Vì Sao Nepal Liên Tục Tới Hạn Thiên Tai? Sự Thật Về 10 Hủ Tục Rùng Rợn Nhất Himalaya!

Đông Tây Kim Cổ
3.1K người theo dõi
Hoan nghênh quý vị chia sẻ ý kiến, trải nghiệm và những khám phá của mình ở phần bình luận bên dưới để giúp chúng tôi cùng xây dựng cộng đồng yêu thích khám phá và chia sẻ kiến thức!
Chân thành cảm ơn quý vị và các bạn đã luôn đồng hành và yêu mến Đông Tây Kim Cổ! Chúc mọi điều bình an và tốt lành đến với mọi người!
#đôngtâykimcổ
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AINepal is a land of profound spiritual devotion and contradictions, where ancient traditions coexist with modern laws. The country's heritage reflects a complex struggle between cultural preservation and human rights, ranging from the veneration of living goddesses and animals to restrictive social customs and mass sacrifices that challenge contemporary ethics.
Một cô bé được hàng triệu người quý lạy như nữ thần sống.
Nhưng chỉ vì một giọt máu xuất hiện, em bé bị tức đoạt tất cả và trở thành một người phàm cô đơn đến hết đời.
Ở một góc khác, phụ nữ bình thường lại bị coi là ô ế, bị đẩy vào những chuồng gia súc hôi hám giữa đêm đông lạnh giá.
Người ta có thể quý xuống cuối đầu trước một con chó hay một con quạ.
Nhưng ngay ngày hôm sau lại sẵn sàng biến một ngôi đềm thành sông máu với hàng vạn sinh mạng bị tàn sát.
Nepal, vùng đất nằm dưới chân mái nhà thế giới Himalaya, không chỉ là thánh địa của những lời cầu nguyện,
mà còn là lơi lưu giữ những tập tục khiến thế giới hiện đại phải sững sờ.
Nhiều người tin rằng những trận thiên tai thảm khốc tàn phá vùng đất này chính là lời cảnh báo của thiên nhiên trước những điều đi quá giới hạn.
Trong 10 tập tục kỳ lạ nhất sắp được hé lộ, đâu là di sản văn hóa cần bảo tồn, và đâu là hủ tục đang đẩy con người vào bi kịch.
Hãy xem đến giây phút cuối, câu trả lời ở tập tục thứ 10 sẽ khiến bạn phải thay đổi hoàn toàn góc nhìn về sự sống và cái chết.
Hành trình giải mát bí ẩn Nepal của Đông Tây Kim Cổ sẽ bắt đầu ngay bây giờ.
Nữ thần sống Kumari, đỉnh cao tuôn thờ là sự tức đoạt tàm nhẫn.
Chúng ta bắt đầu hành trình tại những con ngõ cổ kính tại thung lũng Kamandu, nơi tồn tại một bí ẩn bậc nhất thế giới, nữ thần sống Kumari.
Kumari không phải là một pho tượng đá hay một huyền thoại trong sách cổ, em là một cô bé bằng xương bằng thịt.
Khi chưa hể thay trước răng sữa đầu tiên, cô bé thuộc dòng họ Sakya của cộng đồng Newa đã bị tách khỏi vòng tay cha mẹ để bước vào một kỳ tuyển chọn ngắt ngao.
Ông viên phải sở hữu ba hai dấu hiệu hoàn hảo của truyền thống.
Từ đôi mắt như chim bồ câu, giọng nói trong trẻo như phượng hoàng, đùi như đùi hươu, cho đến lá số tử vi hoàn toàn tương hợp với vận mệnh của nhà vua và quốc gia.
Thế nhưng thử thách khủng khiếp nhất nằm ở sự gian dạng.
Trong nghi lễ Karachi, cô bé phải ngồi một mình trong căn phòng tối ngập tràn những cái đầu trâu vừa bị hiến tế, máu chảy linh láng.
Xung quanh là những người đàn ông đeo mặt nạ quỷ dữ nhảy múa hòa reo.
