421.183 lượt xem2 ngày trước Công chiếu ngày 7 tháng 8 năm 2026 LUẬN ĐÀM THẾ SỰ Vì sao hai thiên tài tài học Vương Hồng và Đặng Dục đều phải rời Đại học Bắc Kinh trước khi leo lên đỉnh cao thế giới? Một người đã từng xem như “phế liệu”, GPA gần lớp và không ai chịu viết thư giới thiệu. Người còn lại là thần đồng Olympic nhưng vẫn quyết định bỏ Bắc Đại để hát MIT. Đằng sau hành trình đến giải Fields là 3 sự thật gây tranh cãi về giáo dục Trung Quốc, môi trường học thuật phương Tây và vai trò của những người thầy thực sự. Xem đến cuối cùng để hiểu vì sao thành công của họ lại Tạo dư luận Trung Quốc tranh luận xôn xao như vậy. ♥️ Donate Lê Minh qua Paypal: @luandamthesu / [email protected] ♥️ Cảm ơn bạn rất nhiều!
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
The video examines the paradoxical journeys of Fields Medalists Wang Hong and Deng Yu, who both had to leave Peking University to achieve greatness. Their stories serve as a critique of China's rigid, competition-driven education system, highlighting how a supportive, flexible academic environment is essential for nurturing true mathematical genius and intellectual independence.
Trong những ngày qua cả Trung Quốc sôn sao trước sự kiện,
hai nhà toán học trẻ Vương Hồng và Đặng Dục cùng lúc được trao giải FUSE,
danh hiệu cao quý nhất của toán học thế giới.
Mạng xã hội tràn ngập lời chúc tụng,
mọi ánh mắt đều đổ rồn về Đại học Bắc Kinh,
nơi cả hai từng học tập.
Thế nhưng, niềm vui ấy nhanh chóng bị che phủ bởi một nghịch lý.
Hai thiên tài ấy đều từng rứt áo ra đi từ Bắc Đại.
Người thì bị coi như phế liệu,
suốt bốn năm chỉ là cái bóng mờ nhạt trên dạng đường.
Người thì là thân đông được tuyển thẳng,
là con cưng của trường,
nhưng vẫn chọn bỏ học giữa trường.
Cả hai đều phải rời bỏ ngôi trường danh giá nhất Trung Quốc
mới tìm được con đường vươn tới đỉnh cao.
Vậy thì thành công rực rỡ này thuộc về ai?
Thuộc về Bắc Đại,
về hệ thống giáo dục Trung Quốc,
hay về một nền văn minh khác đã cho họ cơ hội thứ hai?
Câu chuyện hôm nay rất đáng để chúng ta suy ngẫm,
nhất là với những bậc cha mẹ đang quan tâm đến cả hai mô hình giáo dục Đông và Tây.
Bởi vì biết đâu,
con cái của bạn cũng chính là một vương hồng và đẳng dục tiếp theo.
Trước hết chúng ta hãy nói về vương hồng.
Cô sinh năm 1991 tại huyện Bình Lạc,
thành phố Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây.
Cha cô là giáo viên toán cấp 2 ở địa phương.
Vương hồng từ nhỏ đã bộc lộ tư chất thông minh.
Khi các bạn cùng lớp vẫn còn phải đếm ngón tay để làm toán,
thì cô đã có thể dơ tay trả lời rồi.
Vì vậy, ngay khi còn học tiểu học,
cô đã được đặt cách học vượt lớp trong hai năm liên tiếp.
Lên cấp 3,
vương hồng thi đỗ vào trường trung học Quế Lâm,
một trường trọng điểm của vùng.
Nơi đây cao thủ nhiều như lá mùa thu,
và vương hồng cũng không còn là gương mặt nổi bật nữa.
Thứ hạng của cô tụt xuống dưới top 100.
Năm 16 tuổi, cô thi đỗ vào Đại học Bắc Kinh
với điểm số 653 trên 750.
Điểm số này không đủ để vào khoa toán của Bắc Đại
và phải bị điều chuyển sang khoa khoa học trái đất và không gian.
