Ép Người Nghèo Mắc Nợ Vì Chữ Hiếu, Đến Ngày Mẹ Mất Quả Báo Ập Đến

Sống thuận tự nhiên
440 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Ở đời, người ta thường tin rằng cha mẹ mất rồi.
Tăng lễ càng lớn thì chữ hiếu càng trọn.
Nhưng nếu một người vì sợ thiên hạ chê cười mà bắt người sống gánh món nợ nhiều năm,
thứ được giữ lại sau cùng là hiếu nghĩa?
Hay chỉ là thể diễn?
Năm ấy, ở chấn Nam Khê có một cửa hiệu chuyên bán áo liệm,
quan tài, đèn tăng và đồ tế mang tên vạn thỏ.
Chủ hiệu là Phạm Đức Khâm, 48 tuổi,
người lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, nói năng chậm giái,
Cha Đức Khâm mất khi ông mới 17 tuổi.
Nhà nghèo đến mức chỉ mua nổi một cỗ quan tài gỗ tạp,
không có đội nhạc, không có phướng giải,
cũng chẳng đủ tiền đái họ hàng một bữa tử tế.
Hôm đưa tăng, mấy người đứng bên đường bột miệng chê nhà họ Phạm,
bạc với người chết.
Đức Khâm nghe thấy.
Câu ấy theo ông suốt 30 năm.
Bởi vậy, khi mở vạn thỏ, ông treo trước quầy một tấm biển.
Tăng lễ có thể trả chậm, chữ hiếu không nên chậm.
Người nghèo quý ông vì điều đó.
Không ít nhà trong lúc tăng ra bối rối, chưa có tiền,
chỉ cần ký giấy là Đức Khâm cho lấy quan tài trước,
ba tháng hay nửa năm sau mới trả.
Ông còn thường nói.
Người sống thiếu một bữa cơm rồi còn kiếm lại được.
Người chết chỉ có một lần tiễn.
Một chiều cuối thu, triệu thị, quá phụ bán đậu ở đầu chợ,
đến xin mua cỗ quan tài rẻ nhất cho chồng vừa mất.
Bà đếm từng đồng tiền đồng trên quầy.
Nói chỉ đủ mua loại gỗ thông thô, không thuê nhạc, không dựng dạp.
Đức Khâm nhìn bộ áo tăng mỏng trên người bà rồi lắc đầu.
Chồng bà cả đời gánh hàng nuôi nhà.
Đưa đi như vậy, người ngoài nhìn vào sẽ nói gì?
Triệu thị cuối mặt.
Nhà tôi còn một đứa con đang học nghề rèn.
Tôi không muốn nó mang nợ.
Đức Khâm kéo ra một tờ giấy, đặt trước mặt bà.
Ông chọn cho bà cỗ quan tài tốt hơn, thêm hai giải phướng,
một đội kèn nhỏ và bốn mâm cơm tiếp họ hàng.
Tổng tiền gần gấp ba số bà định chi.
Không lấy lãi, sáu tháng trả cũng được.
Triệu thị vẫn do dự.
Nhưng đúng lúc ấy, hai người hàng xóm đi ngang ghé vào, nghe chuyện rồi nói một câu.
Đã là nghĩa vợ chồng, đừng để người ta chê.
Bàn tay triệu thị run lên, cuối cùng bà điểm chỉ.
Đám tăng hôm sau quả thật đông hơn.
Người trong ngõ khen bà có trước có sau.
Đức Khâm đứng xa nhìn, trong lòng thấy yên.
Ông tin mình vừa cứu một người đàn bà nghèo khỏi mang tiếng bất hiếu với chồng.
Ba ngày sau, con trai triệu thị mang chiếc búa rèn mới mua chưa đầy tháng đến cửa hiệu.
Cậu đặt nó lên quầy.
Phạm lão ra, xin trừ trước vào món nợ của mẹ tôi.
Đức Khâm khựng lại.
Không cần gấp.
Cậu thanh niên đáp.
Con nghỉ học nghề rồi.
Sang bến phía đông khuân hàng, mỗi ngày được trả công ngay.
Trả sớm thì mẹ con ngủ được.
Đức Khâm nhìn chiếc búa một lúc,
rồi bảo người làm ghi nhận 200 vần.
Khi cậu đi khỏi, ông vẫn nghĩ đó chỉ là cái giá nhỏ để một gia đình giữ được chữ hiếu.
