Bạch Đằng 1288: Khảo Cổ Học Giải Mã Trận Địa Cọc Khổng Lồ Dưới Lòng Đất | Mật Sử

Đình Sự
537 người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis video provides a technical and archaeological analysis of the 1288 Battle of Bạch Đằng. By examining physical stake fields and geological shifts, it reconstructs how the Trần Dynasty weaponized tidal patterns and environmental geography to immobilize and defeat the superior Yuan-Mongol fleet, challenging traditional myths with scientific evidence.
Nó chỉ là một thân gỗ đã nằm dưới đất suốt nhiều thế kỷ.
Nhưng nếu nó thực sự thuộc về trận Bạch Đằng năm 1288,
thì nó có thể nói với chúng ta nhiều điều hơn cả một trang sử.
Và tại sao một chiến trường trên sông lại để lại những dấu tích nằm sâu dưới đồng ruộng và lòng đất liền?
Và những chiếc cọc ấy thực sự được bố trí như thế nào?
Chúng ta vẫn quen nghe về Bạch Đằng năm 1288 như một trận thủy chiến kinh điển.
Quân Trần dụ thủy quân nguyên mông vào sông,
đợi chiều rút rồi đánh tan đối phương trên các trận địa cọc.
Nhưng khi các nhà khảo cổ học bắt đầu đào sâu xuống lòng đất Quảng Ninh và Hải Phòng,
họ không tìm thấy một chiến trường nằm dưới đáy nước,
bằng chứng vật chất quan trọng nhất,
lại nằm bên dưới những cánh đồng lúa,
những khu dân cư và tầng đất phù sa cổ.
Nếu sử sách cho chúng ta biết chuyện gì đã xảy ra,
liệu những chiếc cọc có thể cho chúng ta biết chuyện đó đã được thực hiện như thế nào?
Nếu bỏ qua những diễn giải mang tính giả thuyết hay những câu chuyện truyền miệng hàng trăm năm qua,
chỉ tập trung vào những thân gỗ còn sót lại dưới lòng đất,
chúng ta có thể tái dựng lại Trận Bạch Đằng Năm 1288 đến đâu?
PHN 1, Chiếc Cóc Trong Lòng Đất, năm 1958.
Trong quá trình đào đắp một đập nước nhỏ tại khu vực đầm Yên Giang,
những người nông dân địa phương đã phát hiện ra hàng loạt đầu gỗ cắm dựng đứng
và cắm nghiêng sâu dưới tầng bùn đất.
Đó không phải là những mảnh gỗ mục ngẫu nhiên do lũ cuốn trôi.
Chúng là những thân cây lớn.
Đường kính từ 15-30cm, có chiếc đường kính lên tới 40cm.
Đầu trên của chúng đã bị gãy hoặc mục nát,
nhưng phần gốc cắm sâu vào lòng đất xét sám sẫm vẫn giữ nguyên hình dạng.
Một số chiếc cọc được đéo nhọn một đầu để cắm sâu xuống tầng đất cứng.
Sự kiện đó đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam.
Một bằng chứng vật chất trực tiếp được cho là liên quan đến Trận Thủy Chiến Bạch Đằng Năm 1288
bước ra khỏi những trang thư tịch cổ.
Trước năm 1958, hiểu biết của chúng ta về Trận Bạch Đằng hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào chữ viết.
Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sĩ Liên và các sử thần nhà Lê biên soạn vào thế kỷ 15
hay nguyên sử được biên soạn dưới thời minh chỉ dành những đoạn văn tương đối ngắn gọn để mô tả về sự kiện này.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại ngắn gọn rằng
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cho cắm cọc ở sông Bạch Đằng
để ngăn chặn và tiêu diệt hạm đội của Âu Mã Nhi và Phản Tiếp khi chúng rút lui ra biển.
Nhưng sử sách không ghi lại chi tiết cọc được cắm chính xác ở những đoạn sông nào, mật độ ra sao,
kỹ thuật cắm cọc được thực hiện như thế nào trong điều kiện nước chảy và chiều cường,
quy mô thực sự của trận địa là bao nhiêu.
Những dòng chữ ngắn gọn của sử quan thời xưa để lại một khoảng trống khổng lồ cho sự tưởng tượng của hậu thế.
Và trong suốt nhiều thập kỷ, sự tưởng tượng đó đã hình thành nên một hình ảnh quen thuộc trong tâm trí đại chúng.
Một con sông Bạch Đằng rộng lớn bị chặn ngang bởi một bức tường cọc khổng lồ,
nơi hạm đội giặc lao vào và bị đâm thủng hàng loạt khi nước chiều rút xuống.
Nhưng khi các nhà khảo cổ học bắt đầu mang cọc gỗ về phòng thí nghiệm,
đo đạt từng góc nghiêng, phân tích từng thớ gỗ và đo đạt niên đại,
một thực tế phức tạp hơn rất nhiều bắt đầu xuất hiện.
Chiếc cọc gỗ nằm trên bàn phân tích không phải là một vũ khí hoàn hảo như trong tranh vẽ dân gian.
Nó mang trên mình những dấu vết của sự tác động tự nhiên và con người,
những vết đéo bằng diêu sắc còn để lại ở phần đầu nhọn,
những thớ gỗ bị ép vỡ do lực cắm xuống từ trên cao,
dấu vết bào mòn của dòng chảy bồi đắp qua hàng thế kỷ.
Và quan trọng nhất, vị trí của nó nằm hoàn toàn ngoài lòng sông Bạch Đằng hiện đại.
Tại sao một trận đánh trên sông lại để lại cọc ở những nơi ngày nay là đất liền?
Liệu lòng sông thế kỷ 13 có nằm đúng vị trí của lòng sông ngày nay hay không?
Và nếu những chiếc cọc dưới lòng đất thực sự thuộc về năm 1288,
chúng là bằng chứng cho một trận địa phòng ngự chủ động,
hay là một phần của một chiến thuật phức tạp hơn nhiều mà thư tịch cổ đã không miêu tả hết?
Chúng ta bắt đầu hành trình đi tìm câu trả lời,
không phải từ những truyền thuyết hay bài ca chiến thắng,
mà từ chính dữ liệu cứng của lòng đất.
1. Dữ liệu khảo cổ đầu tiên tại Yên Giang 1958-1988.
Trận địa cọc Yên Giang, thuộc xã Yên Giang,
huyệt Yên Hưng nay là thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh,
là điểm khảo cổ đầu tiên được phát hiện và nghiên cứu hệ thống nhất.
Qua nhiều đợt khai quật vào các năm 1958, 1969, 1976 và 1984,
các nhà khảo cổ thuộc Viện Khảo Cổ học Việt Nam đã bóc tách hàng nghìn mét vuông đất sới,
phát hiện hàng trăm cọc gỗ còn nguyên cắm trong tầng đất xét cổ.
Nó chứng minh được gì? Vật liệu.
Các cọc tại Yên Giang chủ yếu được làm từ gỗ lim, xến, táu, táu mật,
mẻ những loại gỗ nhóm 1 và nhóm 2 có độ cứng cao,
chịu nước tốt, sẵn có ở vùng núi phía bắc hoặc khu vực lân cận.
Kích thước.
Đường kính cọc không đồng đều, trung bình từ 15cm đến 30cm.
Chiếc lớn nhất đạt 40cm.
Chiều dài còn lại của cọc giao động từ 1, 5m đến 3m.
Phần đầu trên đã bị mục gãy.
Độ sâu và địa tầng.
Cọc được cắm cắm sâu vào tầng đất xét sám sẫm chắc chắn.
Đầu nhọn của cọc hướng xuống dưới, được đéo vát từ 0, 5m đến 1m, hướng cắm.
Cọc không cắm thẳng đứng 90 độ hoàn toàn.
Nhiều cọc cắm nghiêng một góc từ 10 đến 15 độ, hoặc 20 đến 30 độ,
đa số nghiêng theo hướng xuôi dòng chảy hướng ra biển, xuôi hướng sông Chanh.
Nó không chứng minh được gì.
Yên Giang không chứng minh được rằng toàn bộ sông Bạch Đằng đều được cắm cọc.
7 cọc Yên Giang nằm bên bờ sông Chanh,
chứ không nằm trực diện trên lòng chính của sông Bạch Đằng hiện nay.
Phát hiện tại Yên Giang không chứng minh được số lượng cọc chính xác của toàn bộ chiến dịch.
Số cọc khai quật được chỉ đại diện cho khu vực được phát lộ,
không thể quy đổi ra con số hàng vạn chiếc như một số diễn giải phổ thông.