Thế nhưng toán học lại là niềm mơ ước của cô,
và khoa trái đất và không gian chẳng khác nào rơi vào hố đen.
Vương hồng không muốn bỏ cuộc,
thế nên việc chuyển khoa đã trở thành mục tiêu số một của cô.
Suốt năm nhất đại học,
ở trường vương hồng vẫn lên lớp học các môn của khoa trái đất và không gian,
nhưng về nhà cô lại tự học toàn bộ các môn của khoa toán.
Sau năm 2, sau khi trải qua kỳ thi nội bộ của Bắc Đại,
cô mới có thể chuyển sang khoa toán như mong đợi.
Thế nhưng, những ngày tháng khổ cực mới chỉ bắt đầu.
Khi vương hồng bước vào khoa toán,
cô phát hiện ra các bạn cùng lớp toàn là những siêu sao.
Họ đều là cao thủ từng đạt huy chương vàng Olympic toán học.
Người bạn cùng lớp tên là Đặng Dục cũng vậy,
17 tuổi đã giành huy chương vàng Olympic quốc tế.
Ngồi giữa gian cao thủ,
một sinh viên bị điều chuyển ngành
và chưa từng tham gia bất kỳ kỳ thi học sinh giỏi nào như cô,
sẽ cảm thấy thế nào?
Dùng chính lời của vương hồng thì là
Chật vật đấu tranh, sống sót qua ngày đã là tốt lắm rồi.
Vương hồng kể rằng,
khi ấy, mỗi ngày đến phòng học đều giống như chịu cực hình vậy.
Những bài toán các bạn trong lớp chỉ cần liếc qua là giải xong,
thì cô phải ôm quyển sách nghiền ngẫm đến 2 giờ sáng mới làm được.
Dù vậy, bài tập nộp lên vẫn bị gạch dấu đỏ cả trang.
Những thuật ngữ truyền ngành mà các bạn trong lớp thốt ra,
cô đều chưa từng nghe qua,
muốn chen ngang nói một câu cũng không có cơ hội.
Có lần không chịu nổi được nữa,
cô trốn vào nhà vệ sinh ở tầng trên cùng của tòa nhà
và cứ thế khóc nước nở.
Khóc xong cô lấy nước lạnh rửa mặt,
rồi lại tiếp tục đến thư viện học bài.
Lần đầu tiên làm bài đạt được yêu cầu,
cô đã trân trọng cất giữ như bó vật cho đến tận bây giờ.
Sau 4 năm đại học,
điểm GPA của cô đứng cuối lớp
chỉ vừa đủ để tốt nghiệp ra trường.
Cô nộp đơn xin học cao học,
nhưng bị từ chối.
Nộp đơn làm nghiên cứu sinh tiến sĩ,
cũng bị từ chối.
Trong mắt bạn học,
Vương Hồng là cô gái có tính cách hướng nội,
còn trong mắt giảng viên,
cô không phải con nhà nòi,
cũng không phải sinh viên nổi bật nhất,
mà chỉ là một người vô hình mờ nhạt nơi giảng đường.
Sau này, Vương Hồng nghe nói
môi trường học thuật ở Pháp rất tự do.
Cô cũng mong muốn đi du học Pháp,
nhưng nộp đơn vào các trường nước ngoài
thì cần có thư giới thiệu.
Bạn có tin nổi không?
Vương Hồng đã ở khoa toán Bắc Đại hơn 3 năm trời,
vậy mà cô không thể tìm nổi một giảng viên nào
chấp nhận viết thư giới thiệu cho mình.
Trong lúc bối rối,
cô đành phải quay về khoa trái đất và không gian,
nơi cô chỉ học đúng năm nhất đại học
để xin thầy giáo cũ của mình giúp đỡ.
Đây chính là sự thật đầu tiên
mà người Trung Quốc sẽ không bao giờ nhìn thấy.
Một thiên tài sắp leo lên đỉnh cao
toán học thế giới,
sau 4 năm ở Bắc Đại,
lại bị coi là phế liệu bỏ đi.
Đặng Dục cũng nhận được giải thưởng
Fields như Vương Hồng,
nhưng câu chuyện của anh lại hoàn toàn trái ngược.