Nếu cô bé khóc hay tỏ ra sự hãi dù chỉ một giây, em bé sẽ bị loại lập tức.
Chỉ có đứa trẻ giữ được sự bình thẳng tuyệt đối mới được tin là hiện thân sống của nữ thần.
Từ khoảnh khắc đó cuộc đời cô bé bị khóa chặt trong hoàng cung Kumariya.
Em được nhà vua quỷ lạy, người dân tôn thờ như một vị thần ban phước.
Đôi chân em không bao giờ được chạm xuống đất phàm tục.
Bởi thân thể thần thánh không được phương bụi bẩn.
Em không được đi học công lập, không có bạn bè đồng lứa, không được tự do chạy nhảy.
Nhưng bi kịch thực sự lại nằm ở ngày em trở lại làm người.
Khi Kumari bước vào tuổi dạy thì và xuất hiện kỳ kinh nguyệt đầu tiên,
người dân tin rằng nữ thần Palenju đã rời bỏ cơ thể em.
Chỉ trong một đêm ngắn ngủi từ vị thế của một vị thần đứng trên triệu người,
cô bé bị đẩy ngã xuống là một người phàm thô lậu.
Em phải học lại từ đầu những kỹ năng sống tối thiểu.
Đáng sợ hơn, một lời nguyền truyền kiếp lan truyền trong xã hội.
Người đàn ông nào cưới một cựu Kumari sẽ gặp tai họa và chết máu ra hỏng.
Sự e sợ này khiến nhiều cựu Kumari phải sống cô độc,
bị tách ly khỏi đời sống xã hội cho đến cuối đời.
Rốt cuộc, sự tôn thờ quần nhiệt của đám đông là một đặc ân cao quý
hay chỉ là một bản án trung thân tàn nhẫn được khoác lên tuổi thơ của một đứa trẻ vô tội.
Hủ tục Chobadi, bấy tử thần hàng tháng của phụ nữ.
Nếu Kumari được đẩy lên làm thần nhờ sự thanh khiết,
thì những phụ nữ bình thường tại miền Tây Nepal lại rơi vào bi kịch ngược lại
chỉ vì một quá trình sinh lý tự nhiên, đó là tập tục Chobadi.
Theo quan niệm Ấn Độ giáo cổ xưa,
ở các vùng xa xôi như Afghan hay Đài Lạch,
máu kinh nghiệp bị xem là sự ô ế tối thượng.
Người ta tin rằng nếu một phụ nữ đang có kinh bước vào nhà,
thần linh sẽ nổi giận làm sập nhà,
da súc sẽ quay ra chết hàng loạt,
giếng nước sẽ biến thành mù và mùa màng sẽ thất bát.
Vì vậy, cứ mỗi tháng một lần người phụ nữ lại bị đuổi ra khỏi nhà,
đẩy vào những trao gót, những túc lều tạm bợ,
hẹp hòi hoặc chuồng da súc hôi hám.
Hãy nhìn vào những con số thực tế đầy bằng hoàng từ một nghiên cứu tại huyện Afghan.
72% nữ sinh vẫn phải sống cách đi trong những căn nều mất vệ sinh,
trong đó 70% nều không có nhà vệ sinh,
38% không có chăn ấm giữa mùa đông dãy Himalaya.
Để chống lại cái lạnh thấu xương,
nhiều cô gái chọn cách đốt gỗ sủi ấm trong không gian chật hẹp, không có cửa sổ.
Và hậu quả là họ chết ngạt vì ngạt khí carbon monoxy trước khi Bình Minh kịp hé rạng.
Chưa dừng lại ở đó,
bên ngoài căn nều tối tăm ấy là nguy cơ đến từ rắn độc,
thú dữ và những kẻ biến thái lợi dụng đêm tối để thực hiện hành vi bạo lực tình dục.
Rất nhiều cô gái đã ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ,
chỉ vì bị rắn cắn mà không ai dám đến cứu giúp vì sợ bị lây ô ế.
