Indonesia Trục Xuất Công Ty Trung Quốc: LOẠT Dây chuyền sản xuất giá trị bị tháo dỡ trong 3 tuần

Khán Trung Quốc
1.1K Người theo dõi
110 Lượt xem video·23 thg 8, 2026
Thời hoàng kim của doanh nghiệp Trung Quốc đã khép lại, Indonesia đang viết lại luật chơi, cuộc chiến giành quyền kiểm soát Niken đang thay đổi cả Đông Nam Á. Indonesia trục xuất các công ty Trung Quốc: Một loạt các dây chuyền sản xuất trị giá 15 tỷ USD bị tháo dỡ chỉ trong 3 tuần....
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Thời Hoàng Kim của doanh nghiệp Trung Quốc đã khép lại, Indonesia đang viết lại luật chơi,
cuộc chiến giành quyền kiểm soát Nikken đang thay đổi cả Đông Nam Á.
Mời quý vị và các bạn cùng như Ngọc và Khán Trung Quốc tìm hiểu sâu về vấn đề này trong chương trình ngày hôm nay.
Chỉ trong vòng vẹn 3 tuần đã tháo dỡ sạch dây chuyền sản xuất chỉ giá hàng trăm tỷ như dân tệ,
toàn bộ thiết bị đều được mang đi, đến cả cần cầu, từng con ốc vít cũng không để lại.
Trong những ngày gần đây, truyền thông Trung Quốc bất ngờ liên tục đăng tải hàng loạt bài viết
về việc một doanh nghiệp luyện Nikken quy mô lớn của Trung Quốc rút khỏi Indonesia.
Tiêu đề và nội dung, các bài viết gần như là không có ngoại lệ, đều là những nội dung như
Doanh nghiệp Trung Quốc chỉ mất 21 ngày để tháo dỡ toàn bộ dây chuyền sản xuất và vận chuyển về Trung Quốc,
đến cả một con ốc vít cũng không để lại cho Indonesia.
Rốt cuộc thì bên nào mới không thể rời bỏ bên nào? Hay là giấc mơ của Indonesia đã tan vỡ thành từng mảnh?
Những bài viết này dường như là muốn cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc một lần nữa đã thắng lớn
trong cái từ chối kết gọi là chiến dịch thu hoạch của chính quyền Indonesia.
Nhưng sự thật có thực sự đúng như vậy? Tại sao truyền thông của Đảng Cộng sản Trung Quốc lại đặc biệt quan tâm,
thậm chí gần như lá mảnh, đến hành động rút lui của một doanh nghiệp Trung Quốc?
Vì sao nó lại thể hiện thái độ bị kích động và phấn nộ đến như vậy? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu.
Cho đến nay, truyền thông Trung Quốc vẫn chưa tiết lộ chính xác doanh nghiệp Trung Quốc nào đã tháo dỡ và rút toàn bộ dây chuyền sản xuất chỉ trong 21 ngày.
Việc doanh nghiệp liên quan cũng chưa lên tiếng rõ ràng. Theo phân tích, giữa cốc khả năng là doanh nghiệp này là tập đoàn Thanh Sơn.
Được biết, các tập đoàn khai khoáng Trung Quốc tại Indonesia đã bắt đầu gặp rắc rối từ năm tháng trước.
Vào tháng 2 năm 2026, Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia đã liên tiếp tung ra bốn đòn,
và đòn nào cũng đều nhắm thẳng vào các doanh nghiệp Trung Quốc. Đòn thứ nhất là các giảm hạn ngạch.
Chính phủ Indonesia đã mánh tay các giảm hơn 30% hạn ngạch khai khoáng quảng Nikon trên toàn quốc,
kéo sản lượng khai thác hàng năm từ 379 triệu tấn trong năm 2025 xuống còn 260 triệu tấn trong năm nay.
Trong đóng mỏ Nikon nguyên đa bay, con vốn gót của tập đoàn Thanh Sơn chữa ảnh hưởng nặng nề nhất.
Hạn ngạch của mỏ này đã bị cắt lánh từ 42 triệu tấn sau khi được điều chỉnh tăng vào năm 2025 xuống chỉ có 12 triệu tấn,
tương đương với mức giảm hơn 70%. Đòn thứ hai là thay đổi phương thức định giá.
Vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, quy định số 144 của Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia
chính thức có hiệu lực, theo đó toàn diện sửa đổi công thức tính giá chuẩn khoáng sản HPM.
Đối với quảng Nikon, lại quảng Nikon có hàm lượng 1,6% làm ví dụ. Thể số điều chỉnh giá đối với Nikon được
nâng từ 17% lên 30%, đồng thời những khoáng chất đi kèm như là Cobalt, Sars và Chrome,
vốn trước đây thường bị bỏ qua về mặt giá trị trong các giao dịch khoáng sản nguyên khai,
cũng bắt đầu được tính giá riêng dựa trên hàm lượng tương ứng.
Theo mô phỏng dựa trên giá kim loại tại thời điểm đó, đối với quảng chứa 1,5% Nikon,
giá chuẩn khoáng sản có thể tăng từ 26,66 USD một tấn nước lên 62,5 USD một tấn nước,
tương đương với mức tăng khoảng 135%. Đối với một số loại cạng hàm lượng thấp được sử dụng cho các
dự án HBAL, Hóa tách Acid Oxide Cao, mức tăng thậm chí có thể lên tới gần 200%.
Đoán đánh thứ ba là tăng thuế và siết chặt quản lý. Indonesia đã tăng mạnh phí cấp quyền khai
thác khoáng sản và thuế xuất khẩu. Phí cấp quyền khai thác được điều chỉnh từ 10% lên mức giao động
14-19%, trong khi thuế xuất khẩu được tăng lên từ 5-15%. Đồng thời, Indonesia quy định doanh nghiệp
phải bắt buộc gửi doanh thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu và các ngân hàng quốc doanh của
Indonesia trong ít nhất 12 tháng. Các doanh nghiệp Trung Quốc nếu như muốn chuyển số tiền đó ra
nước ngoài trước thời hạn, đó là điều không khả thi. Đoán thứ tư là siết khẩu phê duyệt. Kể từ
tháng 1 năm 2026, Indonesia chính thức chuyển việc phê duyệt kế hoạch sản xuất khai khoáng,
từ cơ chế xét duyệt một lần cho ba năm trở lại, thành xét duyệt hàng năm.
Doanh nghiệp phải nộp lại hồ sơ để xin hạn ngạch cho năm tiếp theo. Điều phê duyệt chậm trễ
hoặc hạn ngạch bị cắt giảm đều có thể dẫn đến gián đoạn nguồn cung và đình trệ sản xuất,
khiến cho các kế hoạch mua nguyên liệu dài hạn, mở rộng công suất cũng như là đầu tư trong
tương lai phải đối mặt với mức độ bất định lớn hơn. Các chuyên gia theo dõi tình hình Đông
Đông Á cho rằng, xoay quanh những khó khăn mà các doanh nghiệp Trung Quốc đang phải đối mặt tại Indonesia,
có ba sự kiện đáng chú ý đặc biệt trong thời gian gần đây. Sự việc thứ nhất là thư phản đối
của Phòng Thương mại Trung Quốc gửi Tổng thống Indonesia không đạt kết quả vào tháng 5 năm 2026.