Đặng Dục sinh năm 1989
tại Thâm Quyến,
trong một gia đình toàn học bá.
Mẹ anh từng là thủ Khoa Kỳ
thi đại học ở Hà Nam,
còn cha anh là sinh viên xuất sắc
của Đại học Tôn Trung Sơn thời bấy giờ.
Trong dòng họ của anh có rất nhiều tiến sĩ.
Năm lớp 11, Đặng Dục giành huy chương vàng
Olympic toán quốc gia.
Năm 2006, khi mới 17 tuổi,
anh đại diện cho đội tuyển Trung Quốc
thi Olympic quốc tế
và tiếp tục đoạt huy chương vàng,
xếp thứ 6 thế giới.
Thầy giáo cấp 3 của Đặng Dục kể rằng
học sinh bình thường nếu có thể tập trung
được 30 phút đã là rất tốt rồi,
nhưng Đặng Dục thì suốt cả tiết học
45 phút mắt vẫn không hề lỡ đánh
dù chỉ một giây.
Năm 2007, nhờ tấm huy chương vàng,
Đặng Dục được tuyển thẳng
vào khoa toán của Bác Đại.
Xuất phát điểm là thần đồng,
có huy chương vàng bảo chứng,
lại được Bác Đại bồi dưỡng,
tương lai của anh vô cùng rộng mở.
Bởi anh chính là con cưng,
là niềm tự hào dân tộc
mà giới chức coi trọng nhất.
Thế nhưng vào năm 2009,
khi vừa học xong năm thứ 2,
Đặng Dục đã làm thủ tục thôi học Bác Đại
để chuyển sang học tại Viện Công nghệ Massachusetts,
MIT ở Mỹ.
Tại sao lại như vậy?
Khi một người bạn ở MIT hỏi anh điều này,
Đặng Dục chỉ trả lời
có lẽ là vì phong cảnh ở nơi khác đẹp hơn chăng?
Phong cảnh nào của Bác Đại không được như mong đợi?
Bạn hãy thử nghĩ xem.
Sau này, trong một bài phỏng vấn,
Đặng Dục cho biết không khí học tập
ở Bác Đại vẫn thiên về cài đề
và định hướng thi đấu.
Nhưng điều anh muốn lại là tìm ra diện mạo chân thực của toán học
thay vì bị nhào nặn trong các đấu trường học sinh giỏi.
Có thể thấy,
Vương Hồng và Đặng Dục
đã trải qua hai con đường hoàn toàn khác nhau.
Một người chật vật ở khoa toán,
cuối cùng đến cả thư giới thiệu cũng không xin nổi,
chỉ là một kẻ vô hình.
Còn một người thì sớm thành danh
nhận giải đến mỏi cả tay,
là đứa con cưng của xã hội.
Thế nhưng, dù thành công hay thất bại,
dù được ưu ái hay không,
cuối cùng họ lại đưa ra cùng một lựa chọn,
rời khỏi đại học danh tiếng nhất của Trung Quốc,
rời khỏi môi trường đại lục,
để tìm cơ hội thực sự cho mình.
Vậy thì sau khi rời Bác Đại,
Vương Hồng đã gặp được điều gì ở trời Tây
để bứt phá vươn lên,
con đặng dục đã trải qua những chuyện gì
khiến anh thay đổi.
Năm 2011, Vương Hồng mang theo thư giới thiệu sang Pháp.
Đầu tiên cô vào trường bách khoa Paris,
học lấy bằng kỹ sư,
sau đó vào đại học Paris Saclay
học thạc sĩ toán học.
Cô tưởng rằng chỉ cần sang một khoảng trời mới
là có thể thoát khỏi sự ngột ngạt.
Nhưng bạn đoán xem, sang đến Pháp,
nỗi tự ti mà cô từng trải qua suốt 4 năm
ở Bác Đại vẫn không hề biến bất.
Cô thậm chí đã từng có ý định
từ bỏ toán học.