2. Sự xuất hiện của các bãi cọc tiếp theo.
Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa.
Sự nghi vấn về quy mô của trận địa cọc bắt đầu gia tăng khi vào các năm 2005 và 2009.
Các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện thêm hai bãi cọc mới nằm cách Yên Giang không xa.
Bãi cọc Đồng Vạn Muối phát hiện năm 2005, thuộc phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên.
Bãi cọc Đồng Má Ngựa phát hiện năm 2009, thuộc phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên.
Tại Đồng Vạn Muối, các hố khai quật ghi nhận cọc gỗ có kích thước nhỏ hơn so với Yên Giang.
Đường kính cọc phổ biến từ 7cm đến 15cm, cắm tương đối dày đặc.
Xen kẽ giữa các cọc lớn hơn, loại gỗ sử dụng ở đây đa dạng hơn,
bao gồm cả gỗ keo, gỗ đút và các loại cây thân gỗ địa phương ít cứng hơn lìm.
Tại Đồng Má Ngựa, cọc được tìm thấy trong một khu vực trụng cổ.
Các cọc ở đây có dấu vết được gia cố bằng các cọc nhỏ cắm chéo xung quanh để giữ vững chân cọc trong lớp bùn lầy lỏng lẻo.
Sự xuất hiện của Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa làm thay đổi nhận thức của giới nghiên cứu.
Trận địa cọc không phải là một giải đơn lẻ.
Nó là một hệ thống các điểm khống chế được đặt tại các cửa lạch, các khúc sông nông,
hoặc các lối rẽ chiến lược của hệ thống sông bạch đằng sông tranh.
3. Đặt ra câu hỏi trung tâm cho cuộc điều tra.
Khi nhìn vào 3 bãi cọc đã được phát hiện tại Quảng Yên, câu hỏi đặt ra không còn là
có cọc hay không, mà là
tại sao cọc lại xuất hiện ở sông tranh, chứ không phải ở lòng sông bạch đằng chính?
Độ sâu của cọc và mật độ cọc phản ánh một trận đánh được chuẩn bị trong bao lâu?
Nếu hạp đội Nguyên Mông sở hữu những con thuyền chiến lớn,
liệu những chiếc cọc đường kính 1520cm cắm dưới bùn có đủ sức đâm thủng hay giữ chân chúng?
Những chiếc cọc gỗ dưới lòng đất đã bắt đầu lên tiếng.
Nhưng để hiểu được ngôn ngữ của chúng,
chúng ta bắt buộc phải quay trở ngược thời gian về đầu năm 1288
thời điểm trước khi những thân gỗ này được cắm xuống bùn lầy.
Để hiểu tại sao những chiếc cọc gỗ lại nằm ở yên giang,
đồng vạn muối hay đồng má ngựa,
trước hết chúng ta phải xóa bỏ hoàn toàn hình ảnh địa hình hiện tại ra khỏi tư duy.
Sông Bạch Đẳng của thế kỷ 21 là một dòng sông đã bị con người quay đê,
lấn biển, đắp đập và bồi đắp bởi hàng triệu khối phù sa suốt hơn 700 năm.
Nhưng vào năm 1288, hạ lưu sông Bạch Đẳng là một không gian địa lý hoàn toàn khác,
một cửa sông hình phễu rộng lớn, ngập tràn các bãi lầy,
củ lao, đảo Mù Sương và vô số các nhánh sông cổ đan sen.
Nếu không tái dựng được bản đồ thủy văn thế kỷ 13,
chúng ta sẽ rơi vào cái bẫy lớn nhất của lịch sử phổ thông.
Đánh giá chiến trường của quá khứ bằng địa hình của hiện tại.
Bối cảnh chiến dịch đầu năm 1288, tình thế của hạ đội Nguyên.
Mong vào đầu năm 1288, cuộc kháng chiến chống quân Nguyên.
Mong lần thứ ba của Đại Việt bước vào giai đoạn quyết định.
Thăng Long đã trở thành một đô thị vườn không nhà chống.
Quân Nguyên dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan chiếm được một tòa thành chống rỗng,
không lương thực, không nguồn tiếp tế.
Mắt xích sống còn của toàn bộ chiến dịch xâm lược này
nằm ở đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy.
Khi đoàn thuyền lương bị đánh tan tại trận Vân Đồn, cửa luộc cuối năm 1287,
số phận của quân Nguyên tại Đại Việt coi như đã bị định đoạt,
thiếu lương thực nghiêm trọng.
Quân địch rơi vào nguy cơ suy kiệt và bị tiêu diệt hoàn toàn.
Thoát Hoan bắt buộc phải đưa ra quyết định chiến lược.
Rút quân.
Cuộc rút quân được chia làm hai mũi.
Mũi bộ binh.
Do Thoát Hoan chỉ huy.
Mũi thủy quân.
Do Âu Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy.
Rút theo đường sông Gia Biển để trở về Trung Hoa.
Hạm đội thủy quân của Âu Mã Nhi,
gồm hàng trăm chiến thuyền lớn nhỏ,
trở theo hàng vạn quân sĩ cùng toàn bộ trang bị trọng yếu.
Đối với quân Nguyên,
con đường thủy Gia Biển là lối thoát duy nhất để bảo toàn lực lượng
và con đường thủy ngắn nhất, thuận tiện nhất để đi từ vùng lục Đầu Giang.
Phả lại Gia Vịnh Bắc Bộ chính là hệ thống sông Bạch Đằng.
Sông Bạch Đằng là dòng chảy cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình trước khi đổ ra biển.
Vào thế kỷ 13, vùng cửa sông này mang những đặc điểm địa lý,
thủy văn cực kỳ đặc biệt, cửa sông rộng và biên độ thủy chiều khổng lồ.
Khác với hiện nay khi hệ thống đê điều đã thu hẹp lòng sông,
sông Bạch Đằng thời Nhà Trần là một cửa sông hình phễu.
Biên độ thủy chiều tại khu vực này thuộc loại lớn nhất Việt Nam,
giao động từ 3, 5 mét đến 4, 0 mét.
Khi chiều lên, nước biển dâng cao tràn ngập toàn bộ các bãi bồi,
biến hàng ngàn hecta đầm lầy, rừng ngập mặn thành một mặt nước rộng mênh mông.
Sâu vài mét, khi chiều rút, nước rút nhanh với vận tốc dòng chảy lớn,
làm lộ ra các giải cồn cát, bãi bùn lầy,
các lạch nước hẹp và lòng sông bị thu hẹp lại rõ rệt.
Sông Bạch Đằng không chảy thành một giải duy nhất.
Ở đoạn hạ lưu trước khi ra biển, sông phân nhánh và kết nối với hàng loạt con sông nhỏ hơn.
Sông Chanh, nhánh sông cổ quan trọng cắt ngang qua vùng Quảng Yên.
Sông Đá Bạc, nhánh sông từ phía Bắc Đổ xuống.
Sông Giá, nhánh sông chảy qua vùng Thủy Nguyên.
Hải Phòng hiện nay, sông rút, sông mơ,
các dòng chảy tự nhiên cắt qua các đảo và bãi bồi cổ.
Ở bờ phải thuộc Thủy Nguyên, Hải Phòng ngày nay là giải núi đá vôi tràng kênh hiểm trở với nhiều hang động,
thung lũng hẹp và vách đá dựng đứng bám sát lòng sông.
Đây là vị trí địa hình lý tưởng để bố trí lực lượng phục kích trên bờ,
quan sát toàn bộ sự chuyển động của tàu thuyền trên sông mà không bị phát hiện.
Nếu quân Nguyên rút lui theo đường thủy, họ bắt buộc phải đi qua cửa sông Bạch Đằng.
Nhưng đối với lực lượng nhà Trần, bài toán không chỉ đơn giản là chặn đường.
Thủy quân Nguyên mong sở hữu những chiến thuyền lớn,
sức trở cao và kinh nghiệm tác chiến trên biển phong phú từ các cuộc chiến đánh tống trước đó.
Ngược lại, thủy quân nhà Trần chủ yếu sử dụng các loại thuyền nhẹ,
linh hoạt, di chuyển nhanh trong vùng nước nông và canh rạch như thuyền đinh bọc đồng.
Thuyền nhẹ hai đầu nhọn.
Nếu giao chiến trực diện với hạm đội Nguyên trên một vùng nước sâu và rộng khi chiều đăng lên,
thủy quân nhà Trần sẽ gặp bất lợi lớn trước hỏa lực và kích thước thuyền địch.