Chính phủ Nepal đã cấm Chabadi từ năm 2005
và hình sự hóa hành vi ép buộc vào năm 2017 với án tủ tới 3 tháng.
Tuy nhiên, luật pháp có thể dùng búa đập bỏ một căn nều đá,
nhưng lại bất lực trong việc xóa bỏ nỗi sợ hủ tục
đã cắm sâu vào tâm trí người dân qua hàng chục thế hệ.
Khi danh giới giữa niềm tin và sự vô tảm bị xóa mờ,
đá giá phải trả chính là phẩm giá và mạng sống của người phụ nữ.
Lễ hội Tiha khi động vật nhận lời cuối đầu của con người.
Rời xa những góc tối tản nhẫn,
Nepal lại khiến thế giới kinh ngạc bởi một khía cạnh hoàn toàn tránh ngược.
Lễ hội Tiha nơi con người sẵn sàng quỳ vối cuối đầu trước động vật.
Tiha là phiên bản Diwali kéo dài 5 ngày của Nepal.
Nhằm tôn vinh ánh sáng, sự sống và mối liên kết tâm linh sâu sắc
giữa con người với thế giới tự nhiên.
Ngày đầu tiên, Katiha là ngày dành riêng cho loài quạ.
Trong tâm thức Ấn Độ giáo, quạ là sứ giả của Dharma, vị thần kẻ quản cách chết.
Tiếng kêu của quạ bị xem là điểm báo biến cố.
Vì thế, người dân cần trọng chuẩn bị bánh ngọt, cơm gạo đặt lên mái nhà từ sáng sớm
để xoa dịu những vị khách mang điểm xấu, cầu mong tay họa không gõ cửa gia đình.
Ngày thứ hai, Kuku Tiha đưa lòng tôn kính lên đỉnh điểm với loài chó.
Không phân biệt chó kiểng đắt tiền, chó nghiệp vụ hay những chú chó lang thang gẻ lở trên xóm chợ.
Tất cả đều trở thành nhân vật trung tâm.
Người dân đeo vào cổ chúng những vỏng hoa cúc vạn thọ vàng rực.
Chấm vệt ti ca đỏ lên chán và dâng tặng những đĩa thức ăn ngon nhất.
Chó được tôn sùng vì lòng trung thành tuyệt đối, vai trò canh giữ ngôi nhà
và niềm tin rằng chúng là linh vật dẫn đường cho linh hồn con người
băng qua dòng sông sinh tử sang thế giới bên kia.
Đến ngày ga Tiha, loài bò cái, biểu tượng của người mẹ vĩ đại,
đại diện cho sự nuôi dưỡng và thanh khiết được trang hoàng rực rỡ.
Một số người thậm chí còn thành kính uống một thiền nhỏ nước tiểu bò,
tin rằng nó có đặc tính thanh lọc tâm hồn và chữa lành bệnh tật.
Tiha phản ánh một chất lý nhân văn cao đẹp, con người không phải là chủ nhân của trái đất,
mà chỉ là một thành tố bình đẳng trong mối dây liên kết với môn loài.
Nhưng chính sự tôn trùng chân quý này lại tạo ra một xung đột nhận thức nghẹt thở ngay ở tập tục tiếp theo.
Đại lễ Gahimai, dòng sông máu và thảm sát hàng vạn sinh linh.
Làm sao một dân tộc vừa mới cúi đầu tuân kính loài vật hôm trước
lại có thể biến một khu đền thành lò sát sinh khổng lồ ngay hôm sau?
Cầu trả lời làm ở Gahimai, lễ hội hiến tế động vật lớn nhất thế giới.
Diễn ra 5 năm một lần tại Bariyabu, sắp biên giới Ấn Độ.
Gahimai được tin là vị nữ thần quyền năng có thể ban phát tài lộc và đánh đuổi tai hại.