Cô đang nghiêm túc cân nhắc đến việc
chuyển sang học kiến trúc,
thậm chí đã bắt đầu tập vẽ
và nghiên cứu các bản thiết kế.
Ngay vào thời điểm khi cô sắp trôn vùi tình yêu toán học
thì một thầy giáo người Pháp đã tiến lại gần cô.
Ông nói với Vương Hồng rằng
nếu em học không vào
thì có thể thả lỏng một chút,
hãy ra ngoài đi dạo,
đọc luận văn, nếu có bất kỳ vấn đề gì
em có thể đến tìm thầy bất cứ lúc nào.
Đây là lần đầu tiên Vương Hồng cảm nhận được
có một người thầy thực sự sẵn lòng giúp đỡ mình.
Suốt bốn năm ở Bắc Đại
cô chưa từng có cảm giác như vậy.
Nhưng chẳng phải việc giáo viên giúp đỡ học sinh
là điều thương tinh nhất, đáng làm nhất hay sao.
Chính sự ân cần ấy
đã giữ lại hạt giống toán học, suýt chút nữa
bị bỏ rơi này.
Ngay sau đó, chuyến thực tập tại Viện Công nghệ Massachusetts
MIT lại đưa Vương Hồng đến với
một người thầy khác, người thực sự mở ra
cánh cửa tương lai của cô,
giáo sư Larry Good.
Nếu bạn đến khoa toán của MIT
để tìm giáo sư Larry Good,
đừng nhìn vào những học giả mang phong thái lịch lãm
mặc complé thất cravat chỉnh tè.
Rất có thể bạn sẽ bắt gặp
ở một góc hành lang nào đó
một ông chú tóc tai bù xù,
đeo chiếc ba lô cũ đã phai màu,
ăn mặc chẳng khác nào vừa ra khỏi khu cắm trại
trong công viên. Ông chính là Larry Good,
một cao thù ẩn danh của giới học thuật.
Nhưng cũng đừng vì vẻ ngoài
bình dị mà coi thường ông.
Ông là bộ óc hàng đầu trong lĩnh vực
lý thuyết độ đo hình học
và phân tích Harmonic,
là giáo sư chính thức của khoa toán MIT.
Ông từng giành giải Salem, giải nghiên cứu Clay,
giải Bolcher
và là nhân vật hàng đầu thế giới
về nghiên cứu giả thuyết Kakeya.
Nói đến đây, chúng ta cần phải hiểu
giả thuyết Kakeya là gì,
bởi vì điều này liên quan chặt chẽ đến thành công của Vương Hồng.
Bây giờ bạn hãy lấy một chiếc bút trì,
đặt 5 phẳng trên mặt bàn.
Sau đó hãy xoay chiếc bút trì này một vòng,
theo bất kỳ hướng nào,
dù là trên mặt phẳng 2 chiều
hay các hướng khác nhau trong không gian 3 chiều,
miễn sao cho diện tích mà nó quét qua
là nhỏ nhất có thể.
Bạn có thể nghĩ,
thế thì tôi xoay một vòng quanh điểm chính giữa của bút trì,
quét thành một hình tròn là xong chứ gì?
Được thôi,
nhưng đó không phải là diện tích nhỏ nhất.
Năm 1917,
một nhà toán học Nhật Bản tên là Soichi Kakeya
đã vô cùng trăn trở về chuyện này.
Ông phát hiện ra rằng, nếu không xoay quanh tâm,
mà vừa xoay vừa di chuyển
giống như lùi xe vào chỗ đầu trong gà rà,
thì diện tích quét qua có thể còn thu nhỏ hơn nữa.
Ông cho rằng đáp án sấp sỉ
pi chia cho 8, và cho rằng
thế là đã đến giới hạn nhỏ nhất rồi.
Nhưng chỉ 2 năm sau,
nhà toán học người Nga Abram Besikovits
lại có phát hiện mới.
Ông cho rằng, chỉ cần cho phép
chiếc bút trì dịch chuyển không liên tục,
mỗi lần xoay một góc gần bằng không độ rồi di chuyển,
sau đó lại xoay một góc gần bằng không độ rồi lại di chuyển,
thì diện tích quét qua
có thể tiến dần về không.