Nhưng từ hôm ấy, chiếc búa nằm ngay dưới tấm biển, chữ hiếu không nên chậm.
Tin vạn thọ cho mua triệu lan rất nhanh.
Trong chưa đầy 2 tháng, Đức Khâm nhận thêm 13 nhà tàng.
Người có tiền mua loại tốt, người thiếu tiền ký giấy.
Sổ nợ dày lên, nhưng tiếng tăm của cửa hiệu cũng lớn theo.
Văn Nghi, con trai trưởng của Đức Khâm, 24 tuổi, là người giữ sổ.
Cậu tính rất nhanh, ít nói, khác hẳn cha ở chỗ không thích nghe lời khen.
Một tối, Văn Nghi đặt 3 cuốn sổ lên bàn.
Cha, tiền nằm ngoài kia quá nhiều.
Nếu ba nhà cùng chậm trả, tháng sau ta không đủ thanh toán cho xưởng gỗ.
Đức Khâm không ngẳng đầu.
Người có tàng không thể ép như người mua hàng thường.
Con không nói ép, con nói đừng khiến họ mua nhiều hơn thứ họ cần.
Đức Khâm đặt chén trà xuống.
Con còn trẻ.
Có những lúc người ta nghèo, nhưng vẫn cần giữ thể diện cho cha mẹ, vợ chồng.
Nếu mình chỉ bán thứ rẻ nhất, họ sẽ hối cả đời.
Văn Nghi im lặng.
Cậu biết cha không hoàn toàn sai.
Có những gia đình thật sự muốn làm lễ tử tế, nhưng tiền chưa kịp xoay.
Vạn thọ đã giúp họ không phải trôn người thân bằng chiếc chiếu cũ hay quan tài nứt.
Nhưng cậu cũng thấy những thứ cha không nhìn.
Triệu thị bắt đầu bán đậu ít hơn vì con trai đi khuân hàng ở bến.
Một nhà khác bán đôi lợn giống để trả tiền cổ tế.
Một người thợ nhuộm xin kéo khoản nợ thêm 3 tháng
vì con gái sắp cưới mà của hồi môn đã phải đem cầm.
Đức Khâm nghe từng chuyện, lần nào cũng cho khất.
Thấy chưa?
Ông nói với Văn Nghi.
Ta đâu có ép họ.
Cậu con trai chỉ hỏi.
Nhưng lúc ghi giấy, cha có từng nói với họ rằng
làm nhỏ đi cũng không phải bất hiếu không?
Đức Khâm không trả lời.
Cuối tháng ấy, một chuyện khiến ông càng tin mình đúng.
Cụ Tống, một người dạy chữ nghèo, mất mẹ.
Học trò cũ của cụ ở khắp các làng nghe tin kéo về.
Nhờ Đức Khâm cho mua chịu, cụ dựng được một đám tang trình tề.
Sau lễ, cụ đến Vạn Thọ, cúi đầu thật sâu.
Nếu không có ông, tôi đã không thể tiễn mẹ cho trọn.
Câu ấy làm Đức Khâm ấm lòng.
Ông kể lại cho Văn Nghi nghe nhiều lần.
Vài ngày sau, một gia đình đến hỏi mua quan tài.
Họ nói chính cụ Tống giới thiệu.
Đức Khâm cười, chọn cho họ gói tăng lễ bậc giữa.
Từ đó, ông cho người làm ba mẫu tăng lễ.
Tiết lễ, toàn lễ và đại hiếu.
Mỗi mẫu ghi rõ số phướng, số bàn cổ, loại gỗ, đội nhạc.
Người nghèo thường hỏi mẫu rẻ nhất,
nhưng khi nhìn thấy hai chữ đại hiếu viết lớn ở đầu bảng,
không ít người lại đổi ý.
Doanh thu trên sổ tăng rõ rệt.
Văn Nghi nhìn bảng mẫu mới, nói nhỏ.
Cha đặt tên thế này, người chọn gói thấp sẽ nghĩ mình kém hiếu.
Đức Khâm đáp, tên chỉ là tên, người ta tự chọn.
Ngay chiều hôm đó, một bà láo vào mua áo liệm cho chồng.
Bà chỉ vào gói thấp nhất, rồi nhìn sang chữ đại hiếu rất lâu.
Cuối cùng bà nói, thôi, thêm cho tôi hai giải phướng,
đỡ để con cháu mang tiếng.