Do đó, tư duy quân sự của Trần Quốc Tuấn và bộ chỉ huy nhà Trần
không tập trung vào việc tiêu diệt quân địch bằng sức mạnh cơ bắp thuần túy,
mà dựa trên việc thay đổi điều kiện tác chiến bằng cách lợi dụng quy luật tự nhiên.
Để làm được điều đó, họ cần một công cụ để chi phối hướng, di chuyển của thuyền địch.
Êch thuyền địch phải hoạt động trong không gian do mình lựa chọn,
cố định hoặc làm mất khả năng cơ động của các chiến thuyền lớn khi chiều rút.
Công cụ đó chính là những bãi cọc gỗ.
Nghiên cứu địa chất và địa mạo cổ tại vùng hạ liu sông Bạch Đằng của Viện Địa Chất và Viện Khảo Cổ Học
đã mang lại những phát hiện then chốt.
Các mẫu khoan địa chất tại Yên Giang, Đồng Vạn Muối và Đồng Má Ngựa cho thấy,
vào thế kỷ 13, lòng sông Chanh rộng hơn hiện nay nhiều lần
và kết nối trực tiếp với dòng chính sông Bạch Đằng thông qua một hệ thống lạch nước ngập chiều.
Vị trí của bãi cọc Yên Giang thời điểm đó không phải là đất liền hay ruộng đồng,
mà là một bãi bồi ngập chiều nằm ở ngã ba giao nhau giữa sông Chanh và sông Bạch Đằng Cổ.
Khi thủy chiều dâng cao nhất, mực nước tại bãi cọc Yên Giang có thể sâu từ 2, 5 đến 3, 5 mét,
hoàn toàn đủ để các chiến thuyền hạng chung và hạng lớn của quân nguyên lưu thông phía trên.
Nhưng khi thủy chiều rút xuống mức thấp nhất, mặt bãi bồi này nhô lên
hoặc chỉ còn rải nước nông từ 0, 5 đến 1, 0 mét để lộ ra toàn bộ rải cọc cắm ngầm bên dưới.
Nó cận minh Đư Sê-gơ-vô-nh.
Vị trí của các bãi cọc hoàn toàn phù hợp với chế độ thủy văn ngập chiều của thế kỷ 13.
Người thiết kế trận địa cọc sở hữu sự am hiểu,
tường tận đến kinh ngạc về chế độ dòng chảy, độ sâu mực nước và đặc điểm địa hình cổ của vùng cửa sông này.
Nó không xê hạng minh Đư Sê-gơ-vô-nh.
Dữ liệu địa mạo không chứng minh được toàn bộ sông Bạch Đằng thời kỳ đó đã bị cọc phong tỏa.
Sự phân bố cọc cho thấy đây là những trận địa chọn lọc được đặt tại các điểm nút thủy văn,
chứ không phải một công trình lấp sông quy mô toàn diện khi đối chiếu bản đồ địa hình cổ với các ghi chép lịch sử.
Một nghi vấn lớn xuất hiện.
Đại Việt Sử ký Toàn Thư chỉ viết vỏn vẹn vài dòng về việc chuẩn bị trận địa cọc.
Sư sách không miêu tả quá trình kháu sát địa hình,
không ghi chép về lực lượng lao động được huy động để chặt gỗ, đẽo cọc, vận chuyển và đóng cọc xuống sông,
làm thế nào hàng ngàn thân gỗ nặng hàng trăm kg có thể được đóng sâu vào lớp đất xét dưới lòng sông trong điều kiện dòng chảy xiết và chiều cường.
Quá trình này diễn ra trong bao lâu?
Với hệ thống trinh sát thủy quân dày dạn, tại sao lại không phát hiện ra một sự chuẩn bị quy mô như vậy ngay trước cửa sông?
Để tìm câu trả lời, chúng ta bắt buộc phải xem xét lại chính diễn biến của trận đánh được ghi lại trong thư tịch cổ,
đối chiếu nó với những dữ liệu thực địa của các đợt khai cuột khảo cổ.
Trước khi đi sâu hơn vào từng cọc vỗ dưới lòng đất, chúng ta bắt buộc phải xem xét tầng bằng chứng đầu tiên,
sự liệu chữ viết, lịch sử chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được ghi lại từ hai phía phản ánh hai góc nhìn hoàn toàn đối lập.
Một bên là các sự thần nhà Lê biên soạn lại sự liệu thời trần trong Đại Việt sử ký toàn thư,
và một bên là các sử quan nhà Minh tổng hợp tài liệu chiến trường của chính quân xâm lược trong nguyên sử.
Khi đặt hai nguồn sự liệu này cạnh nhau, chúng ta không chỉ thấy diễn biến của một trận đánh nghẹt thở,
mà còn thấy những điểm mù, những mâu thuẫn và những khoảng trống mà thư tịch cổ không thể trả lời.
Góc nhìn từ Đại Việt. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại điều gì?
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, thượng bản, quyển 5, diễn biến trận Bạch Đằng năm 1288 được mô tả tương đối cô đọng.
Tháng 3, ngày mồng tám tức ngày 9-4-1288, thủy quân Nguyên do ô mã nhi phản tiếp chỉ huy kéo đến sông Bạch Đằng.
Hưng đạo Vương đã cho cắm cọc ở sông Bạch Đằng trước, phủ cỏ lên trên.
Sử liệu Việt Nam ghi nhận các mốc sự kiện chính.
Trần Hưng đạo dự đoán quân Nguyên sẽ rút lui theo đường sông Bạch Đằng nên đã bố trí lực lượng phục kích và cho cắm cọc gỗ dưới lòng sông từ trước.
Khi hạm đội của ô mã nhi tiến vào sông Bạch Đằng, thủy quân nhà Trần chủ động ra nganh chiến rồi vỡ thua chạy.
Quân Nguyên thửa thắng đuổi theo, lọt vào khu vực phục kích.
Đúng lúc đó, nước chiều bắt đầu rút mạnh, thuyền chiến quân Nguyên bị mắc kẹt và phải cọc gỗ ngầm.
Không thể quay đầu hay cơ động, lực lượng nhà Trần từ hai bên bờ và các nhánh sông đổ ra đánh tạc ngang.
Dùng thuyền nhẹ vây hãm, phóng hỏa hãm tiêu diệt thuyền địch, tướng ô mã nhi bị bắt sống.
Phàn tiếp bị thương nhảy xuống nước bị bắt, hàng vạn quân Nguyên bị tiêu diệt hoặc chết đuối.
Góc nhìn từ phía bên kia, Nguyên Sử kể câu chuyện ra sao.
Nguyên Sử, biên niên kỷ ô mã nhi, phàn tiếp, tích lệ cơ, ghi lại sự kiện này với một thái độ chua chát nhưng để lại nhiều chi tiết quân sự vô cùng giá trị.
Ngày ất mão tháng 3, ô mã nhi, phàn tiếp dẫn thuyền tiến ra sông Bạch Đằng.
Quân giao, chỉ 7 thuyền chiến ngáng đường, ô mã nhi đánh bại chúng.
Đến chiều, nước chiều rút xuống, thuyền Nguyên xa lẩy, không thể chuyển động.
Quân giao, chỉ thừa cơ vây đánh, địch mở Teroenger K-hớp Zia-2 nguồn, S-li sợ u.
Trận đánh diễn ra vào đầu tháng 3 âm lịch năm 1288 khoảng ngày 9-4-1288.
Mực nước chiều rút xuống là bước ngoặt làm tê liệt toàn bộ hạm đội Nguyên, Mông.
Hạm đội Nguyên bị hủy diệt hoàn toàn.
Các tướng chỉ huy cao cấp nhất là ô mã nhi và phàn tiếp đều bị bắt.
Khi đối chiếu nghiêm ngặt giữa hai tầng bằng chứng chữ viết và hiện trường thực địa.
Giới nghiên cứu lịch sử, Khảo Cổ đã chỉ ra những chi tiết nghi vấn lớn.
A. Chi tiết phủ cỏ lên cọc.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng quân Trần cho cắm cọc phủ cỏ lên trên.
Trong một con sông rộng hàng trăm mét, có dòng chảy siết và biên độ thủy chiều lên xuống từ 3, 5 mét đến 4 mét.
Việc phủ cỏ lên đầu các cọc cắm ngầm dưới nước là điều gần như bất khả thi về mặt kỹ thuật.
Cỏ phủ sẽ bị dòng chảy chiều cường cuốn trôi ngay lập tức.
Chi tiết phủ cỏ nhiều khả năng là một hình dụng ngôn ngữ của các sự thần hậu thế nhằm nhấn mạnh yếu tố ngụy trang.
Hoặc chỉ việc ngụy trang các trướng ngại vật ở khu vực bãi lẩy nông ven bờ.