Điều này hoàn toàn đi ngược lại
với trực giác, và đó
mới chỉ là trong không gian 2 chiều.
Nhưng nếu cộng thêm nhiều chiều không gian
nữa thì sao? Kết quả bài toán
sẽ thay đổi ra sao? Vấn đề này được
đưa ra lần đầu vào năm 1917,
từ đó đến nay, đã 108
năm trôi qua, nhưng chưa
một ai có thể chứng minh được.
Đây không phải là bài toán thi đại học,
mà là vấn đề mang tính khai phá.
Nó giống như lạc lối trong một khu rừng tối đen như mực,
có khi suốt 10 năm trời cũng không biết
liệu có tìm được lối ra hay không.
Giáo sư Larry Goode, chính là đại cao thủ
nghiên cứu về vấn đề này. Ông đã nhìn
chằm chằm vào bài toán này suốt 15 năm,
cho đến năm 2022,
ông từng cảm thấy tuyệt vọng đến mức không còn tin
rằng giả thuyết này có đúng nữa.
Cho nên, để chinh phục những vấn đề học bố
như vậy, thứ bạn cần là một người thầy
không dùng giá, không ép buộc, không hỏi bạn
năm nay đã xuất bản được mấy bài báo khoa học.
Thứ bạn cần là một
môi trường tự do cho phép bạn từ từ
tiến bước. Và đây chính là điều
mà giáo sư Larry Goode đã trao cho Vương Hồng.
Trong giới toán học,
có một thuật ngữ gọi là treo bảng.
Học sinh đứng trước bảng đen suy luận
công thức, nếu tư duy bị mắc kẹt
không giải tiếp được, thì họ đành đứng trôn trân
ở đó. Đây gần như là trải nghiệm
mà bất kỳ nhà toán học nào cũng từng trải qua.
Khi mới vào MIT, Vương Hồng
cũng nhiều lần bị treo bảng như vậy.
Tư duy của cô bay bổng trên mây,
có đôi khi nghe qua còn thấy vô lý.
Vậy Larry Goode đã làm thế nào?
Ông bưng tách cà phê,
không ngắt lời, không phủ nhận,
không nhìn đồng hồ, cũng không thở dài.
Ông chỉ mỉm cười chờ đợi,
chờ cô chút ra hết tất cả những ý tưởng lộn xộn
trong đầu, rồi sau đó mới cùng cô
từ từ gỡ dối.
Sau khi nhận được giải thưởng phiêu danh dự,
người mà Vương Hồng biết ơn nhất chính là giáo sư
Larry Goode. Cô nói
quan điểm của tôi và những người xung quanh không phải
lúc nào cũng giống nhau, nhưng thầy luôn lắng nghe
và cố gắng thấu hiểu quá trình suy nghĩ của tôi.
Điều này đã giúp tôi xây dựng niềm tin
vào bản thân mình.
Bạn phải biết rằng, đối với một người đang mò mẫm
trong khu rừng tối đen, không nhìn thấy lối ra
ở đâu, thậm chí còn không biết liệu
có lối ra hay không, thì niềm tin
không chỉ giúp họ xua tan mây mù,
mà còn là động lực để họ có thể kiên trì
bước từng bước tiếp theo.
Suốt 5 năm qua, Vương Hồng đã nhận được
sự tin tưởng và sự kiên nhẫn chờ đợi như thế.
Năm 2025, bài luận văn dài
127 trang của cô được công bố
đã làm chấn động giới học thuật,
bởi nó chứng minh thành công giả thuyết KKA
trong không gian 3 triệu.
Sang năm sau, cô được trao giải FUSE,
giải thưởng danh giá nhất của toán học.
Sau khi Vương Hồng nhận giải FUSE,
cô đã có buổi thuyết trình dài 45 phút
tại Hội nghị các nhà toán học quốc tế.
Toàn bộ hội trường chật kín người,
đông đến mức ghế của người dẫn chương trình
cũng phải nhường lại cho khán giả.