Đức Khâm ghi thêm vào sổ.
Ông không hề thúc bà, nhưng ông cũng không gạch hai chữ kia đi.
Sang đầu đông, vạn thọ đông khách hơn bất kỳ năm nào trước đó.
Đức Khâm thuê thêm hai người làm, mua chức gỗ tốt từ huyện bên
và treo một giải biển đỏ bên trong cửa hiệu.
Nhà có hiếu, lễ có nghi.
Nhiều chủ hiệu khác bắt đầu bắt trước cách bán theo gói của ông,
nhưng vạn thọ vẫn được tin nhất.
Đức Khâm cho rằng, đó là bằng chứng người trong trấn vốn cần một nơi giúp họ giữ lễ.
Một buổi sáng, triệu thị lại đến.
Bà không xin khất nợ, bà mang đủ số tiền còn lại,
đặt thành từng sâu trên quầy.
Đức Khâm ngạc nhiên, mới hơn ba tháng.
Triệu thị đáp, con tôi làm cả đêm ở bến.
Nó bảo trả xong thì về học rèn lại.
Ông nhìn hai bàn tay bà nứt đỏ vì lạnh.
Ông định nói có thể để chậm, nhưng bà đã đẩy tiền tới.
Nhà tôi trả rồi, từ nay xin lão ra đừng nhắc chữ hiếu với nó nữa.
Nó nghe người ta khen đám tăng cha nó, nó lại tưởng bỏ học là việc đáng.
Câu nói khiến Đức Khâm khó chịu.
Tôi đâu bắt con bà bỏ học.
Tôi biết, triệu thị cúi đầu.
Chính vì ông không bắt nên tôi cũng chẳng biết trách ai.
Bà đi rồi, Đức Khâm ngồi lặng một lúc.
Nhưng đến trưa, cụ Tống dẫn một người họ hàng tới mua quang tải,
lại cảm ơn ông đã giúp hôm trước.
Hai câu chuyện trái ngược nằm cạnh nhau
và Đức Khâm chọn tin vào câu làm mình dễ chịu hơn.
Chiều đó, nhà họ Lý có tăng.
Con trai trưởng tên Lý Trọng An chỉ muốn mua gỗ vừa, không nhạc, không cỗ lớn.
Người em lại sợ bà con chê.
Hai anh em cãi nhau ngay trong cửa hiệu.
Đức Khâm đứng giữa, nói
Người chết không biết đám tăng lớn hay nhỏ,
nhưng người sống còn phải sống với họ hàng làng xóm.
Trọng An hỏi
Vậy lễ này làm cho cha tôi hay làm cho người ngoài?
Đức Khâm thoáng sững.
Người em lập tức chen vào.
Anh tiếc tiền thì nói thẳng.
Cuối cùng Trọng An nhượng bộ.
Họ chọn gói toàn lễ.
Hai tuần sau, Vân Nghi báo nhà họ Lý chưa trả được được đầu.
Trọng An đã đem cầm nửa mẫu ruộng dâu.
Cha thấy chưa? Vân Nghi nói.
Họ không mua vì muốn, họ mua vì sợ bị gọi là bất hiếu.
Đức Khâm gắt, nhưng cuối cùng chính họ chọn.
Cậu con trai không tranh luận nữa.
Cậu chỉ lấy chiếc búa của con Triệu Thị từ ngăn dưới quầy, đặt lên bàn.
Cái này cũng là họ tự chọn.
Đức Khâm nhìn chiếc búa, rồi bảo cất đi.
Đêm ấy, ông về nhà muộn.
Mẹ ông, cụ Phạm Lý Thị đang ngoài bảy mươi, đang ngồi vá áo dưới đèn dầu.
Bà nghe con kể chuyện buôn bán phát đạt thì cười.
Con làm nghề tang, giúp người lúc dối ghen là có phúc.
Nhưng đừng bán cho họ cái họ sợ.
Đức Khâm hỏi.
Mẹ nói gì?
Quan tài là hàng.
Nỗi sợ bị thiên hạ chê không phải hàng của con.
Ông bật cười, cho rằng mẹ già nghĩ nhiều.
Cụ Lý Thị không nói thêm.
Bà chỉ dặn.
Sau này mẹ chết, một cỗ gỗ thông là đủ.
Đừng thuê kẻn, tiền để Vân Nghi lấy vợ.
Đức Khâm đáp ngay.
Bà nhìn ông rất lâu.