Phòng Thương mại Trung Quốc tại Indonesia đã trực tiếp gửi thư tới Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto,
đồng thời người bàn sao cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Indonesia, cáo buộc chính phủ Indonesia
đang chấn áp các biện pháp giám sát và thực thi pháp luật quá nghiêm ngặt đối với các doanh
nghiệp Trung Quốc. Trong thư cũng đều rõ rằng một số doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn,
bao gồm tình trạng quan chức thạp nhũng, hành vi tống tiền, các hình thức xử phạt liên quan đến
lĩnh vực lâm nghiệp, những hạn chế về thị thực, chi phí thuế và các loại ký gia tăng,
cũng như là việc một số dự án trọng điểm bị đình chỉ. Những doanh nghiệp và quy mưu đầu tư lớn trong
ngành công nghiệp ni cần của Indonesia như Tập đoàn Thanh Sơn, Công ty Hua Yau Khoban và Công ty Brandt
thuộc Tập đoàn CATL đều là những thành viên quan trọng của phòng thương mại này, thì doanh nghiệp Trung
Quốc cảnh báo rằng về các giảm mạch hàn ngạch, khai thác quảng ni cần cùng với công thức định giá quảng
mới và chính sách thuế, phi mới đang nhanh chóng làm gia tăng chi phí, luyện im, buộc các doanh nghiệp
phải xem xét lại kế hoạch đầu tư tại Indonesia. Tuy nhiên, khi mà trả lời bà Trí, Bộ trưởng Tài
chính Indonesia, ông Bubaya Yudhi Sadewa lại thể hiện lệch trương cứng rắn. Ông khẳng định tài
nguyên thiên nhiên của Indonesia là nguồn lực chiến lược quốc gia và trước hết phải phục vụ cho
lợi ích của quốc gia, liên quan đến quy định bắt buộc lưu giữ nguồn thu ngoại tệ trong nước. Ông
cho rằng chỉ những doanh nghiệp không vai vốn từ các ngân hàng Indonesia mới không phải tuân thủ quy định
này. Ông cũng cáo buộc rằng nhiều doanh nghiệp Trung Quốc có hành vi trốn và tránh thuế, trong khi đó Bộ
trưởng Năng lượng và Tài nguyên khoáng sản Indonesia, ông Patil Lahadalia, xác nhận là đã nhận
được một bức thư và cho biết sẽ tiếp tục duy trì trao đổi với Đại dự quán Trung Quốc tại Indonesia.
Thế phía Tổng thống Babu Sabianto, ông trực tiếp phản hồi lại nội dung của bức thư. Tuy nhiên,
trong một bài phát biểu tại Toà nhà Quốc hội Indonesia, ông nhấn mạnh rằng Indonesia là quốc gia
sản xuất dầu cọ và ni cần lớn nhất thế giới. Nhưng giá của các mặt hàng này lại do các quốc gia khác
quyết định. Ông tuyên bố Indonesia cần phải nắm trong tay quyền định giá đối với các nguồn tài
nguyên chiến lược của mình, đồng thời khẳng định rằng nếu như các khách hàng quốc tế không chấp nhận
bức giá do Indonesia đưa ra, thì quốc gia này thà để cho các nguồn tài nguyên đó nằm dưới lòng đất,
dành cho các thế ở mai sau khai thác. Điều càng thú sự chú ý của dư luận là đúng vào thời điểm
Indonesia, các giảm hạn ngành khai thác một loại vụ bê bối tham nhũng liên quan đến các quan chức
chính phủ và lợi ích doanh nghiệp trong ngành khai thác nghi cần đã bị phanh phùi.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, ông Harry Susanto, người vừa nhậm chức chủ tịch UBTHQI Indonesia,
được sáu ngày đã bị bắt giữ. Theo khả buộc của cơ quan công tố, ông Harry từng nhận 1,5 tỷ
rupiah, tiền hối lộ từ một doanh nghiệp khai thác nghi cần để giúp cho doanh nghiệp này né tránh
khoản phí sử dụng đất lâm nghiệp chỉ giá 130 tỷ rupiah. Ngoài ra, ông còn bị cáo buộc tiết lộ trước
cho các doanh nghiệp, báo cáo điều tra mật của cơ quan thanh tra. Sau đó, chủ sở hữu của doanh
nghiệp khai khoáng liên quan cũng bị đưa vào danh sách nghi phạm. Đáng chú ý là trong bối cảnh
Indonesia đồng thời xiết chặt toàn diện các chính sách về hạn ngành khai thác nghi cần, cơ chế để giá,
thuê phí và quy trình phê duyệt đối với các doanh nghiệp có vốn Trung Quốc, chính phủ nước này cũng
công bố về các vụ án tham nhũng trong ngành nghi cần và bắt giữ cả các lãnh đạo cơ quan thanh tra,
tận những người của doanh nghiệp liên quan. Tổng thái này rõ ràng là mang tính cảnh báo mạnh mẽ.