Giáo sư Larry Guth, là người thầy hướng dẫn
của Vương Hồng, theo lý mà nói, ông là người
có đủ tư cách nhất để ngồi ở vị trí trung tâm.
Thế nhưng vì hội trường quá đông,
ông đã đeo chiếc cặp sách cũ kỹ của mình trên lưng,
ghé sát vào cửa kính bên ngoài hội trường,
mìm cười như một người cha già,
đứng nghe suốt 45 phút.
Hình ảnh ấy chỉ sau một đêm
đã lan truyền khắp không gian mạng.
Đây không phải là mối quan hệ thầy cho trong suy nghĩ của chúng ta.
Ở Trung Quốc hiện nay,
thầy hướng dẫn là người quyền lực nhất,
còn sinh viên là người phụ thuộc,
thậm chí là công cụ để mang lại danh lợi cho thầy.
Sinh viên xuất bản được bài báo khoa học nặng ký,
thì thầy hướng dẫn sẽ đứng tên tác giả thứ nhất.
Sinh viên đạt giải thưởng lớn
thì thầy hướng dẫn sẽ đứng chính giữa khán đài
để nhận trang pháo tay cạ ngợi.
Điều đó thể hiện một kiểu tư duy rất Trung Quốc,
trò là môn sinh của ta,
trò là công trạng của ta.
Thế nhưng ở Larry Good, bạn không nhìn thấy
dù chỉ một chút đòi hỏi nào.
Giữa ông và Vương Hồng không phải là mối quan hệ
của bề trên với bề dưới,
mà là sự va trạm giữa hai tâm hồn bình đẳng
trước những bài toán khó của nhân loại.
Khi Vương Hồng đứng trên bục phát biểu,
trong ánh mắt của Larry Good có sự ấm áp
của một người thầy, cũng có niềm tự hào
xuất phát từ tận đáy lòng của một người cha.
Khoảnh khắc ông ghé vào cửa sổ nhìn Vương Hồng
giống hẹt như một vị cao niên nhìn thấy
đứa trẻ cuối cùng đã tung cánh bay cao.
Thầy từng đồng hành cùng trò đi qua
một đoạn đường trong bóng tối.
Giờ đây trò bay về phía biển sao trời rộng,
đó là khoảng trời thuộc về trò.
Con thầy chỉ cần ở phương xa lặng lẽ chúc mừng.
Đây là một thứ văn minh,
một thứ văn minh không coi con người là công cụ,
không coi sinh viên là tài sản,
một thứ văn minh quay trở về
với sự tôn trọng đối với chính bản thân mỗi người.
Đây là nền tảng văn hóa của phương Tây,
là thứ mà Trung Quốc
không thể có được.
Chính nền văn minh này đã giúp một cô gái
bị coi là phế liệu trong nước,
lại có thể đứng thẳng lưng trở lại,
để rồi cuối cùng vươn tới đỉnh cao thế giới.
Và dòng nước mắt lành của nền văn minh ấy
không chỉ mang lại cơ hội cho Vương Hồng,
mà còn là bước ngoặt thay đổi
cho người bạn cùng khoa của cô,
đó là Đặng Dục.
Năm 2009, Đặng Dục bước chân vào MIT.
Sáng năm thứ hai, anh đã giành được danh hiệu
cao nhất tại cuộc thi toán học
William Lowell Putnam.
Năm 2011, anh tốt nghiệp MIT,
vào đại học Princeton,
và được giáo sư Alexandru Ionescu,
viện sĩ Viện Hàn Lâm khoa học trực tiếp hướng dẫn.
Nếu bạn tìm hiểu phong cách nghiên cứu
của giáo sư Alexandru Ionescu,
bạn sẽ phát hiện ông và Larry Gerd
có phong cách rất giống nhau.
Cả hai đều rất khắt khe
đối với các chi tiết chứng minh toán học,
nhưng lại hầu như không hề giới hạn sinh viên của mình
trong bất kỳ chiếc khung hạn hẹp nào.
Ông am hiểu rất nhiều lĩnh vực,
và ông cho phép sinh viên của mình cũng vậy,
được tự do khám phá mọi điều.