Vậy khi ấy con tiễn mẹ hay tiễn cái miệng của thiên hạ?
Câu hỏi của mẹ khiến Đức Khâm bực trong vài ngày.
Rồi công việc cuốn nó đi.
Đầu tháng chạp, hứa bằng chủ xưởng gỗ ở huyện bên
đến vạn thọ đòi tiền lâu quan tài đã giao từ mùa thu.
Đức Khâm đưa số nợ của khách.
Nói sau Tết sẽ thu đủ.
Hứa bằng lật từng trang.
Ông có nhiều người nợ quá.
Đều là người trong trấn.
Không chạy được.
Người ta không chạy, nhưng ruộng có thể bán.
Con có thể đi nơi khác, nhà có thể nghèo thêm.
Đức Khâm câu mày.
Hứa bằng nói.
Tôi bán gỗ, không bán danh hiếu.
Tháng sau phải trả ít nhất một nửa.
Lần đầu Đức Khâm thấy những tờ giấy mình vẫn xem
là tài sản bỗng nhẹ như giấy thật.
Ông đổi cách làm.
Vạn thọ vẫn cho mua chịu.
Nhưng khách chọn gói đại hiếu phải có người bảo lãnh.
Gói toàn lễ phải trả trước một phần.
Riêng tiết lễ, ông cho trả chậm như cũ.
Văn Nghi tưởng cha đã hiểu.
Nhưng vài ngày sau,
Đức Khâm cho treo ba tầm mẫu ngay giữa cửa hiệu.
Đại hiếu có quang tài sơn bóng,
phướng dài và đồ tế đầy đủ.
Toàn lễ vừa phải.
Tiết lễ chỉ có cỗ gỗ thông
và bộ áo tăng đơn giản.
Một người nghèo tên Đỗ Phúc đến mua tăng cho mẹ.
Anh định chọn tiết lễ.
Vợ anh kéo tay, nhìn sang bộ đại hiếu rồi thì thầm.
Mẹ nuôi ba anh em,
giờ làm thế này người ta nhìn vào.
Đỗ Phúc cắn răng đổi sang toàn lễ
và nhờ anh vợ bảo lãnh.
Đức Khâm không thúc ép.
Tối đó, ông khoe với Văn Nghi rằng
quy định mới đã giải quyết cả hai việc.
Người nghèo vẫn có lựa chọn.
Cửa hiệu cũng an toàn hơn.
Văn Nghi hỏi, nếu vậy sao cha không gọi ba gói
là một, hai, ba?
Buôn bán phải có cách gọi dễ nhớ.
Vậy cha đang bán gỗ hay bán tên?
Đức Khâm nổi giận.
Quát con ra khỏi quầy.
Nhưng thay đổi mới đem lại kết quả đẹp.
Ba khách trả trước đủ tiền.
Hứa bằng nhận được một khoản.
Sổ sách bớt căng.
Ông càng tin mình đã tìm được cách dung hòa.
Đến cuối tháng, anh vợ của Đỗ Phúc tìm tới.
Đỗ Phúc chưa trả được kỳ đầu.
Người cho vay đã tìm người bảo lãnh.
Nhà tôi đang chuẩn bị cưới con gái,
ông ta nói.
Tôi ký vì em rể.
Bảo không làm tang cho gia hồn thì mang tiếng cả họ.
Giờ tiền cưới con tôi phải đem trả thay.
Đức Khâm đáp.
Ông đã ký thì phải chịu.
Người đàn ông cười nhạt.
Phải, tôi tự ký.
Cậu ấy giống hết lời Đức Khâm vẫn nói về mọi khách hàng.
Tối đó, văn nghi báo cụ Lý Thị
đã bán chiếc vòng bạc cũ.
Đức Khâm vội về hỏi mẹ.
Bà chỉ chiếc hòm nhỏ dưới giường.
Ta mua sẵn vải liệm
và để đủ tiền cho cỗ gỗ thông.
Ta không muốn lúc ta chết
các con vì cái miệng người ngoài mà mắc nợ.
Đức Khâm trả lại tiền cho mẹ
và cất chiếc hòm đi.
Trong đầu ông chỉ có một ý.
Mẹ có thể muốn giàn dị
nhưng ông không thể để cả trấn thấy nhà phạm
là một đám tang hạng thấp nhất.
Qua Tết, khoản tiền hứa bằng
đòi vẫn chưa gom đủ.