Điều này đồng nghĩa với việc Indonesia muốn gửi thông điệp tới các doanh nghiệp Trung Quốc rằng
chính phủ Indonesia sẽ không chấp nhận việc phía Trung Quốc lấy lý do là quan chức địa phương tham nhũng,
làm con bài mặc cả, lại càng không cho phép các doanh nghiệp dựa vào đó để yêu cầu nới lỏng hạn
ngạch, giảm thuê phí hoặc là khôi phục các chính sách ưu đáy trước đây.
Việc lợi dụng quan hệ với quan chức địa phương, thực hiện trao đổi lợi ích và xây dựng các mối
quan hệ giữa doanh nghiệp với các giới chức để tạo thuật lợi cho quá trình phê duyệt vốn là một
phương thức kinh doanh mà nhiều doanh nghiệp Trung Quốc thường áp dụng tại thị trường trong nước.
Một khi mà chính sách bị xét chặt, các doanh nghiệp này thường sẽ đáp trả bằng cách thanh
vui các vụ án tham nhũng, đe dọa rút vốn, ngừng sản xuất hoặc là thậm chí tạo sức ép thông
qua dự luận. Tuy nhiên, lần này chính phủ Indonesia đã không nhường bộ. Tránh lại,
họ chủ động bắt giữ những người liên quan, công khai các vụ án và cắt đứt những lắc xích lợi
ích có thể tồn tại giữa các doanh nghiệp với quan chức nhà nước.
Sự việc thứ hai là Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia, tổ chức diễn tập quân sự gần khu
công nghiệp do doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư. Ngày 20 tháng 11 năm 2025, Bộ trưởng Quốc phòng
Indonesia, ông Safrai Samsuddin, đã dẫn các chỉ huy quân đội cấp cao, cùng với Tổng trưởng lý và
các quan chức của Cơ quan Kiểm toán Tài chính, đến khu vực gần khu công nghiệp Morowali, thu
tỉnh Trung Sulawesi, để tổ chức một cuộc diễn tập quân sự, liên hợp quy mô lớn giữa ba quân
chủng. Phía Indonesia đã khuy động hơn 26.000 binh sĩ tham gia cuộc diễn tập. Nội dung diễn tập
bao gồm đổ bộ đường không, triển khai lực lượng nhanh, giành quyền kiểm soát dân bay và bảo vệ
các cơ sở trọng yếu, với quy mô và cấp độ huy rộng như vậy. Cuộc diễn tập rõ ràng là không chỉ
đơn giản, là hoạt động huấn luyện thông thường, mà còn được nhiều ý kiến bên ngoài xem là một thông
điệp khẳng định chủ quyền mà chính phủ Indonesia gửi tới các khu công nghiệp do doanh nghiệp Trung
Quốc đầu tư. Khu công nghiệp Morowali là một trong những căn cứ luyện kim và chế biến nị cân
quan trọng nhất của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Indonesia. Cùng với sự hiện diện ngay càng lớn của
các doanh nghiệp, thiết bị, đội ngũ quản lý và chứa cung bứng đến từ Trung Quốc, khu công nghiệp này
dần hình thành một hệ thống vận hành tương đối khép kín. Điều thực sự làm bùng lên những tranh cãi
trong dư luận Indonesia là một sân bay nằm gần khu công nghiệp, do doanh nghiệp tự vận hành.
Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Safrai Sam Sudin từng công khai chỉ trích rằng sân bay này không có
quan chức chính phủ Indonesia thường trực để giám sát trực tiếp, khiến cho nơi đây chẳng khác nào một
quốc gia trong lòng một quốc gia. Và điều đó đã chẳng tới làng danh về chủ quyến quốc gia của Indonesia,
tuy nhiên bên trong chính phủ Indonesia cũng không hoàn toàn thống nhất về vấn đề này.
Thứ trưởng Bộ Giao thông Sultana đã bác bỏ quan điểm của Bộ trưởng Quốc phòng cho rằng sân bay đã
hoàn tất này, có đầy đủ các thủ tục xin cấp phép theo quy định và đang được Bộ Giao thông
quản lý giám sát. Ông giải thích rằng do sân bay chỉ phục vụ cho các chuyến bay nửa địa trong
Indonesia, chứ không phải là sân bay quốc tế, nên không bác buộc phải có lực lượng hải quan và cơ quan
xuất nhập cảnh thường trực. Phát biểu này cho thấy hệ thống dân sự hành chính của Indonesia vẫn
đang cố gắng giới hạn phục vụ trong phạm vi của một tranh chất về quản lý hành chính, nhằm tránh
để cho sự việc nhanh chóng leo thang thành một cuộc đối đầu với ngoại giao hoặc là xung đột quân sự.