Trong mảnh đất màu mỡ như vậy,
Đặng Dục cũng từng trải qua quãng thời gian mơ hồ.
Sau này, chính anh tự thừa nhận rằng
trong thời gian làm tiến sĩ,
anh phát hiện ra các công cụ toán học
vẫn còn quá ít ỏi.
Anh bạn chuyển sang một vấn đề khác,
nhưng những vấn đề đó lại không thú được anh,
và anh bắt đầu cảm thấy chán nản.
Thầy hướng dất Ionescu đã làm gì?
Ông để mặc cho Đặng Dục đắm mình
trong sự vô định đó, để anh nhảy qua
nhảy lại giữa các vấn đề khác nhau,
để anh tự đi tìm đề tài thực sự
có thể làm anh say mê, khiến anh sẵn sàng
đem cả cuộc đời ra đánh cược.
Lại một lần nữa, chính việc cho phép được
từ từ tiến bước mới là chiếc chìa khóa
đưa Đặng Dục đến thành công.
Trải qua vài năm tìm tòi không mục đích,
Đặng Dục cuối cùng đã đợi được
đến bước ngoặt của mình.
Vào một buổi trưa mùa thu năm 2021,
khi vẫn đang làm học giả thỉnh giảng
tại Đại học Brown, Đặng Dục
thưởng thức bữa trưa bằng một suất gà chiên
Hàn Quốc. Lúc ấy, đột nhiên
trong đầu anh lóe sáng, anh đã tranh thủ
thời gian bữa trưa để vẽ ra phác thảo
khung sơ đồ cho toàn bộ logic chứng minh của mình.
Bữa trưa gà chiên hôm ấy
đã biến thành bài luận văn dài hơn
200 trang, chinh phục thành công
bài toán thứ sáu trong chuỗi
23 bài toán nổi tiếng do Hubert
đưa ra vào năm 1900.
Một bài toán đã làm đau đầu các nhà
toán học suốt 125 năm qua.
Nói đến đây,
chúng ta hãy cùng nhìn lại quý đạo của Vương Hồng và Đặng Dục.
Vương Hồng, một cô gái
xuất thân bình thường, mang trong mình giấc mơ
toán học. Nhưng ở Bắc Đại, cô
không những không có đất diễn, mà ngược lại
còn nản lòng thoái trí, phải bỏ đi
tìm cơ hội ở xứ người.
Trải qua những khó khăn ban đầu, cuối cùng
dưới ánh sáng của môi trường tự do học thuật phương Tây
cùng với sự nâng đỡ của một người thầy
luôn lặng lẽ ủng hộ phía sau,
cô đã từng bước tiến lên đỉnh cao tri thức.
Còn Đặng Dục, từ nhỏ
đã là thần đồng toán học, đã nhiều lần
giành huy chân vàng các kỳ thi Olympic
được tuyển thẳng vào Bắc Đại, nhưng sau đó
lại kiên quyết bỏ học để sang MIT.
Cũng trong môi trường tự do, cho phép anh
được thử sai để tự tìm hướng đi.
Anh đã tìm thấy lĩnh vực mà bản thân đam mê nhất
Vậy tại sao câu chuyện của Vương Hồng
và Đặng Dục lại gây ra cuộc tranh cãi
dữ dội đến thế trên mạng xã hội Trung Quốc?
Bởi vì tâm điểm của cuộc tranh luận
chỉ là một câu hỏi. Hào quang này
nên thuộc về ai? Là Bắc Đại?
Là hệ thống giáo dục Trung Quốc?
Là môi trường học thuật phương Tây?
Hay là người thầy hướng dẫn của riêng mỗi người?
Nếu đây là câu hỏi có thể chọn
nhiều đáp án, bạn sẽ chọn thế nào?
Bạn cảm thấy ai là người đáng được
vinh dành nhất? Trước Vương Hồng
và Đặng Dục, chỉ có duy nhất một người
gốc hoa từng đoạt giải Fields
đó là giáo sư Khâu Thành Đồng.
