câu

Bảy sắc cầu vồng
952 Người theo dõi
#baysaccauvong
https://chanhkien.org/2022/08/thien-co-anh-hung-han-tin-1-long-om-chi-lon-an-than-giau-tai.html
…………………………………………………………………
Âm nhạc: Chánh Kiến.
Giọng đọc: Bạch Liên.
Bài sát Cầu Vòng kính chào quý khán giả, mời các bạn cùng nghe loạt bài về thiên cổ anh hùng Hàn Tín.
Phần 9. Oanh khuất ở nhà trương
Sau khi Lưu Bang đăng cơ, các vị vương khác họ được phong vào thời cùng hàng vũ tranh bá như Bành Việt, Anh Bố, Hàn Tín, v.v.
Đều trở thành mối hòa tâm phúc khiến ông ta ngày đêm lo lắng, thích muốn nhổ đi cho nhanh.
Trong số những vị vương khác họ thì tài năng và danh tiến của Hàn Tín là lớn nhất, càng khiến Lưu Bang đố kỳ không thể yên tâm.
Sau khi Hàn Tín bị giam lỏng, biết Lưu Bang kiêng rẻ công lao của mình nên thường xuyên cáo bệnh không ra, hành sự thì khiêm cung nhẫn nhìn.
Hàn Tín chỉ ở trong nhà chỉnh lý binh pháp, Lưu Bang thỉnh thoảng đến thăm.
Có một lần Lưu Bang hỏi Hàn Tín,
Người xem ta có thể chỉ huy bao nhiêu binh sĩ?
Hàn Tín thẳng thắn trả lời, nhiều nhất là 10 vạn.
Lưu Bang lại hỏi, thế còn bản thân nhà ngươi có thể cầm bao nhiêu quân?
Hàn Tín trả lời, càng nhiều càng tốt.
Đây chính là khởi nguồn của thành ngữ, Hàn Tín điểm binh càng nhiều càng tốt.
Lưu Bang nghe xong liền cười lớn,
Ngươi cầm binh càng nhiều càng tốt, sao lại phải làm thần tử của ta?
Hàn Tín bình tĩnh trả lời,
Bệ hạ tuy không giỏi cầm quân, nhưng lại giỏi cầm tướng, cho nên thần là bể tôi của bệ hạ.
Vị trí của bệ hạ là do trời ban, hoàn toàn không phải là do sức người tranh đoạt được.
Lời nói này của Hàn Tín là muốn nói với Lưu Bang,
Tuy tài năng của ông cao hơn Lưu Bang,
nhưng hoàn toàn không phải vì thế mà trong lòng có ý làm phản, dòng ngó ngôi vị.
Ai có thể lên ngôi vị hoàng đế đều là do thường thiên quyết định,
cũng không phải do con người có thể cải biến được.
Tuy là như vậy, Lưu Bang vẫn không muốn buông tha cho ông.
Ông ta e rẻ Hàn Tín công lao cái thế,
hành vi đoan chính nếu xử trí vội vàng sẽ khiến quần thần trán nàn, thiên hạ bất mãn.
Huống chi hồi đầu Hàn Tín công lao cao ngất,
ông ta đã từng đáp ứng với Hàn Tín tam bắt sát,
chính là thấy trời không giết, thấy đất không giết, thấy sắt không giết.
Ông ta muốn giết Hàn Tín lại không muốn Lưu tiếng xấu lấy oán báo ân,
vòng ân bội nghĩa, cứ mãi khổ sở vì không có cái nào vẹn toàn cả đôi.
Vợ của Lưu Bang, Lã Hậu, nhìn rõ tâm tư của ông ta.
Quai thường ông ta dám nghĩ mà không dám làm, liền rắc tâm làm thay.
Lã Hậu tên là Trĩ, là người cố chấp, thâm hiểm độc ác.
Thời con trẻ, cả gia đình vì trốn tránh kẻ thù mà rời đến huyện bái.
