêm thuyền,
thuê thêm người, lập nơi tập kết hàng
ở hai châu lân cận.
Khoản vốn từng bỏ vào bờ sông
và lò trung đã được thu lại từ lâu.
Còn phần lợi từ việc buôn gốm
vượt xa số tiền mà bản kế hoạch
dựng kho ban đầu từng dự tính.
Nhiều năm sau, Lục Văn
Kim đã trở thành một trong những thương nhân
giàu có nhất vùng. Nhưng khi
có đủ bạc để mua lại toàn bộ đất
Bạch Thủy, ông không làm như thế.
Phần đất những gia đình đã sử dụng,
ổn định, được tiếp tục giữ cho sản xuất.
Một phần lợi nhuận từ việc
buôn gốm được dành sửa bờ sông hàng
năm. Văn Kim còn
cùng những người thợ dựng một gian nhà rộng
cạnh lò trung để trẻ trong vùng học trọn
đất, tạo ráng, phối men
và giữ lửa. Ông
vẫn xây thêm kho. Chỉ
là kho nằm bên ngoài xóm nghề, không
nằm trên những lò nung.
Một chiều cuối thu,
Văn Kim đi ngang qua nơi từ mọc
sinh từng ngồi. Ông
lão đã yếu, không còn tự quay bàn xoay lâu
được nữa. Nhưng quanh chiếc bàn cũ
là một lớp trẻ khác.
Người thợ trẻ năm nào, đang
chỉ cho chúng cách bóp thử một nắm đất
rồi ngâm lại nếu thấy
thớ chưa đều. Ngoài bến,
tiếng người gọi nhọt nhau chuyển những thùng
gốm xuống thuyền vọng vào.
Văn Kim nhìn chiếc bàn xoay, rồi
nhìn những cánh buồm đang rời bến.
Năm xưa, ông từng nghĩ
giá trị lớn nhất của nơi này nằm
ở vị trí sát sông.
Sau cùng, ông mới hiểu.
Đất chỉ mở ra một cơ hội.
Chính những con người còn ở lại,
cái nghề còn được truyền, những
năm tháng không bị đứt đoạn, và
con đường buôn bán được nối vào nhau
mới biến cơ hội ấy thành tài sản thực sự.
Có những đồng tiền sinh ra
từ việc dành được nhiều hơn.
Nhưng cũng có những cơ nghiệp lớn lên
vì ta từng lựa chọn, không lấy đi
con đường sống của người khác.
Tích đức sinh tài không phải cho đi,
rồi chờ một ngày trời trả lại.
Đôi khi, điều thiện ta giữ được cho đời
chính là mạnh đất để nhiều năm sau
tài lộc có nơi mà nảy sinh.
Cám ơn bạn đã lắng nghe.
Hãy like và chia sẻ
câu chuyện này. Nếu bạn tin rằng
lòng thiện vẫn luôn hiện hữu
trong cuộc đời, mời bạn đăng ký kênh
Chuyện Nhân Quả để cùng gieo thêm
những hạt mầm thiện lành qua
những câu chuyện nhân quả mỗi ngày.