Để đổi lấy sự ban phước đó, hàng trăm nghìn tính đồ cùng nhiệt độ về đây
mang theo trâu, nước, dê, lợn, gà và chim bổ câu.
Họ tin rằng máu chảy càng nhiều, nữ thần càng hài lòng.
Hãy nhìn vào số liệu thực tế được ghi nhận.
Tại kỳ lễ đình điểm năm 2009, ước tính có tới 500.000 con vật bị hạ sát.
Đến năm 2019, dù sự phản đối từ dư luận quốc tế gia tăng,
các nhân chứng của hãng tin Delta vẫn ghi nhận hơn 3.000 con trâu nước bị tàn sát chỉ trong ngày đầu tiên.
Chưa kể hàng chục nghìn giác cầm khát, cả một vùng đồng cỏ rộng lớn biến thành biển máu đỏ ngầu, bốc mùi tử khí nồng lặc.
Những đào phủ cầm kiếm sắc bén chém liên tục cho đến khi kiệt sức.
Dù tòa án tối cao Nepal đã ra phán quyết yêu cầu chính phủ từng bước chấm dứt việc hiến tế từ năm 2016,
nhưng miềm tin quần tín vẫn át đảo pháp luật.
Người hành hương coi đó là lời hứa thiêng liêng với thần linh.
Tuy nhiên, một câu hỏi nhói lòng đặt ra, nếu sự bình an của con người về xây dựng trên nỗi sợ hãi,
tiếng thân khóc và sự diệt vọng của vô số sinh linh khác,
thì đây thực sự là hành vi của chính giáo hay là một tội lỗi của tà giáo có thể khiến thần linh nổi giận?
Đa Phu huynh đệ chiến lược sinh tồn khắc nghiệt trên đá sỏi.
Tạm gác lại những tranh cãi ở trên, hãy đến với những vùng đất xa xôi như Humla, Lomba hay Mutang,
nơi tự nhiên khắc nghiệt đến mức buộc con người phải thay đổi cả khánh niệm về hôn nhân để tồn tại.
Đó là tập đục Đa Phu huynh đệ, một người phụ nữ kết hôn với tất cả anh em ruột trong một gia đình.
Nghe có vẻ kỳ dị và đào lộn mọi chuẩn mực đạo đức hiện đại,
nhưng nhìn từ góc độ kinh tế địa lý, đây là một chiến lược sinh tồn vô cùng khôn ngoan.
Nepal là một quốc gia địa hình đời núi chiếm phần lớn,
trong đó đất có khả năng cánh tác chiếm chưa đầy 2% tổng diện tích toàn quốc.
Tại vùng Himalaya, một mảnh ruộng nhỏ có thể là tài sản sống còn của cả một gia tộc qua hàng trăm năm.
Nếu mỗi người con trai trong gia đình đều lấy vợ riêng,
mảnh ruộng đó sẽ bị xé phụn thành từng mảnh nhỏ, không đủ trồng lốm mạch hay khoai tây.
Gia đình sẽ lập tức tan rã và rơi vào cảnh chết đói.
Bằng cách chung một người vợ, toàn bộ đất đai, gia súc và sức lao động được giữ nguyên vẹn dưới một mái nhà.
Cuộc sống được phân công nhịp nhàng.
Khi người anh cả đưa đàn giác lên núi cao chăm thả hàng tháng trời,
người em thứ hai sẽ ở lại chăm sóc ruộng đồng và quán xuyến nhà cửa.
Người vợ đóng vai trò là trung tâm điều hòa tình cảm và quản lý tài chính.
Khi những đứa trẻ ra đời, thái niệm người cha ruột trở nên không còn quan trọng.
Chúng gọi tất cả các anh em trai trong nhà bằng một tiếng cha đầy kính trọng.
Hôn nhân ở đây không bắt đầu bằng sự lãng mạn cá nhân,
mà bắt đầu bằng bài toán sinh tồn tàn khốc giữa thiên nhiên dốc đứng.
Hôn nhân họ hàng chéo quy tắc huyết thống vùng cô lập.