Phụ thân của bà là Lã Công, thấy Lưu Bang tướng mạo hơn người.
Bèn đem Lã Trĩ gà cho Lưu Bang.
Khi Lưu Bang bị thua Hạng Vũ ở Bành Thành,
trong lúc loạn lạc đã bị thất tán gia đình,
Lã Hậu và cha mẹ của Lưu Bang bị quân Hạng Vũ bắt làm tù binh trở thành con tin.
Mãi cho đến khi Hàn Tín chiếm được nước tề,
công chiếm được kho lương của quân sở,
Hạng Vũ bị ép phải nghị hòa ở Hồng Câu, phóng thích người nhà của Lưu Bang.
Lã Hậu mới được kết thúc cuộc sống con tin, trở về bên cạnh Lưu Bang.
Nói như vậy thì Hàn Tín là ân nhân của Lã Hậu,
có điều bà ta không nghĩ đến chuyện đó.
Không lâu sau, khai quốc công thần Trần Hy,
liên hợp Hàn Vương Tín, Yên Vương Quán khởi binh làm loạn.
Lưu Bang thân chinh dẫn quân bắt phạt,
Lã Hậu và Tiêu Hà bảo vệ kinh đô Trường An.
Lã Hậu biết thời cơ đã tới,
liền mua chuộc môn đồ của Hàn Tín là Loan Thuyết,
phong cho ông ta là Thần Dương Hậu,
để ông ta vu cáo Hàn Tín mưu phản.
Sau đó ép Tiêu Hà ra mặt,
nói dối là Lưu Bang đã dẹp được phiến quân chiến thắng trở về.
Yêu cầu Tư Hậu và quần thần vào triều chúc mừng,
dùng cách đó lừa Hàn Tín vào cung.
Một Tiêu Hà tinh khôn hơn người,
lẽ nào không nhận ra chứng cứ trong tay Lã Hậu là không đáng tin,
nhưng sợ thủ đoàn độc ác của bà ta nên không dám trái mệnh.
Tiêu Hà năm đó toàn lực tiến cử Hàn Tín làm đại tướng quân,
thống lĩnh ba quân, có thể nói là tri âm của Hàn Tín.
Do vậy, Hàn Tín đối với Tiêu Hà là nhất mực tôn kính và hết lòng tin tưởng.
Tuy trong lòng không muốn tham dự buổi chầu này,
nhưng nể mặt Tiêu Hà cố gắng gược tề sông lên, vây chặt Hàn Tín.
Hàn Tín khi đó biết là mình mắc bẫy vội kêu Tiêu Hà,
nhưng ở đâu có bóng sáng của Tiêu Hà.
Lã Hậu ngồi ở trên điện, nét mặt và giọng nói nghiêm trang,
chỉ trích Hàn Tín có ý muốn hại bà và thái tử.
Căn bản là không cho Hàn Tín cơ hội để giải bày.
Rồi đưa ông vào nhà treo chuông trong cung trường lạc xử tội chết.
Một đời danh tướng đã bị Lã Hậu tính kế giết hại như vậy.
Giết Hàn Tín rồi, Lã Hậu vẫn chưa muốn dừng tay,
lại hạ lệnh diệt ba đời phủ bẫu và thê tử của Hàn Tín.
Khi đó tháng riêng mùa đông giá rét,
tuyết lớn manh mông che phủ bầu trời,
mấy ngàn người vô tội, máu ngượm Trường An.
Âm thanh gào khóc đi kèm với tiếng gió rít của gió bắc lạnh thấu xương
phiêu đáng khắp trên bầu trời Trường An.
Người dân khắp thành Trường An đều than khắp,
không ai không cảm thấy bi thương.
Mọi người đều nói Hoài âm hồ đã lấy nghìn vàng để đền bát cương thiêu mẫu.
Làm sao lại có thể phản bội lại Hoàng đế đã nhường cơm xẻ áo năm đó?