Tuy nhiên, ngay cả khi sân bay được xác định là hợp pháp về mặt thủ tục, phản ứng mạnh mẽ của
quân đội vẫn cho thấy mức độ cảnh giác trong gia hội Indonesia đối với điều mà họ cho là sự
thâm nhập toàn diện của Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng. Điều bày Indonesia thực sự phản đối
không chỉ là việc một sân bay có tân thủ quy định hay không, mà còn là mô hình các doanh nghiệp có
vốn Trung Quốc dựa vào nguồn vốn đầu tư khổng lồ để thiết lập một sự kiểm soát khép kín tại khu
vực có nguồn tài nguyên chiến lược và quan trọng. Sự việc thứ ba, Indonesia đã đưa ra lựa
chọn chiến lược rõ ràng trên trường quốc tế. Ngày 20 tháng 2 năm 2026, Indonesia và Hoa Kỳ ký
kết hiệp đến thương mại đối ứng. Theo thỏa thuận, Hoa Kỳ sẽ giảm thuế nhập khẩu đối với hàng
hóa của Indonesia từ 32% xuống còn 19% tại điều kiện thuận lợi hơn để hàng xuất khẩu của Indonesia
tiếp cận với thị trường của Mỹ. Đổi lại, Indonesia cam kết mở cửa sâu hơn sau nguồn vốn đầu tư
của Mỹ trong các lĩnh vực khoáng sản chiến lược như Nikken, Bauxit và đất hiếm, cho phép các doanh
nghiệp Mỹ tham gia sâu hơn vào khai thác tài nguyên, luyện kim và các mát xích hạ nguồn.
Ý nghĩa của thỏa thuận này vượt xa một cuộc đàm phán thương mại thông thường. Trong nhiều năm qua,
các doanh nghiệp Trung Quốc đã dựa vào nguồn vốn, thiết bị và công nghệ luyện kim để xây dựng vị
thề đáng kể trong ngành công nghiệp Nikken của Indonesia. Đồng thời, phát triển các khu công nghiệp như
Morowali thành những mát xích quan trọng của sáng kiếm vành đai vào con đường tại Đông Nam Á.
Tuy nhiên hiện nay, trong khi Indonesia cắt giảm hạn ngày khai thác của các doanh nghiệp Trung Quốc,
tăng thuế và các loại phí, siết chặt quy định, thề duyệt cũng như kiểm soát dòng vốn,
thì nước này cũng mở cửa các lĩnh vực khoáng sản chiến lược cho doanh nghiệp Mỹ. Điều đó đồng
nghĩa với việc Indonesia đã bắt đầu phân bổ lại quyền lực trong chuỗi cung mứng ngành khoáng sản.
Nói cách khác, Indonesia không còn muốn tiếp tục đặt toàn bộ chuỗi cung mứng Nikken của mình phụ
thuộc lâu dài vào Trung Quốc, thay vào đó nước này tìm cách cận dụng thị trường, nguồn vốn và sự
hậu thuẫn chính trị từ Mỹ nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào dòng vốn đầu tư của Trung Quốc.
Về phía Mỹ, lợi ích đạt được là bảo đảm nguồn cung khoáng sản chiến lược và mở rộng khả năng
tiếp cận chuỗi cung mứng của ngành công nghiệp năng lượng mới. Trong khi đó, Indonesia kỳ vọng sẽ nhận
được các hữu đái về thuế quan, nguồn vốn thay thế, cũng như là có thêm đòn bẩy để đối phó với
sức ép nếu như các doanh nghiệp Trung Quốc rút vốn. Đây là một sự trao đổi lễ sử các bên,
đồng thời cũng được xem là dấu hiệu cho thấy lập trường của Indonesia trong bối cảnh cạnh tranh
chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc đã nghiêng rõ rệt hơn về phía Washington. Cụ thể là,
các sự kiện nơi trên nhìn có vẻ như là độc lập, nhưng thực ra đều xoay quanh một trong những
khoản đầu tư lớn nhất của Trung Quốc tại Indonesia. Đó là dự án đầu tư của tập đoàn Thanh Sơn Chia
Giang và ngành khai thác Mỹ Cần và toàn bộ chuỗi công nghiệp liên quan tại Indonesia. Trọng tâm
của hệ sinh thái đầu tư này chính là khu công nghiệp Morowali, nằm tại tỉnh Trung Suwawesi của Indonesia.