Giáo sư Khâu từng nói những lời rất nặng nề
về giáo dục Trung Quốc, câu nào cũng đều
thấu tim gàn. Giáo sư Khâu nói
Giáo dục Trung Quốc giống như
siêu nhà máy. Mỗi năm cung cấp
cho đất nước một lượng lớn nhân lực
nhưng những nhân lực này hầu như đều đúc ra
từ một khuôn, bởi vì họ được bồi dưỡng
theo một tiêu chuẩn thống nhất.
Không còn nói thêm, nên giáo dục
ứng thí trong nước khiến tôi vô cùng bảng hoảng.
Học sinh đi học là vì kỳ thi
chứ không phải vì đam mê. Đây mới là
vấn đề lớn nhất. Trong một thời gian
dài, việc bồi dưỡng nhân tài toán học
của Trung Quốc bị trói buộc với các loại
kỳ thi học sinh giỏi. Người ta chỉ
trú trọng các lớp luyện thi, các
ký xảo giải đề và các cách
suy luận theo khuôn mẫu. Điều này
đã đem lại tác động cực kỳ tiêu cực cho việc
bồi dưỡng nhân tài. Hồi đầu
năm nay, Viện Cầu Trân thuộc Đại học
Thanh Hoa do chính giáo sư Khâu chủ trì
đã tuyển một đợt sinh viên lớp dự bị.
Tất cả đều là những cao thủ toán học
từng mỏi tay giật giải trong các kỳ thi học sinh
giỏi. Nhưng kết quả thì sao?
Phần lớn họ đều trượt trong bài thi cuối kỳ
các môn truyền ảnh. Thậm chí, có những
sinh viên còn bị điểm liệt. Bạn
xem đấy, những học sinh giỏi nhất
ở Trung Quốc khi bước chân vào học viện
toán học tốt nhất lại không thể vượt qua
một kỳ thi. Chẳng phải đó là điều
rất đáng để chúng ta dừng lại và suy ngẫm hay sao?
Từ hành trình của Vương Hồng và Đặng Dục
sự kiên nhẫn và lòng tin.
Một cô gái từng bị coi là phế liệu
ở Bắc Đại đã trở thành nhà toán học
xuất trúng của thế giới nhờ một người thầy luôn
sẵn sàng lắng nghe. Một thân đông
từng là niềm tự hào dân tộc lại
phải rời bỏ môi trường quen thuộc để tìm
thấy chính mình trong môi trường cho phép được
tự do lang thang tìm tòi. Cả hai
đều phải rời Trung Quốc mới có thể tỏa sáng.
Đó không phải là vinh quang của Bắc Đại,
cũng không phải là chiến thắng của hệ thống
giáo dục ứng thí.
Đó là một cái tát mạnh và khuôn mặt của nền
giáo dục chỉ biết sàng lọc, thi đua
và sản xuất nhân tài đồng nhất. Nó nhắc
nhờ chúng ta rằng giáo dục chân chính
không phải là biến con người thành công cụ,
mà là cho phép mỗi cá nhân được cháy hết
mình với đam mê của chính họ.
Khi một nền giáo dục không còn chỗ cho những
tâm hồn khác biệt, cho những con đường
chậm nhưng sâu, cho những câu hỏi có vẻ
ngu ngốc và những khoảng lạng suy tư,
thì nó đang tự tay dập tắt chính những
ngọn lửa mãnh liệt nhất của mình.
Câu chuyện của Vương Hồng và Đặng Dục
cho chúng ta thấy, một nền giáo dục
chân chính là nền giáo dục biết tôn trọng
con người, biết kiên nhẫn với sự khác biệt
và dám trao cho mỗi người cơ hội
được lại chính mình. Nếu không,
biết bao Vương Hồng và Đặng Dục khác sẽ còn tiếp tục
ra đi, hoặc tệ hơn,
bị dập tắt ngay từ khi vẫn còn là tia lửa nhỏ.
Đến đây, những chia sẻ của chúng tôi
cũng xin phép được tạm dừng. Cảm ơn
sự quan tâm của quý vị. Nếu có bất kỳ
góp ý nào, xin hãy để lại bình luận ở phần dưới.
Xin chào và hẹn gặp lại.