Nếu như thật sự có tâm mưu phản,
lại có thể chỉ vì mấy câu của tiêu hà mà dễ dàng tiến cung chầu mừng.
Nếu như Hàn Tín không có phản bội Hoàng đế,
là Hoàng đế nhẫn tâm cô phụ tấm lòng trung của Hàn Tín.
Vậy thì cái chết của Hàn Tín chẳng phải là chết oan hay sao?
Lưu Bang bình đỉnh được Trần Hy song quay về.
Nghe thấy tin Hàn Tín chết rồi,
không hỏi lã hội vì sao giết Hàn Tín,
cũng không trách vì sao không đợi ông ta về rồi hãy xử lý.
Chỉ hỏi Hàn Tín trước khi chết có nói gì không?
Sự sách có ghi lại phản ứng của ông ta là
vừa vui mừng, vừa thương xót.
Một mặt là trừ được mối họa lớn trong lòng,
mặt khác lại cảm thấy Hàn Tín thực sự rất đáng thương.
Sát hại Hàn Tín song,
bọn họ lại dùng thủ đoàn tương tự đối phó Bành Việt.
Bành Việt người xương ấp xuất thân là giặc cướp ở vùng đầm cỏ.
Khi Lưu Bang phủ bệnh Sở Hoài Vương xuất binh Tây Tiến,
Bành Việt liên dẫn quân trợ giúp.
Trong chiến tranh Hán-Sở,
Bành Việt luôn ở hầu phương kiềm chế Hạng Vũ,
đã giải tỏa được rất nhiều áp lực cho Lưu Bang.
Khi Lưu Bang ở lúc vô cùng khó khăn,
ông ta lại tịch thu được lượng lớn lương thực cung cấp cho quân của Lưu Bang.
Trước cuộc quyết chiến hai bên, Lưu-Hạng,
Lưu Bang đã từng giao ước với Hàn Tín và Bành Việt
là sau khi thắng lợi sẽ chia ba thiên hạ.
Sau này chỉ phong Bành Việt là Lưu Vương,
Bành Việt cũng không để ý lắm về chuyện đó.
Bành Việt và Lưu Bang về tuổi tác gần bằng nhau,
tính khí, tính cách cũng tương đồng.
Trong lớp khai quốc công thần,
ông ta là gần gũi với Lưu Bang nhất.
Ông xử lý công việc thận trọng,
đặc biệt là sau khi Hàn Tín bị phế là Hoài âm hồ,
thì ông ta càng cẩn thận từng ly từng tí,
như dẫm trên tảng băng mỏng.
Khi Trần Hy phản loạn,
Lưu Bang lệnh cho Vương Chư Hầu cùng xuất binh đi trinh phạt.
Bành Việt tuổi tác đã cao,
lại lúc có bệnh,
Ben cử bộ tướng xuất binh đến Hàng Đan
hội sư với Lưu Bang.
Lưu Bang rất tức giận.
Sau khi về tới Lạc Dương,
Lưu Bang đỉnh cho ông tội danh mưu phản,
rồi phế làm thứ dân,
lưu đầy ở huyện Thanh Y nước Thục.
Bành Việt trên đường đi lưu đầy gặp Lã Hậu.
Ông tưởng rằng gặp được cứu tinh,
liền khóc lóc trước mặt Hoàng Hậu,
kề lệ bị oan.
Cũng nói là mình tuổi tác cao rồi,
không cầu gì khác,
chỉ muốn có thể về lại quê nhà ở xương ấp,
sống nốt những năm cuối đời là mãn nguyệt lắm rồi,
không dám có ý đồ gì khác.
Lã Hậu đỡ bành Việt lên,
rồi trấn an ông ta nói,
lương gương không cần phải đau buồn,
tất cả đã có ta.
Ngươi lên xa giá theo ta về Lạc Dương,
gặp Hoàng Thượng, ta sẽ nói hổ ngươi.