B. Thuyền chiến nguyên.
Mong bị đâm thủng hay bị chặn đường.
Chuyển thuyết dân gian và tranh vẽ lịch sử thường mô tả thuyền nguyên lao vào cọc gỗ và bị cọc đâm thủng đáy, chìm tại chỗ.
Nguyên sử không dùng từ bị đâm thủng đáy mà dùng các thuật ngữ như thuyền sa lầy thuyền sa vào bùn lầy, thuyền mắc kẹt không quay chuyển được.
Cọc gỗ với đường kính từ 15-20 cm đầu đéo nhọn cắm dưới lớp bùn nhô lên.
Khi nước rút, chức năng chính của chúng không phải là một chiếc mũi giáo khổng lồ đâm thủng vò tàu,
mà là tạo ra một rào cản vật lý ngăn không cho thuyền lớn rút ra giải nước sâu,
giữ cố định thuyền địch trên các bãi bùi bùn lầy để lực lượng trên bờ, và thuyền nhẹ sông vào tiêu diệt.
C. Thời gian đóng cọc.
Một giả định phổ biến trong đại chúng là
Trần Hưng Đạo đã cho quân đóng cọc bí mật chỉ trong một đêm trước trận đánh.
Đại Việt sử ký toàn thư chỉ viết đã cho cắm cọc ở sông Bạch đằng trước,
hoàn toàn không ghi con số một đêm hay thời gian cụ thể.
Việc chặt hàng ngàn cây gỗ lớn, vận chuyển từ rừng xuống sông,
đéo nhọn, đo đạc tọa độ dòng chảy và cắm sâu vài mét xuống tầng đất sét cổ dưới lòng nước là một chiến dịch vận tải khổng lồ.
Nó đòi hỏi thời gian chuẩn bị hàng tuần, thậm chí hàng tháng,
với sự tham gia của hàng vạn dân binh và quân sĩ, bàn cờ chiến thuật từ sự liệu.
Điều gì vẫn chưa rõ, sự sách cho chúng ta biết khung xương của sự kiện.
Có trận đánh, có thủy triều, có cọc và có chiến thắng.
Nhưng sự sách hoàn toàn không cho chúng ta biết bức tranh toàn cảnh của chiến trường.
Câu hỏi 1. Quân Trần đã dụ hạm đội Nguyên từ đâu đến đâu?
Khoảng cách đuổi theo là bao nhiêu km?
Câu hỏi 2. Hạm đội Nguyên có hàng trăm chiến thuyền lớn nhỏ.
Nếu chỉ cắm cọc ở một khúc sông, làm sao có thể giữ chân toàn bộ hạm đội kéo dài hàng km trên mặt nước?
Câu hỏi 3. Tại sao ô mã nhi một tướng thủy quân lão luyệt đã trinh chiến nhiều năm lại dễ dàng mắc bẫy thủy triều đến như vậy?
Phải chăng hạm đội Nguyên đã bị dồn ép vào một luồng lách bị chế ngự mà họ không còn lựa chọn nào khác?
Để giải mã những câu hỏi này, chúng ta không thể tiếp tục lật lại những trang sách cũ.
Chúng ta phải bước ra thực địa, nơi các nhà khảo cổ học cầm sẻng đào sâu xuống lòng đất để đối thoại với chính những cọc gỗ còn sót lại.
Ph. n. 4. Khi KHAO cổ HC đào xu âng ơ, nếu sự liệu cho chúng ta bộ khung khái niệm,
thì khảo cổ học chính là thước đo bằng chứng vật chất để không rơi vào những suy đoán viễn tưởng.
Chúng ta bắt buộc phải xem xét từng địa điểm khai quật như một hồ sơ pháp y hiện trường.
Tính đến nay, hệ thống các bãi cọc liên quan đến chiến dịch Bạch Đằng năm 1288 được phát hiện
và nghiên cứu chủ yếu tập trung tại hai khu vực địa lý – Quảng Yên, Quảng Ninh và Thủy Nguyên – Hải Phòng.
Mặc dù thường được truyền thông gộc trung thành trận địa cọc Bạch Đằng,
nhưng từng bãi cọc lại mang những đặc điểm kỹ thuật, quy mô và hiện trạng địa tầng riêng biệt.
1. Bãi cọc Yên Giang, Quảng Yên, Quảng Ninh – điểm khởi đầu của hồ sơ,
phát hiện lần đầu năm 1958 và trải qua các đợt khai quật lớn vào các năm 1969, 1976, 1984.
Yên Giang là bãi cọc được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất trong lịch sử khảo cổ học Việt Nam.
Vị trí
Tả ngạn Sông Chanh
Thuộc phường Yên Giang
Thị xã Quảng Yên
Quy mô khai quật
Qua nhiều đợt bóc bóc bãi, diện tích khai quật đạt hàng ngàn mét vuông,
ghi nhận hàng trăm cọc gỗ còn nguyên gốc, đặc điểm cọc.
Đường kính
Phổ biến từ 20cm đến 30cm
Chiếc lớn nhất đạt 40cm
Chiều dài còn lại
Từ 1, 5m đến 2, 8m
Phần đầu trên bị gãy mục do vi sinh vật và sói mòn khi lộ trên mặt nước cổ
Phần gốc còn nguyên vẹn nhờ nằm hoàn toàn trong tầng đất xét yếm khí
Loại gỗ
Phân tích thớ gỗ cho thấy hầu hết là gỗ nhóm 1 và 2 có khả năng chống chọi nước mặn cao
Lim
Táo
Xến
Mè
Phần gốc cọc được đéo nhọn một đầu
Vết đéo vát dài từ 0, 5m đến 1m
Còn nguyên vết gọt của diểu sắc
Cách bố trí
Cọc không phân bố theo hàng lối thẳng tắp
Chúng cắm thành từng dải
Mật độ trung bình từ 1 đến 3 cọc trên 1m vuông
Góc nghiêng
Nhiều cọc cắm nghiêng từ 10 độ đến 25 độ theo hướng xuôi dòng sông Chanh đổ ra sông Bạch Đẳng
Nó xê hẳng minh đức xê gờ gùn
Yên Giang chứng minh sự tồn tại của một trận địa chứng ngại vật quy mô lớn
Sử dụng loại gỗ có độ bền cực cao
Được gia công chủ động và cắm sâu xuống tầng đất xét chắc
Nó không khứng minh đức xê gờ dủ
Mật độ cọc tại Yên Giang không chứng minh được sự tồn tại của một bức tường cọc khép kín chặn ngang sông
Mật độ này đủ để gây cản trở và làm mắc kẹt thuyền
Chứ không đủ để tạo ra một hàng rào kín đặc
2. Bãi cọc đồng vạn muối và đồng má ngựa mở rộng không gian Quảng Yên
Năm 2005 và 2009
Sự phát hiện của 2 bãi cọc tiếp theo tại phường Nam Hòa, thị xã Quảng Yên
Đã bác bỏ giả thuyết cho rằng Yên Giang là điểm cắm cọc duy nhất
A. Bãi cọc đồng vạn muối 2005
Vị trí
Nằm bên hữu ngạn sông Chanh, cách bãi cọc Yên Giang khoảng vài km về phía đông nam
Đặc điểm
Hàng chục cọc gỗ được phát hiện ở độ sâu từ 1, 2m đến 1, 8m dưới mặt đất hiện tại
Khác biệt kỹ thuật
Cọc tại đồng vạn muối có kích thước nhỏ hơn Yên Giang
Đường kính phổ biến từ 7cm đến 20cm
Loại gỗ được sử dụng đa dạng hơn
Bao gồm cả gỗ keo, gỗ đút, gỗ tạp địa phương
Cọc được cắm dày đặc hơn
Xen kẽ cọc lớn và cọc nhỏ
Bãi cọc đồng má ngựa 2009
Vị trí
Nằm gần đồng vạn muối
Trên một dài trũng cổ
Đặc điểm
Phát hiện hơn 30 cọc gỗ
Đáng chú ý
Tại đây ghi nhận kỹ thuật chèn chân cọc
Do lớp bùn cổ ở khu vực này lỏng lẻo
Người xưa đã cắm các cọc phụ nhỏ chéo chân để giữ chặt gốc cọc chính
3
Bãi cọc cao quỷ
Thủy Nguyên, Hải Phòng 2019
Phát hiện làm dung chuyển giả định
Năm 2019
Việc phát hiện bãi cọc cao quỷ tại xã Lai Xuân
Huyện Thủy Nguyên
Thành phố Hải Phòng nằm ở bờ phải sông Đá Bạc
Đã mở ra một chương hoàn toàn mới cho hồ sơ khảo cổ Bạch Đằng
Vị trí
Nằm ven sông Đá Bạc
Còn sông Hợp Lưu với sông Giá
Để chảy vào sông Bạch Đằng
Vị trí này cách cụm bãi cọc quảng yên hàng chục km về phía Thượng Lưu
Tây Bắc
Quy mô
Khai quật trên diện tích gần 1m2
Phát hiện 27 cọc gỗ nằm trong địa tầng đầm lầy cổ
Đặc điểm kỹ thuật
Cọc tại cao quỷ có kích thước cực lớn
Đường kính từ 20cm đến 50cm
Có cọc đường kính lên tới 80cm
Chất liệu gỗ gồm gỗ sến mủ, sến mật, lim, xoay
Cọc được cắm đứng và cắm nghiêng
Dưới chân cọc có các màng gỗ sẻ
Cành cây và đất xét nén chặt để ra cố gốc
Sự xuất hiện của cao quỷ đặt ra một bài toán chưa từng có
Tại sao cọc gỗ lại xuất hiện ở tận sông Đá Bạc?