Tập đoàn Thanh Sơn bắt đầu đầu tư vào Indonesia từ năm 2013, khi mà liên doanh với công ty
EVP Pintang Dilapan để phát triển dự án khai thác mỏ Nikon. Đến năm 2014, hai bên chính thức khởi
công xây dựng khu công nghiệp Morowali, đưa nơi đây trở thành khu công nghiệp lớn nhất khu vực miền
Đông Indonesia. Theo nhiều nguồn thống kê và tài liệu công khai với cách tính khác nhau,
tập đoàn Thanh Sơn cùng với các doanh nghiệp có vốn Trung Quốc khác có tổng vốn đầu tư tích lũy
tại khu công nghiệp này đã vừa 30 tỷ USD. Kiện này khu công nghiệp sử dụng hơn 80.000 lao động
do khu công nghiệp tuyển dụng một số lượng lớn lao động và nhân sự quản lý mang quốc tịch Trung Quốc,
nơi đây cũng trở thành tâm điểm của làn sóng bất bình trong nhiều tầng lớp xã hội Indonesia.
Trong giai đoạn năm 2014-2024, dưới thời Tổng thống Joko Windodo, nơi đây được xem là thời kỳ
hoàng kim của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Indonesia, với tập đoàn Thanh Sơn là một trong những
đại diện tiêu biểu, tuy nhiên tình hình đã thay đổi đáng kể sau khi ông Prabowo Subianto,
một chính trị gia xuất thân từ quân đội, lên nắm quyền Tổng thống.
Ông Prabowo từng có nhiều năm phục vụ trong lực lượng đặc nhiệm lục quân Indonesia và giữ
trước tư lệnh lực lượng này. Tháng 3 năm 1998, ông được bổ nhiệm làm tư lệnh Bộ Tư lệnh
Dự bị Chiến lược Lục quân. Cả lực lượng đặc nhiệm lục quân và Dự bị Chiến lược Lục quân đều
là những đơn vị lục quân tinh nhuệ, được trang bị hiện đại bậc nhất và đều từng do ông Prabowo
chỉ huy. Trong khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng đơn nhiệm, ông Sabraj Samsuddin từng là cấp phó của
ông Prabowo trong lực lượng đặc nhiệm, đồng thời cũng được xem là một trong những đồng minh chính trị
thân cận và quan trọng nhất của ông. Vậy vì sao ông Sabraj lại lựa chọn tổ chức của Diễn tập
Quân sự Liên hợp ngay tại khu vựa gần khu công nghiệp Morowali? Trên thực tế, là ông hoàn toàn có thể
chỉ cần trao đổi với các thành viên khác trong nội các, đặc biệt là các quan chức thuộc Bộ Giao
thông vật tải, để nắm rõ tình trạng pháp lý và mức độ tuân thủ quy định của sân bay trong khu công
nghiệp này. Thế nhưng thay vì phối hợp trong nổi bộ chính phủ, ông lại trực tiếp điều động quân đội.
Mục đích thực sự của động thái này là gì? Có thông tin cho biết, vào ngày 1 tháng 12 năm 2025,
Bộ trưởng Điều phối các vấn đề hàng hải và đầu tư Indonesia, ông Luut Binsa Badintan,
phát biểu với truyền thông rằng quy định phê duyệt việc xây dựng sân bay tại khu công nghiệp Morowali
được ông đưa ra sau một cuộc họp nội các vào khoảng năm 2018.