Bên cạnh Đa Phu, tại các cộng đồng biệt lập như Lopa ở Thượng Mưu Tăng hay Người Gu Rung,
người ta còn duy trì một cấu trúc hôn nhân kỳ lạ, hôn nhân họ hàng chéo.
Tại đây, người bạn cùng lớn lên từ tuổi nhỏ dưới danh nghĩa anh chị em họ
lại hoàn toàn có thể trở thành vợ hoặc chồng của bạn.
Tuy nhiên, quy tắc ở đây cực kỳ nghiêm ngặt, bạn chỉ được phép kết hôn với con của cậu,
anh em trai của mẹ, hoặc con của cô, chị em gái của cha.
Ngược lại, việc kết hôn với con của bác hay chú, anh em trai của cha
bị coi là tội loạn lường nghiêm trọng vì họ được tính là cùng dòng máu trực hệ.
Tại sao lại có sự phân biệt rạch rồi đến kỳ lạ này?
Giữa những thùng lũng sâu bị chia cắt bởi vực thầm và bão tuyết,
việc gạt bỏ người xa lạ để kết hôn với người trong họ hàng chéo
giúp duy trì liên minh gia tộc cụng chắc, người ta đã biết rõ nguồn gốc,
tính nết và gia phong của đối phương.
Điều này hạn chế tối đa tranh chất tài sản và đảm bảo sự tương trợ tuyệt đối
khi tiền tài hay mất mùa ập đến.
Dù ngày nay, giáo dục và làn sóng di cư đang làm suy giảm tập tục này,
nhưng nó vẫn đặt ra câu hỏi mở.
Danh giới của hôn nhân nên được định đoạt bởi tình yêu lãng mạn hiện đại
hay bởi những quy tắc huyết thống đã giúp con người trụ vững qua nhiều thế kỷ khắc nghiệt.
Lễ hội gai, gia tra, tín cười ngạo nghẽ trước nỗi đau gai chết.
Trở lại với thung lũng Kamandu, chúng ta bắt gặp một nghịch lý kỳ lạ khác.
Một lễ hội dành cho người chết nhưng lại ngập tràn tín cười và sự nắng nhiệt.
Đó là gai gia tra, lễ hội bò.
Mỗi gia đình có người thân qua đời trong năm sẽ dẫn theo một con bò
hoặc để trẻ em hóa trang thành bò diễu hành qua các con phố cổ.
Người Hindu tin rằng dòng sông Vittarani dẫn sang thế giới bên kia vô cùng dữ dội
và linh hồn người chết phải bám vào đuôi con bò thiêng mới có thể bình an vật qua.
Nguồn gốc của lễ hội gắn liền với câu chuyện xúc động vào thế kỷ 17 dưới thế vua Pratap Mala.
Khi vị hoàng từ trẻ qua đời, hoàng hậu trình trong đau đớn tụt cùng không điều gì có thể khiến bà mỉm cười trở lại.
Nhà vua liền ra lệnh cho tất cả các gia đình vừa có người mất trong năm cùng xuống đường diễu hành.
Khi nhìn thấy vô số người cũng đang mang chung một nỗi mất mát như mình,
hoàng hậu hiểu rằng cái chết chưa bao giờ chừa một ai kể cả hoàng tộc.
Nhưng Gajacha không dừng lại ở nước mắt.
Ngay sau cuộc diễu hành, đường phố bùng nổ với các vở kịch châm biếm,
những câu đùa hóm hình, chỉ trích bất công xã hội và tói hư thật xấu của quan lại.
Trong ngày này, không ai bị trừng phạt vì lời nói.
Gajacha dạy người Nepal một bài học nhân sinh sâu sắc,
không chôn chạp nỗi đau riêng từ đằng sau cánh cửa đóng kim,
hay mang nước mắt ra giữa cộng đồng và dùng tính cười ngạo nghẽ để chữa lành vết thương sinh tử.