Cách bãi cọc Yên Giang tới hơn 10km
Để kiểm chứng xem những chiếc cọc tại Yên Giang
Đồng vạn muối và cao quỷ
Có thực sự thuộc về trận bạch đằng 1288 hay không
Các nhà khoa học đã đưa các mẫu gỗ
Đến các trung tâm phân tích niên đại
Bằng phương pháp carbon phóng xạ C14 trong và ngoài nước
Các kết quả phân tích C14 công bố qua các thời kỳ cho thấy
Mẫu cọc Yên Giang cho niên đại tuyệt đối nằm trong khoảng
Từ 1260 đến 1290 thế kỷ 13
Mẫu cọc đồng vạn muối
Cho niên đại trong khoảng thế kỷ 13, 14
Mẫu cọc cao quỷ
Phân tích C14 tại viện khảo cổ học
Và phòng thí nghiệm tại Úc, Nhật Bản
Cho kết quả khoảng thế kỷ 13
14 trùng hợp với niên đại thời nhà Trần
Nó chứng minh được
Các thân cây này được chặt hạ và cắm xuống đất
Trong cùng một khoảng kỷ nguyên lịch sử khoảng thế kỷ 13
Điều này loại bỏ hoàn toàn giả thuyết
Cho rằng đây là cọc kẻ đê của thời Nguyễn hay thời hiện đại
Nó không chứng minh được
Phương pháp C14 không thể xác định chính xác một ngày
Một tháng hay đúng năm 1288
Khoảng sai số của C14 luôn giao động vài chục năm
Vì vậy kết quả C14 nói rằng
Niên đại của cọc hoàn toàn phù hợp
Với thời điểm diễn ra chiến dịch năm 1288
Chứ không thể khẳng định cọc này
Chắc chắn được đóng đúng ngày 9
4.1288
Khi đặt dữ liệu khảo cổ
Của tất cả các bãi cọc lên cùng một mặt phẳng
Những giả định cũ bắt đầu dạn nứt
Nếu các bãi cọc giải rác từ Thủy Nguyên
Hải Phòng sang tới Quảng Yên, Quảng Ninh
Phải trăng trận đánh không chỉ diễn ra
Tại một khúc sông duy nhất
Sự khác biệt về đường kính cọc
Từ 7cm đến 80cm
Và loại gỗ giữa các khu vực
Phản ánh điều gì về chiến thuật
Và khả năng huy động tài nguyên của nhà Trần
Và quan trọng nhất
Những đặc điểm vật lý của cọc gỗ
Cho chúng ta biết gì về cơ chế hoạt động thực sự
Của trận địa này khi hạm đội Nguyên
Mông tiến vào để giải mã cơ chế đó
Chúng ta phải chuyển sang phần 5
Phân tích kỹ thuật
Và dấu vết của những chiếc cọc
Phần 5
Những chiếc cọc nói gì
Khi bóc tách những lớp đất xét bảo tồn
Các nhà khảo cổ và chuyên gia quân sự
Không chỉ thu thập những khối gỗ vô hồn
Bằng cách phân tích dấu vết cơ học
Góc cắm, mật độ và đặc tính vật liệu
Của từng chiếc cọc
Chúng ta có thể phục dựng lại tư duy thiết kế
Của những người đã trực tiếp cắm chúng xuống dòng sông
Hơn 700 năm trước
Những chiếc cọc dưới lòng đất
Không nói bằng từ ngữ
Chúng nói bằng ngôn ngữ của kỹ thuật, lực học và chiến thuật
1. Góc cắm nghiêng xuôi dòng
Lời dạy cho cơ chế tác chiến
Một trong những phát hiện kỹ thuật
Quan trọng nhất tại bãi cọc Yên Giang
Và Đồng Vạn Múi là góc nghiêng của cọc
Nhiều cọc không được đóng thẳng đứng 90 độ
So với mặt đất cổ
Mà cắm nghiêng một góc từ 10 độ đến 30 độ
Với đầu cọc hướng xuôi theo dòng chảy
Tại sao lại là cắm nghiêng xuôi dòng?
Lý do lực học
Nếu cắm thẳng đứng hoặc cắm ngược dòng nước
Lực cản của dòng chiều rút chảy xiết
Sẽ liên tục tác động vào thân cọc
Làm rung lắc và nới lỏng chân cọc trong tầng bùn lầy
Khiến cọc dễ bị sô nghiêng
Hoặc quật ngã trước khi tàu địch tới
Cắm nghiêng xuôi dòng
Giúp thân cọc nương theo dòng chảy
Giảm tối đa lực cản của nước
Cơ chế bẫy thuyền khi chiều rút
Khi nước chiều dâng cao
Các chiến thuyền của quân nguyên
Với mớ nước sâu di chuyển xuôi dòng ra biển
Đầu cọc cắm nghiêng xuôi dòng
Nằm ẩn sâu dưới mực nước
Không cản trở thuyền đi qua
Nhưng khi thuyền địch tiến vào khu vực bãi bổi
Và nước chiều bắt đầu rút nhanh
Đáy thuyền hạ thấp xuống
Thân thuyền đang trôi xuôi dòng
Sẽ bị trượt đè lên phần đầu cọc nghiêng
Lực đòn bẩy và mắc kẹt
Lực trôi của con thuyền hàng chục tấn kết hợp
Với lực rút của dòng nước
Nước sẽ đẩy đáy thuyền cắm chặt vào đầu cọc
Chiếc cọc cắm nghiêng đóng vai trò như một nêm cố định
Thuyền càng trôi tới
Đáy thuyền càng bị nâng nâng
Hoặc cắm chặt vào dài cọc
Khiến thuyền không thể di chuyển tiếp
Cũng không thể lùi hay quay đầu
Nó khợng minh được cgv
Trận địa cọc được thiết kế mang tính chủ động hoàn toàn
Người dựng trận địa đã tính toán chính xác
Hướng di chuyển của thuyền địch
Xuôi dòng ra biển
Và hướng chảy của thủy chiều để đặt bẫy
Nó không khẳng minh được cgv
Góc nghiêng của cọc không chứng minh được
Rằng cọc sẽ đâm thủng vỡ hoàn toàn đáy tất cả các thuyền
Khả năng cao nhất
Là nó làm vỡ một phần vỏ gỗ
Hoặc quan trọng hơn
Là làm dính chặt hạm đội địch trên bãi lầy
Biến chúng thành những mục tiêu cố định
Nghệ thuật quân sự của nhà Trần
Không chỉ nằm ở tư tưởng chiến lược
Mà còn ở khả năng quản trị tài nguyên dưới áp lực thời gian
Khi phân tích hàng trăm mẫu gỗ
Các nhà khoa học nhận thấy một sự phân hóa
Cực kỳ rõ rệt về chất liệu