Vừa về đến Lạc Dương,
bà ta liền trách cứ hán cao tổ,
thả hổ về rừng,
nên nhổ cỏ tận gốc để trừ hậu họa.
Vì để đỉnh vững tội danh của bành Việt,
bà ta mua người ở thuê của thuộc hạ của ông ta,
để ông ta vô cáo bành Việt mưu phản,
thủ đoàn và cách đối phó,
giống như cùng Việt bánh xe với Hàn tín.
Kết quả, bành Việt xui xẻo không những thân vong tộc diệt,
Lã Hậu còn sai người đem thi thể của ông ta,
băm nát làm thành tương thịt,
phân phát cho các chư hầu thưởng thức.
Lưu Bang và Lã Hậu lo lắng rằng,
việc xất hại Hàn tín sẽ bị đời sau chê trách,
liền theo dệt tội danh tạo chứng cứ.
Không chỉ trục cho Hàn tín tội mua phản,
mà còn đem cái chết của Lệ Thực Kỳ và Trung Ly Muội
đổ lên đầu Hàn tín nhằm làm ô ế danh tiếng của ông,
và còn đem những điều đó ghi vào trong hồ sơ chính thức
và trong sửa sách,
khiến chân tướng lịch sử đã bị che đầy.
Trong Sử Ký cũng ghi chép là Hàn tín cùng với Trần Hy
bàn bạc về việc mua phản.
Nếu như Hàn tín xác thực có lòng mua phản,
tại sao khi ở trước Tề Vương,
ông có đầy đủ thực lực cùng Lưu Bang, Hạng Vũ,
Lập Thế Trân Vạc lại không làm phản,
mà ở vào tình thế không minh không lính lại tạo phản?
Phân tích những ghi chép trong Sử Ký,
đối chiếu với ghi chép liên quan đến việc Hàn tín mua phản,
đều có thể nhận thấy rất nhiều chỗ mâu thuẫn.
Thứ nhất, khi Lưu Bang còn chưa định rõ thắng thua,
Hàn tín đã cử tuyệt,
khi khoái thông đến du thuyết.
Đời đến lúc Lưu Bang công thành danh tài,
ông lại thay lòng đổi ý.
Một tướng xoái am tường binh pháp
có hành vi như thế là trái với lẽ thường.
Thứ hai, Hàn tín hai lần bị Lưu Bang đột kích tước binh quyền,
cộng thêm sự phân tích của khoái thông.
Hàn tín không thể không phát hiện được sự nghi kỳ
và sợ hãi của Lưu Bang đối với ông.
Nhưng khi Lưu Bang bị hạng vũ vây khốn ở Cố Lăng,
ông không mua phản.
Khi đến đất sở làm sở vương, không mua phản.
Khi đón Lưu Bang ở đất trần, không mua phản.
Vì cớ gì vào lúc không quyền không binh,
Thứ ba, với trí huệ của Hàn tín,
không thể nào dưới tình huống bị giám sát
mà ông cùng với Trần Hy tránh tả hữu
rồi cùng ông ta đi vào trong triều bàn bạc việc mua phản.
Giả sử xác thực có chuyện đó,
khi Hàn tín và Trần Hy bản tính mua phản
cũng không có người thứ ba ở đó.
Người ngoài làm sao biết được nội dung?
Ghi chép của Tư Mã Thiên làm sao có thể chi tiết như thế?
Thứ tư, Trần Hy là thân tín của Lưu Bang,
Trần Hy với Hàn tín là quan hệ thông thường,
mua phản là chuyện lớn liên quan đến tính mệnh của cả gia tộc.
Hàn tín không thể tùy tiện cùng với thân tín của Hoàng đế thổ lộ tâm tư.
Trần Hy đến Cửu Lộc nhậm chức được mấy năm,
không có thông tin qua lại với Hàn tín,
nên nói ông ta đồng mưu với Hàn tín khó mà khiến người ta tiến phục.
Trái lại, xem xét hành vi của Lã Hậu và Lưu Bang,
thực hư chuyện Hàn tín mua phản còn chưa rõ.