Trong giới doanh nghiệp Indonesia cũng lưu truyền nhiều thông tin cho rằng ông Luut có mối quan hệ gắn
bó với Bintang Delapan Group, một trong những tập đoàn khai thác mỏ lớn nhất của Indonesia.
Vì vậy, động thái của Siprite và lập trường của Tổng thống đương nghiệp Indonesia được một số ý kiến
nhìn nhận là bước khởi đầu cho việc chính thức tách khỏi những giảng buộc về lễ
sửa chính quyền tiền nhiệm vào Trung Quốc. Bên cạnh đó là vào tháng 9 năm 2025,
ông Siprite, Sam Sudin từng úp mở với truyền thông về khả năng Indonesia sẽ mua
tiêm kích dây 10 của Trung Quốc, tuy nhiên sau đó kế hoạch này đã bị gạt sang một bên.
Theo nhận định phổ biến của giới quan sát, Bộ Quốc phòng Indonesia thực tế là không hề có ý định
mua máy bay dây 10, mà việc đưa thông tin này ra công chúng, chủ yếu nằm gây sức ép với Pháp
để được giảm giá. Sau đó, Indonesia đã xác nhận mua máy bay chiến đấu Rafale của Pháp.
Tiếp đến vào ngày 3 tháng 6 năm 2026, truyền thông Indonesia đưa tin rằng ông Siprite đã chấp nhận
đề nghị của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về việc nâng cấp sân bay Kota Yachty thuộc tỉnh Java thành
trung tâm bảo dưỡng và sửa chữa khu vực Đông Nam Á dành cho máy bay vận tải C-130 Hercules của Mỹ.
Động thái này về thực chất là một hình thức gián tiếp mở đường cho sự hiển diện của lực lượng
không quân Hoa Kỳ tại Indonesia. Cuối cùng, các chuyên gia kết luận rằng, dưới trên hàng loạt diễn biến
nước trên, giai đoạn được xem là thời kỳ hoàng kim của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Indonesia đã
thực sự khép lại. Chính vì vậy, những thông tin lan truyền trên mạng cho rằng một doanh nghiệp Trung
Quốc đã tháo rỡ toàn bộ dây chuyên sản xuất và rút khỏi Indonesia, chỉ trong vòng 3 tuần mới tạo
nên phản ứng dữ dội đến như vậy. Động thái rút lui này không hẳn là một quyết định dừng lỗ,
chủ động và dứt khoát, mà đúng hơn là phản ứng mạnh mẽ sau khi mô hình lợi ích vốn tồn tại
trước đây không còn phát huy được tác dụng. Tuy nhiên, vấn đề là máy móc và thiết bị có thể được tháo rỡ mang
đi, nhưng tài nguyên khoáng sản thì không thể mang theo. Vì vậy, điều doanh nghiệp rút lui càng gấp gáp
lại càng phản ánh quyết tâm của chính phủ Indonesia trong việc siết chặt quyền kiểm soát tài nguyên đã
trở thành xu thế khó có thể đảo ngược. Indonesia dám chấp nhận sức ép từ việc các doanh nghiệp Trung
Quốc rời đi, còn bởi một yếu tố rất quan trọng khác là nguồn vốn từ Ấn Độ đang được tích cực chuẩn
bị tiết quản và chính phủ Indonesia cho rằng vốn đầu tư của Trung Quốc không phải là không thể thay thế.
Đầu năm 2026, Bộ Thép Ấn Độ đã tiến hành nhiều cuộc tiếp xúc với Bộ Năng lượng và Tài nguyên
khoáng sản Indonesia. Phiến độ đã bày tỏ mong muốn đầu tư vào các ngành công nghiệp,
chế biến, kim loại hạ nguồn tại Indonesia. Theo các quan chức Indonesia, nội dung thảo luận
giữa hai bên bao gồm các dự án luyện kim đối với thép, nhôm, đồng và nhiều kim loại khác,
đồng thời hai nước cũng dự kiến thiết lập cơ chế hợp tác lâu dài giữa chính phủ và doanh nghiệp.