Nhóm gỗ tứ thiết
Lim, táo, sến
Phân bố
Tập trung ở các vị trí luồng lách chính
Vùng nước sâu như yên giang hay các cọc chủ lực
Tại cao quỷ
Đặc tính
Tì trọng lớn
Nặng hơn nước thả xuống nước là chìm
Độ cứng cao
Chịu lực uống gáy cực tốt
Và không bị mối mọt hay nước mặn phá hủy
Trong thời gian ngắn
Vai trò
Làm cọc chủ chịu lực chính
Đóng vai trò khung xương cho toàn bộ trận địa chứng ngại vật
Nhóm gỗ địa phương và gỗ tạp
Kiều, đút, xoay, cảnh cây
Phân bố
Mật độ dày đặc tại các bãi nông như đồng vạn muối
Đồng má ngựa hoặc làm cọc phụ trèn quanh cọc chính
Đặc tính
Gỗ mềm hơn, đường kính nhỏ 7cm
15cm
Dễ khai thác tại chỗ ở các vùng đồi ven sông
Vai trò
Tạo mật độ dày đặc
Lấp đầy các khoảng trống giữa các cọc lớn
Ngăn không cho các thuyền nhẹ
Hoặc xuồng nhỏ của địch luồn lách qua kẽ hở
Sự kết hợp này cho thấy
Quân dân nhà Trần không lãng phí thời gian
Để đéo toàn bộ hàng ngàn chiếc cọc bằng gỗ liêm cứng
Họ dùng gỗ cứng đúng nơi cần chịu lực
Và dùng gỗ mềm địa phương
Để phủ kín không gian
Đây là minh chứng cho một kế hoạch thi công vô cùng khoa học
Và thực dụng
Khi quan sát phần gốc của những chiếc cọc
Còn cắm sâu dưới lớp đất xét yếm khí
Các vẹt đéo đục vẫn còn tươi nguyên
Như vừa mới được thực hiện
Các vẹt đéo vát có chiều dài
Từ 50cm đến 100cm
Tạo thành hình chóp nhọn nhiều cạnh ở phần gốc
Độ nông sâu của các vẹt đéo
Cho thấy người xưa đã sử dụng diều sắt lưỡi
Rộng loại công cụ phổ biến của người Đại Việt thời Trần
Một số cọc lớn tại bãi cọc cao quỳ
Còn ghi nhận vết lõm tròn
Các nhà nghiên cứu đặt giả thuyết
Rằng đây là vị trí để buộc dây thừng
Giúp quân lính kéo ra cố cọc
Hoặc dùng lực kéo của thuyền
Để dìm đóng cọc sâu xuống lòng sông
Trong điều kiện nước ngập
Một câu hỏi cơ học quan trọng
Làm thế nào những chiếc cọc có thể đứng vững
Khi bị một chiến thuyền nặng hàng chục tấn đâm vào
Mà không bị sô ngã hay nhổ gốc
Lời giải nằm ở địa tầng đầm lầy cổ
Các đợt khoan địa tầng ghi nhận
Lớp trên cùng
Lớp phù sa bồi đắp hiện đại dày 1m
2m
Lớp giữa
Lớp bùn lầy nhão cổ đại thời nhà Trần dày khoảng 0
5m
1m
Đây là lớp nước ngập chiều nơi thuyền di chuyển
Lớp đáy
Lớp đất xét dẻo sám sẫm cổ đại
Người xưa không cắm cọc lơ lửng trong bùn nhão
Họ đéo nhọn đầu cọc
Và dùng sức người hoặc búa gỗ đập mạnh
Để cắm sâu phần gốc cọc vượt qua lớp bùn lầy
Đâm sâu từ 0, 8m đến 1, 5m vào lớp đất xét dẻo
Lớp đất xét này có độ kết dính cực cao
Và yếm khí
Khi đầu nhọn cọc đâm sâu vào
Đất xét ôm chặt lấy gốc cọc như một khối bê tông tự nhiên
Khi chiến thuyền địch va vào phần thân cọc phía trên
Chính lớp đất xét kiên cố này
Đã giữ vững chân cọc
Biến chiếc cọc thành một điểm tựa tĩnh vững
Chắc chống lại động năng của con thuyền đang trôi
Dữ liệu kỹ thuật từ từng chiếc cọc
Đã vẽ nên một bức tranh hoàn toàn khác biệt
So với những hình dung đơn giản trước đây
Trận địa cọc không phải là một công trình ngẫu nhiên
Hay chắp vá
Nó được tính toán kỹ lưỡng về lực học dòng chảy
Đặc tính vật liệu, địa tầng đáy sông
Và chế độ thủy triều
Nhưng từng chiếc cọc
Hay từng bãi cọc riêng lẻ tại Yên Giang hay Cao Quỳ
Vẫn chỉ là những mảnh ghép rời rạc
Làm thế nào những bãi cọc nằm cách nhau
Hàng km này kết nối với nhau
Để tạo thành một cái bẫy quy mô toàn chiến dịch
Chúng ta phải bước sang bài toán khó nhất
Của toàn bộ cuộc điều tra
Bài toán khó nhất
Chúng được đặt ở đâu và để làm gì
Khi đặt tất cả dữ liệu khảo cổ và địa mạo lên
Cùng một mặt phẳng
Chúng ta bước vào trái tim của toàn bộ cuộc điều tra
Đây là nơi các nhà nghiên cứu lịch sử
Và khảo cổ học
Phải đối mặt với bài toán phức tạp nhất
Làm thế nào để kết nối các điểm cọc riêng lẻ
Thành một mô hình tác chiến tổng thể
Một hình dung phổ biến trong tâm trí nhiều thế hệ là
Quân nhà Trần đã cắm một hàng rào cọc khổng lồ
Chặn ngang lòng sông Bạch Đằng
Khóa chặt cửa biển
Và tiêu diệt toàn bộ hạm đội địch tại một điểm
Nhưng dữ liệu thực địa và lòng sông Cổ
Lại kể một câu chuyện hoàn toàn khác
Nếu nhìn vào khoảng cách địa lý thực tế
Giữa các bãi cọc đã được khai quật
Cụm bãi cọc Quảng Yên, Yên Giang
Đồng Vạn Muối, Đồng Má Ngựa
Nằm ở khu vực sông Chanh
Bãi cọc Cao Quỳ, Thủy Nguyên, Hải Phòng
Nằm ở bờ sông Đá Bạc
Cách cụm Quảng Yên tới hơn 10 đến 15 km
Về phía Thượng Lưu
Sự tranh lệch về không gian này
Lập tức bác bỏ giả thuyết về một bức tường cọc đơn lẻ
Không một lực lượng quân sự nào
Vào thế kỷ 13 có đủ tài nguyên
Gỗ và thời gian để cắm cọc phủ
Kín toàn bộ hàng chục km lòng sông Bạch Đằng
Và các nhánh sông từ Hải Phòng sang Quảng Ninh
Vậy, người xưa đã bố trí
Các bãi cọc ở đâu và nhằm mục đích gì?