Ba gia đình trong sổ xin khất.
Hai người bảo lãnh quay sang cãi nhau
với người vay.
Một nhà dọn sang huyện khác làm thuê
để lại căn nhà khóa cửa.
Vạn thọ vẫn có khách mới
nhưng tiền mặt chảy vào chậm hơn tiền gỗ,
vải, nhang và đồ tế chảy ra.
Văn Nghi đề nghị bỏ hẳn
việc đặt tên ba gói tăng lễ.
Giữ hàng, bỏ chữ đại hiếu.
Ai cần gì mua nấy?
Đức Khâm không đồng ý.
Vạn thọ có danh hôm nay
chính vì người ta tin ta hiểu lễ.
Cậu con trai đáp.
Hay vì ta hiểu họ sợ gì?
Đức Khâm tát mạnh lên bàn
làm nhiên mực rung lên.
Con đang nói cha kiếm tiền trên nỗi sợ à?
Văn Nghi không đáp.
Sự im lặng ấy còn làm ông khó chịu hơn.
Đúng lúc ấy triệu thị chạy vào cửa hiệu.
Con trai bà bị gãy chân
khi khuôn một thùng hàng ở bến.
Không nguy hiểm đến tính mạng
nhưng phải nghỉ nhiều tháng.
Bà không đến xin tiền.
Bà chỉ hỏi Đức Khâm có biết chỗ nào
nhận người học nghề rèn lại sau khi khỏi không?
Ông xữ người.
Ta tưởng nó đã quay lại lo rèn.
Triệu thị cười buồn.
Trả xong nợ thì thầy cũ đã nhận người khác.
Đức Khâm nói mình có thể giúp cậu xin chỗ.
Bà cảm ơn.
Rồi trước khi đi nói
Phạm lão ra, tôi không trách ông chuyện đám tang.
Ngày đó nếu làm sơ xài
có lẽ tôi cũng chịu không nổi lời người ta.
Chỉ là bây giờ nghĩ lại
tôi không biết mình đã giữ được danh cho chồng
hay đã lấy mất một năm đời của con.
Câu ấy theo Đức Khâm suốt buổi chiều.
Nhưng tôi đến.
Hứa bằng đưa ra tối hậu thư.
Trong 20 ngày phải trả phần còn lại
nếu không sẽ dừng rau gỗ
và lấy kho sau làm vật bảo đảm.
Đức Khâm ký giấy thế chấp kho sau.
Ông tự nhủ chỉ cần qua mùa xuân
tăng sự trong trấn không bao giờ hết
tiền rồi sẽ về.
Ba ngày sau, cụ Lý Thị ngã bệnh.
Bà vốn yếu từ đầu đông
giờ ho nhiều ăn ít
thấy thuốc nói tuổi cao nên chuẩn bị tinh thần.
Văn Nghi ngồi bên giường bà mỗi tối.
Đức Khâm cũng về sớm hơn
nhưng hết mẹ nhắc chuyện hậu sự
ông lại lặng đi.
Một đêm, cụ nắm tay con trai
Khâm, mẹ không sợ chết
mẹ chỉ sợ sau khi mẹ chết
Con biến mẹ thành tấm biển quảng cáo
cho cửa hiệu. Đức Khâm đỏ mặt
mẹ nói nặng lời quá. Vậy hứa với mẹ
gỗ thông, không nhạc
không dạp lớn, không vay một đồng
Ông nhìn bàn tay gầy của mẹ
nhưng không hứa. Sáng hôm sau
tin cụ Phạm Lý Thị bệnh nặng lan ra
một khách quen ghé cửa hiệu
vô tình nói, cụ bà nhà ông mà trăm tuổi
chắc năm khê chưa từng thấy đám nào lớn bằng
nhà làm nghề tăng mà
Người kia chỉ nói lấy lỏng
nhưng Đức Khâm nghe thấy như một lời
phán xét đã được nói trước
Chiều đó, Văn Nghi mang sổ đến
Nếu bà mất lúc này, nhà ta chỉ
đủ tiền làm đúng điều bà dặn
Đức Khâm khép sổ. Không thể
Vì bà muốn hay vì người ngoài
muốn? Ông không trả lời
Ngoài quầy, tấm biển
bà gói tăng lễ vẫn trèo. Hai chữ
Đại Hiếu, lớn nhất, đen nhất
nhìn thẳng vào gian trong nơi mẹ ông
đang nằm. Cụ Lý Thị