Họ táng Pasupatina, nhìn thẳng vào sự hư vô bên dòng sông Thiêng.
Tại thánh địa Pasupatina, bên bờ sông Bamati,
nơi thờ thần Shiva tối cao, cái chết không bị che giấu hay nét tránh,
mà hiện diện trực diện và công khai ngay trước mắt mọi người.
Dọc theo cát cát, bậc đá bên sông, các dàn họ táng cháy sực suốt ngày đêm,
thì thể người quá cố được bọc phai đỏ, đặt chân chạm vào dòng nước sông Bamati để thanh tẩy lần cuối.
Người con cá trong gia đình sẽ đi quanh dàn củi ba vòng trước khi châm ngọn lửa đầu tiên vào miệng người đạo khuất,
cho bụi sau đó được thả trôi theo dòng nước để trở về với vĩnh hằng.
Dù khách phương Tây thường xứng suốt và thậm chí dùng mình,
khi thấy cảnh hoạt táng diễn ra hoàn toàn công khai,
ngay bờ đối diện người ta vẫn thẳng nhiên ngồi trò chuyện,
trẻ em nhảy nhót chơi đùa, khách du lịch chụp ảnh, không có sự chuốn tránh hay hoảng sợ.
Đối với người Nepal, cơ thể thể xác chỉ là chiếc áo khoác tạm bợ,
ngọn lửa hoạt táng không phải là sự kết thúc đáng sợ mà là sự giải thoát,
giúp linh hồn cười bỏ lớp vỏ không cùng để tiến gần hơn đến cõi vĩnh hằng.
Nhìn thẳng vào cái chết mỗi ngày không khiến họ trở nên vô cảm,
mà giúp họ trân trọng hơn từng khoảnh khắc mong manh của sự sống.
Vũ điệu mặt nạ Tiji, cuộc chiến tâm linh dựa thiện và ác.
Ẩn mình trong thành phố pháo đài Lomantang ở thượng Mutang,
vùng đất khô hạn được ví như tiểu Tây Tạng của Nepal.
Lễ hội Tiji diễn ra như một thiên kịch tâm linh rực rỡ kéo dài 3 ngày.
Tiji là viết tắt của tenpa Tijim, có nghĩa là lời cầu nguyện cho hòa bình thế giới.
Theo truyền thuyết, vùng đất Mutang từng bị quỷ giữ Matam Luta tàn phá,
giao rác dịch bệnh và cướp đi nguồn nước quý giá.
Trong cơn thiệt vọng, thần Dorijono đã xuất hiện,
trải qua cuộc chiến sinh tử để tiêu diệt con quỷ trở lại nguồn sống cho nhân dân.
Trong suốt lễ hội, các nhà sư tu viện cho đe,
hóa thân thành các vị thần và quỷ giữ,
khoác lên mình trang phục gấm lựa rực rỡ và đeo nhân trước mặt nạ gỗ sứ tợn.
Họ thực hiện điệu múa Cham với những bước xoay người dồn dập,
theo tiếng kèn đồng dài gầm rú và tiếng trống sấm.
Thật nghịch lý khi một lễ hội cầu nguyện cho hòa bình và lòng tứ bi
lại được thể hiện bằng hình ảnh quỷ giữ và những cuộc chém diếp điên cuồng.
Nhưng với người Mô Tăng, điệu múa này không phải cho giải trí,
đó là một nghi lễ trừ tà linh thiêng nhằm xua đuổi tai họa,
gọi mưa trở lại cho những cánh đồng khô cháy.
Lễ hội Pusa trên Everest, danh giới sinh tử trên đỉnh thế giới.
Và bây giờ chúng ta đến với tập tục thứ 10,
nơi danh giới giữa niềm tin tâm linh và thực tại nghiệt ngã,
bị thử thách đến mức tột cùng.
Đối với người Sepa, đàn địa, ngọn núi Everest không phải là một đỉnh cao
để chinh phục hay khu tập luyện thể thao.