Trong giới nghiên cứu lịch sử
Và khảo cổ học Việt Nam
Đã có nhiều mô hình diễn giải được đưa ra
Để giải thích cách thức hoạt động
Hệ thống trận địa cọc
Chúng ta sẽ phân tích từng giả thuyết
Dựa trên bằng chứng vật chất và logic quân sự
Giả thuyết A
Mô hình bức tường phong tỏa trực diện
Trận địa cọc được dựa lên
Như một hàng rào chặn ngang các con sông chính
Sông Chanh, sông Bạch Đằng
Nhằm ngăn không cho thuyền chiến nguyên
Mong thoát ra biển
Buộc chúng phải dừng lại hoàn toàn để lực lượng Đại Việt tấn công
Mật độ cọc dày đặc tại Yên Giang và Đồng Vạn Múi
Cho thấy một sự tập trung
Lực lượng chứa ngại vật lớn
Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận
Quân Trần cắm cọc để ngăn chặn thuyền địch rút lui
Sông Bạch Đằng cổ tại lòng chính
Rất rộng hàng nghìn mét và sâu
Việc cắm cọc phong tỏa toàn bộ lòng chính
Sông Bạch Đằng là không khả thi
Về mặt kỹ thuật thời bấy giờ
Các bãi cọc Yên Giang hay Đồng Vạn Múi
Nằm ở sông Chanh một nhánh sông
Chứ không nằm trực diện ngang qua lòng chính sông Bạch Đằng hiện đại
Đáng giá
Chưa đủ cơ sở cho toàn bộ chiến trường
Mô hình này chỉ đúng cuộc bộ
Ở các luồng sông phụ hoặc cửa lạch hẹp
Giả thuyết B
Mô hình hệ thống nêm chắn và ép luồng
Nội dung giả thuyết
Các bãi cọc không nhằm mục đích lấp kín lòng sông
Mà được cắm ở các điểm nút thủy văn yếu yếu cửa lạch
Bãi bồi nông
Khúc ngoặt để thu hẹp luồng lách di chuyển
Cọc đóng vai trò như những bức tường định hướng
Ép hạm đội công cành của quân nguyên
Phải đi vào những luồng nước hẹp
Nông do quân Trần đã lựa chọn sẵn
Dữ liệu địa mạo cho thấy bãi cọc yên giang
Và đồng vạn muối nằm ở rìa bãi bồi cổ ngập chiều
Khi chiều dâng
Thuyền địch bị dụ hoặc bị dồn lái đi hướng về phía bãi bồi
Khi chiều rút
Bãi bồi lộ ra là mắc kẹt thuyền
Góc cắm nghiêng xui dòng của cọc rút thuyền đi vào dễ dàng
Khi nước dâng
Nhưng không thể lùi hay thoát ra khi nước rút
Giải thích được sự xuất hiện của các cọc kích thước nhỏ
7cm
15cm
Ở đồng vạn muối
Làm nhiệm vụ bịt kín các luồng rách nhỏ
Đòi hỏi sự phối hợp cực kỳ chính xác
Giữa lực lượng thủy quân dụ địch trên sông
Và thời điểm thủy chiều bắt đầu rút
Nếu quân nguyên không bị ép vào đúng luồng
Bãi cọc sẽ mất tác dụng
Đáng di á
Mạnh và có tính thuyết phục cao
Phù hợp với cả dữ liệu khảo cổ lẫn tư duy quân sự
Lấy yếu chống mạnh của nhà Trần
Giả thuyết C
Mô hình chiến trường nhiều nấc tập kích
Trận Bạch Đằng năm 1288
Không phải là một trận đánh tại một điểm duy nhất
Mà là một chuỗi các trận phục kích
Liên hoàn kéo dài từ khu vực Thủy Nguyên
Hải phòng dọc theo sông Đá Bạc
Sông Giá xuống đến sông Chanh
Và cửa biển Bạch Đằng, Quảng Ninh
Sự phát hiện của bãi cọc cao quỳ
Thủy Nguyên bên sông Đá Bạc
Cho thấy có sự chuẩn bị chứng ngại vật
Ở tận thượng lưu chiến trường
Giúp giải thích tại sao nguyên sử ghi nhận hạm đội
Ô Mã Nhi đã phải giao chiến liên tục
Bãi cọc cao quỳ có thể là nấc chặn
Tiêu hào đầu tiên
Tiêu diệt một phần hạm đội
Hoặc chia các đội hình địch
Trước khi hạm đội chính của chúng bị dồn xuống khu vực Yên Giang
Sông Chanh
Chưa có đủ bằng chứng khảo cổ trực tiếp
Để nối liền mối quan hệ niên đại tuyệt đối
Giữa bãi cọc cao quỳ và cụ bãi cọc Quảng Yên
Trong cùng một giờ hay một ngày tác chiến
Đáng giá, có khả năng cao
Mở ra một góc nhìn hoàn toàn mới
Về quy mô chiến trường
Để giữ đúng tinh thần điều tra nghiêm ngặt của MTSC
Chúng ta phân loại các nhận định
Về chức năng bãi cọc theo cấp độ bằng chứng
Từ việc phân tích các giả thuyết
Một sự thật quan trọng xuất hiện
Những chiếc cọc gỗ không tự mình đánh thắng quân nguyên
Mong
Cọc gỗ dưới lòng đất chỉ là một phần
Của một hệ thống tác chiến phức tạp kết hợp giữa
Địa hình tự nhiên
Bãi bồi
Củ lao và giải núi đá vôi trảng canh
Quy luật thủy văn
Biên độ thủy triều dâng rút khổng lồ
Của cửa sông phễu
Lực lượng con người
Thủy quân nhẹ cơ động
Các đội quân phục kích trên bờ
Hỏa hạm thuyền lửa
Và đòn đánh tạc ngang khi thuyền địch đã bị cố định trên bãi lầy
Những chiếc cọc đóng vai trò như một chất xúc tác cơ học
Chúng thức đi lợi thế lớn nhất của hạm đội nguyên
Mong sức mạnh của những con thuyền chiến lớn
Trên vùng nước sâu
Và buộc họ phải chiến đấu
Nhưng cuộc điều tra của chúng ta chưa dừng lại ở đó
Năm 2019
Phát hiện tại Cao Quỳ
Đã dội một gáo nước lạnh vào những cuốn sách lịch sử đã in
Nó buộc các nhà khoa học
Phải đặt câu hỏi
Liệu chúng ta có đang phải viết lại toàn bộ quy mô
Của chiến dịch Bạch Đằng 1288
PHM7
Cao Quỳ và câu
CHUQN có thơ HM
PHẢI viết lại
Trong suốt hơn nửa thế kỷ
Từ năm 1958
Đến năm 2019
Mọi sách giáo khoa, công trình nghiên cứu
Và tài liệu phổ thông đều đóng
Khung chiến trường Bạch Đằng năm 1288
Quanh cụ bãi cọc Quảng Yên
Quảng Ninh
Trong tâm trí của nhiều thế hệ
Bạch Đằng 1288 là câu chuyện
Của sông Chanh và vùng đất tả ngạn
Nhưng vào cuối năm 2019
Và đầu năm 2020
Những mũi sàn khảo cổ tại
Xã Lai Xuân, huyện Thủy Nguyên
Thành phố Hải Phòng
Đã phát lộ hai bãi cọc hoàn toàn mới
Cao Quỳ và Đầm Thượng
Phát hiện này không chỉ bổ sung thêm một vài chấm nhỏ trên bản đồ
Nó rội một gáo nước lạnh vào các giả định cũ
Buộc giới nghiên cứu phải đặt lại câu hỏi
Có phải chúng ta đã quá lâu
Chỉ hình dung Bạch Đằng 1288
Như một trận quyết chiến diễn ra
Tại một điểm
Trong khi khảo cổ học đang gợi ý
Về một không gian chiến trường rộng lớn hơn nhiều
Bãi cọc Cao Quỳ
Những con số kỹ thuật gây kinh ngạc
Tháng 10 năm 2019
Trong quá trình đào đất trồng cây
Tại cánh đồng Cao Quỳ
Người dân địa phương vô tình phát hiện những đầu gỗ lớn
Nằm sâu dưới lòng đất
Viện khảo cổ học Việt Nam phối hợp với bảo tàng Hải Phòng
Lập tức tiến hành khai quật khẩn cấp
Kết quả khai quật trên diện tích gần một mét vuông
Tại Cao Quỳ đã ghi nhận
Số lượng
Phát hiện 27 cọc gỗ xuất lộ trực tiếp trong các hố khai quật
Kích thước kỷ lục
Khắc hoàn toàn với các cọc kích thước trung bình
Ở Yên Giang
Cọc tại Cao Quỳ có đường kính phổ biến từ 20 cầm đến 50 cầm
Đặc biệt có cọc đường kính lên tới 80cm
Chất liệu
Gồm các loại gỗ quý nhóm 1
Xến mù
Xến mật
Lìm
Xoay những thân cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm
Kỹ thuật ra cố chân cọc
Tại phần gốc cọc
Các nhà khảo cổ phát hiện một hiện tượng kỹ thuật chưa từng thấy ở Quảng Yên
Người xưa đã đầm nén đất xét
Lót các mảng gỗ xẻ
Cành cây và chèn đá xung quanh chân cọc
Để cố định những thân gỗ khổng lồ này trong tầng bùn lầy cổ
Hướng phân bố
Cọc được cắm theo hướng Bắc, Nam
Nhưng về phía Đông Nam hướng chảy
Của sông Đá Bạc đổ về sông Bạch Đằng
Chỉ một thời gian ngắn sau đó