mất vào dạng sáng ngày 17 tháng 2
Bà đi rất yên, bên giường chỉ có Đức Khâm
Văn Nghi và con dâu
Trong chiếc hòm nhỏ dưới giường vẫn còn
bộ vải liệm bà đã tự chuẩn bị từ trước
Văn Nghi lấy ra, đặt lên bàn
làm như bà dặn
Đức Khâm không nói gì
Đến sáng, người trong họ kéo tới
Có người vừa thắp hương, vừa nhắc
vạn thọ nổi tiếng khắp Nam Khê
Một ông chú nói, tăng cụ bà mà
giàn tiện quá, người ta lại bảo nhà mình
khuyên thiên hạ, giữ lễ, còn tới mẹ mình thì tiếc
Đó chính là câu Đức Khâm
sợ nhất. Ông quay sang Văn Nghi
Văn Nghi đứng im, bà đã dặn không vay
Đức Khâm nhìn những người họ hàng
đang ngồi ngoài sân, rồi hạ giọng
Một đời cha gây dựng danh tiếng
Không thể để người ta nói
nhà ta bán đại hiếu cho thiên hạ, còn mẹ mình
dùng tiết lễ
Văn Nghi nói, vậy cha làm tăng cho bà
hay cho tấm bảng ngoài cửa
Đức Khâm quát con im
Từ đó mọi việc chạy rất nhanh
Ông đặt đội nhạc lớn nhất trấn
Dựng dạp dài sang nửa ngõ
Gọi thêm đồ tế giấy, phướn và bàn cổ
Hứa bằng nghe tin
Cho người mang cỗ quang tài tốt tới
Nhưng yêu cầu trả tiền ngay
Đức Khâm không có đủ
Văn Nghi đưa ra phương án cuối
Dùng cỗ gỗ thông đã có
Cắt toàn bộ nhạc và cỗ khách
Như vậy, vừa đúng lời bà, vừa giữ được cửa hiệu
Ngoài sân, lại có người nói
Cả đời cụ bà sinh được người con làm ăn lớn
Chắc lúc đi cũng mát mặt
Đức Khâm lấy khế nhà
Và khế cửa hiệu từ hòm sắt
Đem sang cao hữu vai
Văn Nghi tái mặt, cha định thế chấp cả mặt tiền
Chỉ mười ngày
Sau lễ ta thu bốn khoản lớn là đủ chuộp
Bà trong bốn nhà ấy đã xin khất
Thì đi thu
Văn Nghi nhìn cha rất lâu
Cha đang bắt con làm đúng thứ cha đã dạy cả trấn
Thả mắc nợ còn hơn để người ta chê bất hiểu
Đức Khâm xiết hàm
Sau này con sẽ hiểu
Cuối cùng Văn Nghi cầm khế đi
Đến chiều, cao hữu đồng ý cho vai
Nhưng ghi rất rõ
Nếu quá giờ ngọ ngày đưa tang mà chưa hoàn đủ tiền
Cửa hiệu mặt phố thuộc về ông ta
Khoản vai chỉ đủ nếu tính cả bốn món nợ
Đức Khâm tìm sẽ thu được trước đó
Văn Nghi đặt giấy vai trước mặt cha
Còn kịp đổi
Đức Khâm cầm bút
Trong gian trong bộ vải liệm giản dị của mẹ vẫn nằm trên bàn
Ngoài sân đội nhạc đang thử trống
Tấm phướn lớn có bốn chữ
Mẫu Đức Lưu Phương vừa được treo lên
Ông ký
Đêm ấy khách tới viếng Đông Kín
Người ta khen đám tang lớn
Khen Đức Khâm có hiếu
Khen cụ Lý Thị có phúc sinh được người con biết giữ lễ
Mỗi lời khen làm ông nhẹ đi một chút
Gần sáng
Văn Nghi trở về sau khi đi thu nợ
Cậu chỉ mang về được chưa đầy một phần ba số tiền cần
Đức Khâm nhìn túi bạc
Ngày mai còn buổi sáng
Văn Nghi hỏi
Nếu không đủ thì sao
Ông đáp
Như đã nói với chính mình suốt 30 năm
Không thể vì sợ mất tiền mà để mẹ đi trong một đám tang
Khiến người ta chê
Ngoài sân
Tiếng chống tang nổi lên lần đầu
Và đến lúc ấy
Đường lui cuối cùng của nhà họ Phạm đã khép lại