Lã Hậu đã rủ ông vào mà giết,
đối với đệ nhất công thần bị giết,
Lưu Bang hoàn toàn không trách cứ Lã Hậu,
thậm chí không điều tra thêm,
chỉ có thể nói là bọn họ đã bày mưu từ trước.
Hàn tín bị giết,
người đời sau đua nhau biểu lộ cách nhìn.
Có người nói lúc Hàn tín đăng đàn bái tướng
đã gây ra sự đố kỳ của đám người Lưu Bang.
Cũng có người nói là Hàn tín
ý có công cao sinh ra ngạo mạn dẫn tới tai họa.
Còn có người cho rằng Hàn tín tuy là danh tướng kiệt xuất,
giỏi mưu kế với thiên hạ,
nhưng lại thiếu trí huệ sử thế,
tính toán cho mình kém.
Kỳ thực, từ cá tính và tâm địa của Lưu Bang mà nói,
những vị vương khác họ như Hàn tín, Bành Việt, Anh Bố
đều khó tránh vận xui xẻo.
Sau khi Hàn tín, Bành Việt bị giết,
mấy vị vương khác họ có công rất lớn trong cuộc chiến Hán Sở
cũng đều bị giết vì đủ loại lý do.
Chỉ có Trường Sa Vương Ngô Nhuế chết sớm,
may mắn được thiện chung,
sau đó Lưu Bang cùng các đại thần giết ngựa trắng hội thề,
không phải họ Lưu mà làm vương,
thiên hạ sẽ cùng đánh người đó.
Sử ký lã Thái Hậu bản ký.
Có thể thấy, việc trừ bỏ những vị vương khác họ
là cuốc sách đã định của Lưu Bang.
Đây mới chính là nguyên nhân thực sự khiến Hàn tín bị giết.
Hoài Nam Vương Anh Bố bị tố cáo
bởi vì sợ hãi nên đã giấy binh tạo phản.
Lưu Bang tuổi cao lại có bệnh nhưng vẫn buộc phải xuất binh.
Hào binh tốn của mãi mới diệt và bình định được Anh Bố.
Lưu Bang cũng bị thương do trúng tên.
Người bạn được tín nhiệm nhất của Lưu Bang là Yên Vương Lưu Quán
vì lo cho mình đã liên lạc với hung nô,
bị phát hiện nên phải chạy trốn sang hung nô.
Không lâu, do vừa bị bệnh vừa bị thương
nên một đời kiêu hùng Lưu Bang đã chết trong sự cô lập hoàn toàn.
Lời kết, Hàn tín giành được thiên hạ cho nhà Hán
nhưng Lưu Bang quỷ kế đa đoan,
mặt dày vô dị đã được hưởng trọn thành quả ấy.
Sau Lưu Bang lại lấy tội danh mưu phản chục mũ
khiến cho chiến thần một đời oai phong lẫm liệt,
công lao cái thế chết oan ở trong cung trường lạc,
để lại một mối hận nghìn thu.
Là một nhà quân sự, trong tất cả chiến dịch mà Hàn tín chỉ huy,
không kể là lấy ít thắng nhiều, lấy nhiều đánh ít
hay là lấy yếu thắng mạnh,
đều là dùng trí tuệ mà giành được chiến thắng.
Minh tu sản đạo, lén vượt trần thương,
lâm tấn nghi binh, thực đánh hạ dương,
thùng gỗ vượt sông, bày trần tựa sông,
thay thế cỡ địch, huyền dịch mà định,
bao cát ngăn sông, địch đến nửa sông thì đánh,
tứ diện sờ ca, thập diện mai phục, v.v.
Mỗi một trận chiến của Hàn tín đều là tuyệt tác của thần,
khiến người đời sau vô cùng ngưỡng mộ.
Là một chiến lược xa, lời mà ông nói lúc Lưu Bang
lập đàn bái tướng đã trở thành sách lược căn bản
của thắng lợi trong chiến tranh hán sờ.