Tại Bãi Đầm Thượng, xã Lại Xuân, Thủy Nguyên
Các nhà khảo cổ tiếp tục phát hiện
Thêm 37 cọc gỗ với đặc điểm kỹ thuật tương tự
Nằm dọc theo dải đầm lấy ven sông Đá Bạc
Để hiểu tại sao phát hiện cao quỳ
Lại tạo ra một bước ngoặt trong tư duy lịch sử
Phải nhìn vào vị trí của nó trên bản đồ Thủy Văn
Sông Đá Bạc là con sông chảy từ hướng Tây Bắc xuống
Đóng vai trò là luồng nước chính dẫn từ lục đầu gian
Phả lại ra biển
Trước khi hợp lưu vào sông Bạch Đằng
Sông Đá Bạc gặp sông Giá
Tại vùng Thủy Nguyên
Sông Giá
Một con sông nhỏ
Lòng sông hẹp nhưng nước sâu
Chảy luồn lách qua các dải núi đá vôi Thủy Nguyên
Sông Đá Bạc
Luồng sông rộng, lòng nước sâu
Là tuyến đường Thủy huyết mạch
Mà các tàu chiến tài trọng lớn của quân Nguyên
Bắt buộc phải đi qua nếu muốn ra biển
Bãi cọc cao quỳ
Nằm ngay tại điểm thắt ngỗng của sông Đá Bạc
Nơi dòng sông bị kẹp giữa
Dải núi đá vôi Thủy Nguyên
Và các bãi bổi ven sông
Sự xuất hiện của bãi cọc cao quỳ và đầm thượng
Đã châm ngòi cho những cuộc tranh luận
Gây gắt trong giới học thuật Việt Nam
Có 3 góc nhìn chính được đưa ra
Hương đề ai giải 1
Tầm Âu Gia Mạc Quắc Thị Hạp Chiên
Trường mời
Thay thay thư duy si cầu
Quan điểm
Trận đánh quyết định tiêu diệt hạp đội Âu Mã Nhi thực chất
Diễn ra tại khu vực Thủy Nguyên
Hải phòng nơi có bãi cọc cao quỳ với những cọc khổng lồ
Chứ không phải tại Quảng Yên, Quảng Ninh
Đánh giá mức độ chắc chắn
Yếu, thiếu cơ sở
Việc đề cao cao quỳ để phủ nhận hoàn toàn
Cụm bãi cọc Quảng Yên là một sự cực đoan
Cụm bãi cọc Yên Giang
Đồng vạn muối đã được chứng minh
Có niên đại thế kỷ 13
Và nằm ở vị trí cửa sông tranh chiến lược
Không thể lấy một phát hiện mới
Để xóa bỏ những bằng chứng vật chất
Đã được xác minh trước đó
Hương D.I.N.G.I.2
T.E.N.D.O.R.G
Nâng đường rút qua sông Giá
Quan điểm
Khi hạp đội quân Nguyên rút lui từ lục đầu giang xuống
Bãi cọc cao quỳ và đầm thượng được cắm ở sông Đá Bạc
Sông Giá nhằm khóa chặt cửa sông Giá
Êp toàn bộ hạp đội ô mã nhi
Phải dồn vào một luồng duy nhất là sông Đá Bạc
Để đi xuống hạ liu sông Bạch
Đằng nơi Cụm Yên Giang đang chở sẵn
Bằng chứng ủng hộ
Sông Giá có lòng sông Hẹp
Nếu thuyền Nguyên đi vào đây
Sẽ rất dễ bị phục kích từ hai bên bờ núi Đá Vôi
Cắm cọc ở cao quỳ đóng vai trò như một nêm khóa cửa
Tước đi quyền lựa chọn con đường thứ hai của quân Nguyên
Đánh giá mức độ chắc chắn
Có khả năng cao và hợp lý về logic quân sự
Hướng diễn giải 3
Hệ thống phòng ngự liên hoàn nhiều nấc
Từ Thượng Lưu xuống hạ liu
Quan điểm
Chiến dịch Bạch Đằng năm 1288
Không phải là một trận đánh tại một khúc sông
Mà là một tổ hợp chiến trường kéo dài hàng chục km
Cao quỳ
Đầm thượng ở Thủy Nguyên
Là nấc phòng ngự
Tiêu hào đầu tiên ở Thượng Lưu
Tại đây quân Trần giao chiến nổ súng đầu tiên
Làm suy yếu
Chia cắt đội hình hạm đội Nguyên
Trước khi dồn hạm đội địch đã bị tổn thất xuống
Cái bấy chính tại khu vực Yên Giang
Sông Chanh ở hạ lưu khi nước chiều bắt đầu rút kiệt
Bằng chứng ủng hộ
Giải thích được tại sao cọc Cao quỳ
Có đường kính cực lớn 20-80 cm
Cần thiết để ngăn chặn những chiến thuyền
Đi đầu nặng nhất của quân Nguyên
Ở luồng sông sâu đá bạc
Trong khi cọc ở Yên Giang
Và đồng vạn muối
Có đường kính nhỏ hơn 70-30 cm
Phù hợp để bẫy thuyền trên bãi bồi Ngập Triều
Đánh giá mức độ chắc chắn
Thuyết phục nhất dưới góc nhìn tổng thể chiến dịch
Sự phát hiện của bãi cọc Cao quỳ
Năm 2019
Gửi đến chúng ta một thông điệp quan trọng
Lịch sử không phải là một cuốn sách đã đóng lại
Những gì chúng ta biết
Về trận Bạch Đăng năm 1288
Chỉ là những mảnh ghép
Mà lòng đất đã vô tình hé lộ
Dưới những cánh đồng lúa của Hải Phòng, Quảng Ninh
Dưới những lớp địa tầng phù sa
Của sông Thái Bình và sông Bạch Đăng
Có thể vẫn còn những bãi cọc khác
Những mảnh vỡ tàu chiến khác đang nằm yên trong bóng tối
Và khi chúng ta tập hợp tất cả những mảnh ghép
Đã biết từ sự liệu
Địa hình, nhiên đại xe 14
Đến từng góc cắm nghiêng của cọc gỗ
Chúng ta sẽ rút ra được những kết luận cuối cùng nào
Về trận thủy chiến lịch sử này
Phần 8. Những chiếc cọc còn lại
Hành trình bóc tách các lớp địa tầng
Đo đạc từng góc cắm nghiêng
Đối xoát từng niên đại carbon 14
Và phân tích bản đồ Thủy Văn Cổ
Đã đưa cuộc điều tra MTS đến chặng cuối cùng
Sau hơn nửa thế kỷ khảo
Cổ học hiện đại can thiệp vào lòng sông Bạch Đăng
Chúng ta không còn phải nhìn trận chiến
Năm 1288 qua
Những hư hư thực thực của truyền thuyết
Những chiếc cọc gỗ lấy từ lòng đất đã cất lời
Nhưng nhiệm vụ của nhà điều tra
Là phải sòng phẳng phân định
Đâu là sự thật lịch sử đã được chứng minh
Đâu là giả thuyết có cơ sở
Và đâu là những khoảng trống mà khoa học
Vẫn chưa thể lấp đẩy
Bên dưới lớp vỏ gọt đéo thô sơ
Của những cây gỗ lim, táo, xến
Đã nằm sâu dưới bùn lầy hơn 700 năm
Là cả một chiết lý tác chiến mang tính thời đại
Người Đại Việt thời Trần không cố gắng
Chế tạo những con tàu chiến khổng lồ
Để đối đầu trực diện với sức mạnh vượt trội
Của hạng đội Nguyên mông trên vùng nước sâu
Họ chọn cách đổi quy luật chiến đấu
Bằng cách cắm cọc ở các bãi bồi cổ
Họ dùng chính biên độ thủy chiều
Khổng lồ của vùng cửa sông phễu
Để biến những chiến thuyền kêu hùng
Của địch thành những khối gỗ mắc kẹt bất động
Sự phân hóa vật liệu dùng gỗ lim cứng
Ở điểm chịu lực chính
Và dùng gỗ tạp địa phương
Ở các giái bãi bồi chứng minh
Một năng lực quản trị hậu cần kinh ngạc
Trong một thời gian chuẩn bị cực ngắn
Dưới áp lực của cuộc xâm lược
Nhà Trần đã huy động toàn dân
Tận dụng tối đa nguyên liệu tại chỗ
Để tạo ra một chứng ngại vật quy mô khổng lồ
Sự phát hiện của bãi cọc cao quỳ
Năm 2019
Là lời nhắc nhở sâu sắc rằng
Những cuốn sách lịch sử tốt nhất luôn
Là những cuốn sách chưa viết xong
Mỗi mũi khoan địa tầng mới
Mỗi phát lộ khảo cổ mới
Đều có thể làm phong phú thêm
Thậm chí định hình lại hiểu biết của chúng ta về quá khứ
Những chiếc cọc gỗ được khai quật ngày nay
Đã hoàn thành sứ mệnh của chúng trong quá khứ
Và giờ đây tiếp tục hoàn thành sứ mệnh thứ hai
Làm nhân chứng cho trí tuệ của một dân tộc
Nhưng bên dưới những dòng sông Yên Bình kia
Dưới những cánh đồng lúa xanh ngát
Của Hải Phòng và Quảng Ninh
Vẫn còn vô số những chiếc cọc khác
Đang chìm trong bóng tối yếm khí
Của tầng đất xét
Chúng vẫn nằm đó, ai am lặng và kiên nhẫn
Chờ đợi những thế hệ tương lai
Tiếp tục hành trình bóc tách để tìm kiếm câu trả lời
Đầy đủ nhất cho lịch sử
Bạch Đằng không chỉ là một con sông
Bạch Đằng là một hồ sơ mở của tri thức
Cảm ơn bạn đã đồng hành qua 8 phần điều tra
Chuyên sâu từ tư liệu, địa chất
C10-4 đến chiến thuật quân sự