Điều này cho thấy, theo bài viết, Ấn Độ không chỉ muốn nhập khẩu khoáng sản từ Indonesia,
mà còn muốn trực tiếp tham gia vào các khẩu chế biến ngay tại nước này. Bên cạnh đó,
Indonesia cũng đang chủ động đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư nước ngoài,
theo các tài liệu công khai đều bài viết dẫn lại, ngoài các doanh nghiệp của Trung Quốc và Indonesia.
Các nhà đầu tư tại khu công nghiệp Uedabai hiện có sự tham gia của nguồn vốn đến từ Pháp,
Australia, Ấn Độ và Hàn Quốc, đồng thời Indonesia cũng đang giới thiệu các dự án sản xuất
vật liệu tiền chất cho binh tới các doanh nghiệp Australia, cũng như là đàm phám với các
nhà đầu tư châu Âu về hợp tác trong toàn bộ chuỗi giá trị ngành Nikken, từ khai thác đến chế biến.
Điều này cho thấy chiến lược thực sự của Jakarta không phải là loại bỏ toàn bộ nguồn vốn đầu tư
nước ngoài, mà là giảm sự phụ thuộc quá lớn vào vốn đầu tư, công nghệ và các kênh tiêu
thủ thị trường của Trung Quốc. Điều đáng chú ý là Indonesia còn đang thúc đẩy sáng kiến hành
làng Nikken với Philippines nhằm kết hợp nguồn cung quảng Nikken thượng nguồn của Philippines
với năng lực luyện kim hiện có của Indonesia, vào đó hình thành một chữa cung bứng khu vực do các
quốc gia giàu tài nguyên ở Đông Nam Á, nằm giữ nhiều hơn quyền định giá và lợi ích từ ngành công
nghiệp Nikken. Hai bên đã đề ra mục tiêu thu hút đầu tư lên tới 4,7,36 tỷ USD, đồng thời đặt
kế hoạch tạo khoảng 180.000 Việt làm trước năm 2030. Indonesia và Philippines hiện lần lượt là
các quốc gia sản xuất quảng Nikken lớn nhất và lớn thứ hai thế giới, nếu như hai nước này có
thể tích hợp nguồn cung quảng, năng lực, luyện kim và hệ thống xuất khẩu. Cả hai sẽ có khả năng
hình thành một liên minh Nikken, khu vực với sức ảnh hưởng đáng kể đối với việc định giá trên thị trường.
Ở góp độ khu vực rộng lớn hơn, tác doanh nghiệp Trung Quốc rước vối một cách rầm rộ lần này không
coi là một sự kiện đơn lẻ, mà là biểu hiện của sư hướng ngày càng rõ đét khi mà các quốc gia
trong hiệp hội, các quốc gia Đông Nam Á, từng bước sản xuất phụ thuộc vào nguồn vốn, công nghệ và
thị trường của Trung Quốc. Mặc dù là cách tiếp cận của mỗi quốc gia có khác nhau, nhưng các chính sách đều
đang hướng tới những mục tiêu tương đồng, tăng thuế và các loại phí, gia soát các dự án đã được cấp
phép, giành lại quyền đểnh giá tài nguyên, thu các nguồn vốn thay thế, và từng bước giảm mức độ kiểm
soát của các doanh nghiệp Trung Quốc đối với tài nguyên chiến lược và hạ tầng trọng yếu. Các khu mỏ,
khu công nghiệp, cẳng biển và tuyến giao thông đang được xem xét vừa hay lại chính là những mắt xích
quan trọng trong Sáng kiến vành đai và con đường mà Trung Quốc đã đầu tư nguồn vốn rất lớn để xây dựng.
Bước sang năm 2026, Sáng kiến vành đai và con đường được xem là một dự án mở rộng ảnh hưởng ra
nước ngoài quan trọng nhất của Trung Quốc, đang được bước vào giai đoạn suy yếu và tăng giã với tốc
độ ngày càng nhanh. Cảm ơn quý vị và các bạn đã theo dõi chương trình của chúng tôi. Những góp ý của
quý vị sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện hơn mỗi ngày. Và các bạn cũng đừng quên theo dõi Khán Trung Quốc trên 2 nền tảng
Youtube và Kanchiwa. Như Ngọc và Khán Trung Quốc xin chân thành cảm ơn và hẹn gặp lại!