Là thống xoái, ông dưới một người, trên vạn người,
dẫn quân, xuất trần thương, bình đình tam tần,
bắt ngụy, phá đại, diệt triều, hàng yên, phả tề,
mãi cho đến trận chiến cai hạ, toàn diệt quân sở.
Không một lần bại, thiên hạ không ai dám tranh với ông.
Chính ông là người có công tích vĩ đại,
lập ra cơ nghiệp kéo dài hơn 400 năm lưỡng hán.
Là nhà lý luận quân sự,
ông cùng với trương lương trình lý binh thư,
đồng thời có ba thiên binh pháp.
Các nhà quân sự nội ngoại cổ kim,
hoặc là giỏi về bày mưu tính kế,
hoặc là giỏi về công thành trảm tướng,
hoặc chuyên soạn thảo binh pháp,
mà bản thân Hàn tín kiêm tất cả.
Ông không chỉ tung hoành ngang dọc,
hồ mưa gọi gió,
mà còn kể thừa và phát huy các phái binh pháp của tiền nhân.
Tài thao lược quân sự và mưu trí dùng binh trắc Việt của ông
đã được các nhà quân sự đời sau tôn sùng ngưỡng mộ.
Phẩm chất, trí vệ của Hàn tín
và những chiến tích mà ông lập được trên chiến trường
đã sớm trở thành thành ngữ và điện cố mà nhiều người ưa thích,
như bữa cơm xương đỉnh,
chiều nhục chui háng,
thay cũ đổi mới,
hàn khê giả trướng,
tiêu hà đuổi theo Hàn tín,
quốc sĩ vô song,
đăng đàn cao đối,
cái dũng của kẻ thất phu,
lòng nhân của đàn bà,
đau tận xương cốt,
không hề tơ hào,
làm trái lẽ thường,
truyền hịch mà định,
khí nuốt sơn hà,
mọc anh lén đổ,
một mình trấn giữ,
thay thế cờ địch,
nghìn cái đúng có một cái sai,
nghìn cái sai có một cái đúng,
người trí tính toán
một nghìn lần sẽ có một lần sai,
người ngu tính
một nghìn lần sẽ có một lần đúng,
an giáp hưu binh,
định chiến,
bao cát ngăn sông,
kẻ địch qua nửa sông thì đánh,
thịt nát xương tan,
bất khả thắng số,
nhiều không kể xiết,
thời cơ không thể để mất,
mất rồi không quay lại,
cơ bất khả thất,
thất bất tái lai,
đặt chân tình vào bụng người ta,
đắc nhân tâm,
lòng người khó lường,
thế ba chân vạc,
dũng lược, chấn chủ,
công cái thiên hạ,
nhường cơm xẻ áo,
dù chết không phản,
đi xe người ta thì
trung hoạn nản với người ta,
mặc áo của người ta
thì lo chung nỗi lo với người ta,
ăn cơm người ta
thì chết vì việc của người ta,
thập diện mai phục,
tứ diện sở ca,
không thành nào không hạ,
không đẩn chiến nào không thắng,
bắt cơm ngàng vàng,
lấy đức báo oán,
điều tân cung tàng,
thố tử cầu phanh,
quốc phá thần vong,
chim hết thì cất cung,
thò chết thì chó xanh bị nấu,
phá được nước địch
thì mưu thần vong,
đa đa ích thiện,
càng nhiều càng tốt,
biết co biết dũi,
thành bại tiêu hạ,
thành do tiêu hạ,
bại cũng do tiêu hạ,
công cao bất nhị,
lược bất kế xuất,
công cao không có người thứ hai nào so được,
mô lược cao minh trên thế gian
không xuất hiện thêm ai khác,
binh tiên thần xoái,
v.v. đã ảnh hưởng
đến nền văn hóa
năm nghìn năm Trung Hoa
và được lưu truyền thiên thu vạn đại.