Nó là Chomolungma, nữ thần mẹ của thế giới.
Trước khi bất kỳ đoàn leo núi nào bước chân lên những con dốc băng giá,
một lễ Pusa bắt buộc phải được cử hành tại trại nền.
Người Sepa dựng bàn thờ đá,
treo hàng nghìn lá cờ cầu nguyện 5 màu tung bay trong gió tuyết,
đất canh bách xù tỏa khói thơm phức,
giày đinh, diều băng và dây thừng,
được đặt trước bàn thờ để xin thần linh xá tội
cho hành vi xâm phạm ngọn núi thiêng và cầu mong sự bảo vệ.
Nhưng đây chính là sự thật tàn nhẫn của thực tại.
Everest đã lấy đi mạng sống của hơn 340 nhà leo núi.
Phía trên độ cao 8.000m là vùng tử thần,
nơi lượng oxy tụt sảm nghiêm trọng.
Cơ thể con người bắt đầu tự phân hủy từng phút.
Lời cầu nguyện hay nghi lễ,
Buddha rốt cuộc không thể ngăn một tẳng băng rục đổ,
không thể càm một trận tuyết lờ tàn phá
hay kéo một con người khỏi khé nứt sâu thầm.
Hàng chục thi thể vẫn nằm lại vĩnh viễn trên tuyết trắng qua nhiều thập kỷ,
bị đóng băng hoàn toàn và trở thành những cột bốc trì đường lạnh lẽo cho người đến sau,
đưa một thi thể xuống núi đòi hỏi công sức của hàng chục người
và đặt chính mạng sống của họ vào nguy hiểm tụt cùng.
Lễ Buddha không phải là một tấm bùa hỗn mệnh giúp con người trở nên bất tử.
Nó là lời nhắc nhở khiêm nhường nhất.
Con người phải thật sự thành kính với thần linh,
đừng coi nghi lễ Buddha chỉ là hình thức và mệt tím.
Và khi con người thực sự đối diện với nguy hiểm trên đỉnh núi cao,
không máy móc hiện đại hay đội cứu hộ xuất sắc nào dám cam kết sẽ cứu mạng bạn được ngay lập tức,
lúc đó hãy dùng tính tâm cầu thần giúp đỡ, biết đâu kỳ tích sẽ xuất hiện.
Mười tập tục, mười mảnh ghét tạo nên một nơi ban kỳ bí, mâu thuẫn nhưng vô cùng xông động.
Chúng ta đã thấy những truyền thống khiến thế giới phải ngả mụ khâm phục bởi lòng biết ơn tự nhiên
và sự thanh thản trước cái chết.
Nhưng chúng ta cũng đã chứng kiến những hủ tục nhân danh thiêng liêng để đẩy phụ nữ vào bi kịch,
tàn sát vô cớ sinh linh và tức đoạt tuổi thơ của những đứa trẻ.
Sự thật là, văn hóa không phải là một tàng đá đóng băng qua hàng ngàn năm.
Văn hóa là một dòng sông tươi trẻ.
Những gì mang lại giá trị nhân văn, sự bảo tồn và tính yêu thương sẽ tiếp tục chảy.
Còn những hủ tục gây tồn thương và bất công, cần phải dũng cảm loại bỏ để xã hội tiến về phía trước.
Còn bạn, sau khi đi qua hành trình này, tập tục nào khiến bạn cảm thấy khó chấp nhận nhất?
Và theo bạn, chúng ta có quyền dùng tiêu chuẩn hiện đại để phán xét cách sinh tồn của một văn hóa khác hay không?
Hãy để lại ý kiến cá nhân của bạn ở phần bình luận bên dưới.
Đừng quên nhấn đăng ký kênh và bật chuông thông báo kênh Đông Tây Kim Cổ để không bỏ lỡ những hành trình khám phá văn hóa đầy bất ngờ tiếp theo.
Cảm ơn bạn đã đồng hành đến giây phút cuối.
Xin chào và hẹn gặp lại!