Sáng đưa tang
Cả con phố trước vạn thọ chật người
Cổ quan tài gỗ nam phủ vải trắng được khiêng ra
Giữa hai hàng phướng
Đội nhạc đi trước họ hàng theo sau
Người đứng xem liên tục khen nhà họ Phạm
Làm lễ lớn nhất năm khê
Nhiều năm trở lại đây
Đức Khâm mặc áo tang nghe từng lời ấy
Trước giờ ngọ còn một canh
Cậu con trai chạy đến ba nhà nợ lớn cuối cùng
Nhà thứ nhất chỉ trả được một nửa
Nhà thứ hai vừa bán ruộng chữa bệnh cho con
Xin khất
Nhà thứ ba là đỗ phúc
Anh ta đặt giấy cầm ruộng trước mặt Văn Nghi
Muốn lấy tiền hôm nay thì tôi phải bán nốt mảnh dâu
Cậu bảo tôi nên giữ đất nuôi con
Hay giữ cái danh hiếu đã làm xong từ năm ngoái
Văn Nghi không lấy
Khi cậu trở về
Đoàn tang đã đi nửa phố
Đúng giờ ngọ
Cao Hữu cùng hai người làm đứng trước vạn thọ
Ông ta không chen vào đoàn tang
Chỉ dán tờ giấy chuyển quyền lên cửa
Theo đúng khế
Kho sau đã thế chấp cho hứa bằng
Mặt tiền và nhà ở giờ sang tay Cao Hữu
Người làm vạn thọ chạy theo báo Đức Khâm
Ông quay lại
Giữa tiếng kèn
Ông nhìn thấy tờ giấy trắng dán ngay dưới tấm biển
Tang lễ có thể trả chậm
Chữ hiếu không nên chậm
Ông bỏ hàng tang chạy về
Cao Hữu đưa khế ra
Quá giờ rồi
Đức Khâm xin thêm ba ngày
Khế của ông không viết ba ngày
Hứa bằng cũng tới
Biết cửa hiệu mất mặt tiền
Ông ta yêu cầu kiểm kho sau
Số hàng còn lại không đủ bù khoản gỗ
Đức Khâm đã lấy trước
Chỉ trong một buổi
Hai phần sản nghiệp nhà họ Phạm bị khóa
Đám tang lớn nhất trấn vẫn đi qua phố
Còn chủ của nó đứng trước cửa nhà mình
Nhìn người khác thay ổ khóa
Những người từng mua chịu ở vạn thọ đứng quanh
Không ai cười
Chính sự im lặng ấy khiến Đức Khâm đau hơn
Văn Nghi đặt túi bạc chưa đủ tiền xuống
Con đã làm như cha dạy
Con đem nhà đi vay
Để người ngoài không nói cha bất hiếu
Đức Khâm định quát nhưng không nói được
Chiều ấy
Sau khi hạ huyệt, ông trở về phòng mẹ lần cuối
Trước khi giao nhà
Trong chiếc hòm nhỏ vẫn là bộ vải liệm giàn dị
Bà đã tự mua mấy đồng tiền lẻ
Và mảnh giấy Văn Nghi viết hộ
Không kèn, không vay
Tiền còn lại để người sống dùng
Đức Khâm ngồi rất lâu
Lần đầu ông hiểu cái giá lớn nhất không phải cửa hiệu
Suốt nhiều năm
Ông nói với người khác rằng
Chữ hiếu nằm trong thứ thiên hạ nhìn thấy
Đến khi chính mẹ nói rõ điều bà muốn
Ông vẫn chọn nghe đám đồng
Vài tháng sau
Đức Khâm thuê một gian nhỏ của chợ bán áo liệm
Và quang tài gỗ thường
Ông bỏ hẳn những tên Tiết Lễ
Toàn Lễ, Đại Hiếu
Một người nghèo hỏi gỗ rẻ nhất
Có bị coi là bạc với cha không
Đức Khâm chỉ vào gỗ gỗ thông
Nếu đó là thứ nhà ông đủ sức làm
Đừng để ai bán cho ông sự xấu hổ
Trước cửa gian hàng
Mới không có tấm biển nào
Hiếu không nằm ở đám tang
Khiến thiên hạ trầm trổ
Mà ở việc người sống có thật sự nghe điều cha mẹ cần
Khi còn sống và cả lúc đã đi
